Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18-3-2025

V/v: “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Xuân Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Thành.
  2. Bà Đỗ Thị A.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Trúc Ly – Là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Lê Mỹ Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 453/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 26/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Phạm Kiều T, sinh năm 1992 (xin vắng mặt).
  • - Bị đơn: Ông Lương Gia K, sinh năm 1996 (vắng mặt).
  • Cùng địa chỉ: 4 đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai của nguyên đơn thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2022 bà Phạm Kiều T và ông Lương Gia K tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình chung sống, do bất đồng về quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn tranh cãi gay gắt và không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Do mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T khởi kiện ly hôn với ông K.

Về con chung: Bà T và ông K có 01 người con chung là Lương Phạm Gia H, sinh ngày 01/11/2022. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà T khai không có.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu ý kiến:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm hiện nay, thấy rằng Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là vi phạm khoản 5, khoản 11 Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn vắng mặt đến lần thứ 2 mà không có lý do, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Phạm Kiều T khởi kiện ly hôn với ông Lương Gia K, đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Lương Gia K cư trú tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lương Gia K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án nhưng ông K không cung cấp chứng cứ, không đến Tòa án làm bản khai để phản bác yêu cầu của nguyên đơn, từ bỏ quyền lợi hợp pháp của mình, do đó Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án. Mặt khác ông K vắng mặt tại phiên hòa giải, bà Tiên đề N không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hoà giải được vụ án. Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn ông Lương Gia K vắng mặt

đến lần thứ 2 mà không có lý do và nguyên đơn bà Phạm Kiều T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 71, ngày 21/6/2022 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông K là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Kiều T trình bày, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn tranh cãi nhau gay gắt. Mặc dù, bà đã cố gắng hàn gắn nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện, mâu thuẫn vợ chồng vẫn rất gay gắt. Bị đơn ông Lương Gia K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Toà, không cung cấp lời khai, tham gia hòa giải, qua đó cho thấy ông K cũng không thiết tha đến việc hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông K đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu có tiếp tục duy trì thì cuộc hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do vậy, yêu cầu ly hôn của bà T là có căn cứ, phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử cần chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông K.

[2.2] Về con chung: Căn cứ vào Giấy khai sinh số 949/TLKS-BS ngày 13/12/2022 của Ủy ban nhân dân xã P, thành phố R, tỉnh Kiên Giang cho thấy bà Phạm Kiều T và ông Lương Gia K có 01 người con chung là Lương Phạm Gia H, sinh ngày 01/11/2022 (giới tính nữ). Nay ly hôn, bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Xét thấy, bị đơn ông Lương Gia K vắng mặt, không nêu yêu cầu tranh chấp việc nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu để bà Phạm Kiều T được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Lương Phạm Gia H. Do bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung: Bà Phạm Kiều T không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Sau này nếu các đương sự có phát sinh tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

[2.4] Về nợ chung: Bà Phạm Kiều T khai khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Bà Phạm Kiều T là nguyên đơn khởi kiện ly hôn, nên phải chịu án phí 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Kiều T được ly hôn với ông Lương Gia K.
  • - Về con chung: Giao trẻ Lương Phạm Gia H, sinh ngày 01/11/2022 cho bà Phạm Kiều T trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Phạm Kiều T không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ông Lương Gia K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.

Vì quyền lợi về mọi mặt của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

  • - Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Bà Phạm Kiều T khai không có nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Phạm Kiều T chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0020748 ngày 21/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Phạm Kiều T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Q.10;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Chi cục THADS Q.10;
  • - UBND xã An Nhơn Tây,
  • (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Xuân Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 116/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger