Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ VANG

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12/6/2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Thu
  2. Bà Lê Thị Mẫn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vy- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, thành phố Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hải- Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, thành phố H (Số B Đường H, thị trấn P, huyện P, thành phố H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 81/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn B, xã V, huyện P, thành phố H. Có mặt.

Bị đơn: Ông Phan T, sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn B, xã V, huyện P, thành phố H. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị H trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị H và ông Phan T quen biết nhau thông qua sự giới thiệu của hai bên gia đình, sau một thời gian tìm hiểu nhau thì kết hôn, đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện P, thành phố H ngày 07/12/2006. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian tại Thôn B, xã V, huyện P, thành phố H thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vã, xúc phạm lẫn nhau. Vợ chồng sống ly thân từ 2022 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H xin được ly hôn với ông T.

- Về con chung: Bà Phạm Thị H khai vợ chồng có 02 con chung là cháu Phan Thành T1, sinh ngày 17/01/2008 và cháu Phan Hà Tự L, sinh ngày 08/02/2009, hiện ở cùng với bà H. Bà H có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 2 cháu đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà Phạm Thị H khai không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Phạm Thị H khai không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản trình bày ý kiến ngày 12/6/2025, bị đơn ông Phan T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: ông Phan T và bà Phạm Thị H tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 07/12/2006 tại UBND xã V, huyện P, thành phố H. Vợ chồng chung sống được một thời gian tại Thôn B, xã V, huyện P thì xảy ra gây gổ, cải vã, ly thân đã được khoảng 03 năm. Nay bà H xin ly hôn thì ông T đồng ý, đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn.

- Về con chung: ông Phan T khai vợ chồng có 02 con chung là cháu Phan Thành T1, sinh ngày 17/01/2008 và cháu Phan Hà Tự L, sinh ngày 08/02/2009, hiện ở cùng với bà H. Ông T đồng ý để cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 2 cháu đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Ông T hiện tại không có khả năng cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Ông Phan T khai vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án tiến hành xác minh tại Trưởng thôn 2, xã V huyện P; Chính quyền xã V; bà Hồ Thị T2 là chị dâu của bà H; ông Phan S, bà Lê Thị L1 là bố mẹ ruột của ông Phan T, đều xác nhận vợ chồng bà Phạm Thị H, ông Phan T mâu thuẫn đã lâu, nguyên nhân do làm ăn thất bát, bà H và hai con hiện tại đã chuyển về sinh sống tại nhà bố mẹ ruột (đã mất), còn ông Phan T thì ở cùng với ông Phan S và bà Lê Thị L1.

Quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã nhiều lần gửi giấy triệu tập cũng như Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cho bà Phạm Thị H và ông Phan T, tuy nhiên ông Phan T vẫn vắng mặt nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 23/5/2025. Đến ngày 12/6/2025 trước thời điểm xét xử ông T mới đến Tòa án đề trình bày ý kiến đồng thời có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đều chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không có kiến nghị gì cần khắc phục. Nguyên đơn có mặt, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị H, cho bà H được ly hôn ông T. Về con chung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 2 cháu Phan Thành T1, sinh ngày 17/01/2008 và cháu Phan Hà Tự L, sinh ngày 08/02/2009 đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu. Về tài sản chung, nợ chung: Bà H và ông T khai không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Buộc bà H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Phan T có hộ khẩu thường trú tại: Thôn B, xã V, huyện P, thành phố H nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, thành phố H theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Phan T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị H và ông Phan T chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam nên là hôn nhân hợp pháp.

Xét về yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị H, thấy rằng: Theo kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ, lời khai của bà H, ông T, có cơ sở xác định nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn hạnh phúc, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, vợ chồng sống ly thân một thời gian dài. Quá trình giải quyết, ông T cũng đồng ý ly hôn bà H. Nhận thấy vợ chồng bà H, ông T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Phạm Thị H được ly hôn với ông Phan T là đúng quy định pháp luật.

[3] Về con chung: Bà Phạm Thị H, ông Phan T khai vợ chồng có 02 người con chung là cháu Phan Thành T1, sinh ngày 17/01/2008 và cháu Phan Hà Tự L, sinh ngày 08/02/2009. Hiện nay đang ở cùng bà H. Xét thấy nguyện vọng của hai cháu đều muốn ở với mẹ, bản thân ông T cũng đồng ý giao hai con cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của hai cháu, cần giao cho bà Phạm Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phan Thành T1 và cháu Phan Hà Tự L cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi là phù hợp pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Quá trình giải quyết, Tòa án đã giải thích cho bà H rõ về các quy định của Luật hôn nhân gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Tuy nhiên, bà H không yêu cầu và ông T khai không có điều kiện cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị H và ông Phan T khai không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Phạm Thị H chịu án phí ly hôn 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị H, xử cho bà Phạm Thị H được ly hôn ông Phan T; quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao hai cháu Phan Thành T1, sinh ngày 17/01/2008 và cháu Phan Hà Tự L, sinh ngày 08/02/2009 cho bà Phạm Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu. Hiện nay cháu T1 và cháu L đang ở cùng bà H. Ông Phan T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị H, ông Phan T không yêu cầu Tòa án không giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí sơ thẩm: Bà Phạm Thị H phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng; được khấu trừ hết số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí 0002625 ngày 11/4/2025.

5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Huế;
  • - VKSND huyện Phú Vang;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Vang;
  • - UBND xã Vinh An;
  • (ĐKKH số 071 ngày 07/12/2006);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA;
  • - Lưu án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Thúy Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 116/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đơn phương
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger