|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 116/2025/DSST Ngày: 16/6/2025 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất và xác định ranh giới |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Trọng Điệp
- Bà Lương Thị Phương
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ba Đình;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mai Phương- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 317/2024/TB-TLVA ngày 01 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và xác định mốc giới” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2025/QĐST - DS ngày 19 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2025/QĐST-HPT ngày 02 tháng 6 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị L; sinh năm 1934; ĐKHKTT và nơi ở: Số nhà E ngõ N, phường K, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hà N, sinh năm 1975; ĐKHKTT và nơi ở: Số E, ngõ N, phường K, quận B, thành phố Hà Nội. (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu V, sinh năm 1952; ĐKHKTT và nơi ở: Số nhà B, ngõ A tổ A N phường K, quận B, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị P, sinh năm 1955; ĐKHKTT và nơi ở: số A P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hà N. (Bà P có mặt)
- Ông Trần Hà N, sinh năm 1975; Bà Nguyễn Khánh V1, sinh năm 1977; Anh Trần Quốc Đ, sinh năm 2006; Chị Trần Thu H, sinh năm 2011; Cùng trú tại: Số E, ngõ N, phường K, quận B, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hà N. (Có mặt)
- Bà Bùi Thị H1, sinh năm 1958; Anh Nguyễn Hữu C, sinh năm 1981; Chị Hoàng Thị P1, sinh năm 1983; Cháu Nguyễn Trà M, sinh năm 2010; Cháu Nguyễn Hoàng G, sinh năm 2012; Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1979; Cháu Vương Minh A, sinh năm 2007; Cháu Vương Duy A1, sinh năm 2009; Cùng trú tại địa chỉ số B ngõ A tổ A N, phường K, quận B, thành phố Hà Nội (Nay là tổ D N, phường K). (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn trình bày:
Bà Phạm Thị L là chủ sở hữu, sử dụng thửa đất số 71, tờ bản đồ số 7G-VI-I, diện tích khoảng 97 m² tại địa chỉ: số E ngõ N, phường K, quận B, thành phố Hà Nội. Thửa đất hiện chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Về nguồn gốc: Thửa đất có nguồn gốc của ông Trần Công N1 (đã chết) và bà Phạm Thị L mua đất hoa màu của bà Nguyễn Thị C1. Việc mua bán được lập bằng văn bản giấy viết tay ngày 02/6/1976. Sau khi mua, gia đình bà L liên tục quản lý sử dụng thửa đất trên không có tranh chấp về việc mua bán với gia đình bà Nguyễn Thị C1. Quá trình sử dụng có kê khai nộp thuế đất với Nhà nước và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế.
Thửa đất của gia đình ông Nguyễn Hữu V tiếp giáp với thửa đất của gia đình bà Phạm Thị L có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của ông C khoảng năm 1995, hiện nay đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Năm 1995 do nhà dột nát, mối xông có nguy cơ sụp đổ nên ông Trần Công N1 có làm đơn xin phép xây dựng và xin phép sửa lại nhà đất. Tại đơn xin phép xây dựng có sự đồng ý của các hộ gia đình liền kề trong đó có hộ ông Nguyễn Hữu V. Sau khi sửa chữa thì gia đình ông Trần Công N1, bà Phạm Thị L sử dụng ngôi nhà cho đến nay mà không thay đổi hiện trạng. Năm 1995 sau khi gia đình xây dựng sửa chữa nhà, thửa đất không vuông vắn nên khi xây dựng có thừa ra 1 phần đất nhỏ khoảng 7m² giáp với thửa đất của ông Nguyễn Hữu V và không sử dụng đến. Khi đó đất nhà ông V chật chội nên ông V đã hỏi mượn phần diện tích trống khoảng 7m² của gia đình ông N1 bà L để sử dụng cho rộng rãi và được ông N1 đồng ý.
Năm 1996, ông Trần Công N1 và ông Nguyễn Hữu V có lập 1 giấy thỏa thuận viết tay, có chữ ký của hai ông với nội dung thỏa thuận: gia đình ông N1 đồng ý để gia đình ông V sử dụng diện tích đất hông nhà ông N1, sau nhà ông V (đất giáp ranh với nhà bà L1) để thông thoáng, nhà ông V bớt khó khăn. Gia đình ông V không được xây dựng làm ảnh hưởng các nhà xung quanh. Do lúc đó nhận thức chưa tốt nên ông Trần Công N1 lập giấy thỏa thuận đã không ghi rõ con số 7m² cho ông Nguyễn Hữu V mượn. Cũng vì tin tưởng mà không biết chính xác tên họ ông V vẫn để ông V kí tên Nguyễn Đức V2 vào giấy thỏa thuận. Sau này do phường có mời hai gia đình lên hòa giải thì mới thấy trong biên bản hòa giải ngày 17/12/2020 ghi tên Nguyễn Hữu V nên mới biết.
Nay ông Trần Công N1 đã chết, gia đình bà L làm hồ sơ kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với thửa đất số 71, tờ bản đồ số 7G-VI-I, diện tích khoảng 97 m² tại địa chỉ: số E ngõ N, phường K, quận B, thành phố Hà Nội thì gia đình ông V không đồng ý trả lại phần diện tích đã mượn và hai gia đình không xác định được ranh giới, mốc giới đo đạc để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở.
Sự việc đã được hòa giải tại UBND phường K nhưng không thống nhất được, vì vậy bà Phạm Thị L đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết buộc ông Nguyễn Hữu V trả lại phần diện tích đã mượn khoảng 7m² đất và đề nghị xác định đúng ranh giới sử dụng đất giữa gia đình bà L và gia đình ông V để gia đình bà L có căn cứ làm thủ tục kê khai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở.
* Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Hữu V trình bày:
Gia đình ông Nguyễn Hữu V đang sinh sống tại địa chỉ số B ngõ A N, phường K, quận B, thành phố Hà Nội. Phía trước cửa nhà nhìn ra ngõ A N. Phía bên phải nhà tiếp giáp với nhà bà Phạm Thị L, ông Trần Công N1. Phía bên trái nhà tiếp giáp với nhà bà Nông Thúy L1. Bà L1 đã bán nhà cho ai thì ông V không biết. Phía sau nhà giáp với cơ quan khác mà ông V không biết.
Theo đơn khởi kiện của bà Phạm Thị L đòi 7m² tiếp giáp giữa nhà bà L với nhà ông V. Ông V không đồng ý vì phần diện tích này là của bà Nông Thúy L1 (đã chết) chuyển nhượng lại cho gia đình ông V.
Đối với giấy thỏa thuận ngày 13 tháng 3 năm 1996 thỏa thuận giữa đại diện gia đình ông Trần Công N1 và ông Nguyễn Hữu V như nội dung có trong giấy thỏa thuận nhưng không có ý nghĩa. Nguồn gốc 7m² đất gia đình ông Nguyễn Hữu V nhận chuyển nhượng từ bà Nông Thúy L1 vào năm 1995 có văn bản nhưng ông Nguyễn Hữu V chỉ nộp bản photo cho Tòa án.
Toàn bộ phần diện tích 7m² đất nhận chuyển nhượng từ bà Nông Thúy L1, gia đình ông Nguyễn Hữu V đang sử dụng làm bếp và công trình vệ sinh.
Ông Nguyễn Hữu V không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông V trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị P; Ông Trần Hà N; Bà Nguyễn Khánh V1; Anh Trần Quốc Đ; Chị Trần Thu H do người đại diện theo ủy quyền thống nhất trình bày đúng như ý kiến của bà L.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị H1 trình bày: bà H1 đồng ý với ý kiến của chồng bà là ông Nguyễn Hữu V.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hữu C, Chị Hoàng Thị P1; Cháu Nguyễn Trà M; Cháu Nguyễn Hoàng G; Chị Nguyễn Thị H2; Cháu Vương Minh A; Cháu Vương Duy A1 không đến Tòa án làm việc và không có bản tự khai.
*Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Nguyễn Hữu V trả lại phần diện tích đã mượn khoảng 7m² đất vì gia đình ông V đang sử dụng. Nguyên đơn đề nghị Tòa án xác định đúng ranh giới quyền sử dụng đất giữa gia đình bà Phạm Thị L và gia đình ông Nguyễn Hữu V để gia đình bà L có căn cứ làm thủ tục kê khai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở.
- Bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gia đình ông Nguyễn Hữu V vắng mặt tại phiên tòa.
- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gia đình bà Phạm Thị L đồng ý với ý kiến của nguyên đơn.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Sau khi phân tích vụ án, đại diện Viện kiểm sát căn cứ quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử: Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Nguyễn Hữu V trả lại phần diện tích đã mượn khoảng 7m² đất. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xác định đúng ranh giới quyền sử dụng đất giữa gia đình bà Phạm Thị L và gia đình ông Nguyễn Hữu V.
Về án phí: Bà Phạm Thị L là người cao tuổi có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bà L được miễn nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết qủa tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn bà Phạm Thị L khởi kiện bị đơn ông Nguyễn Hữu V về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất: đòi 07m² đất và yêu cầu xác định mốc giới đất.
Xét thấy: 02 thửa đất của gia đình bà Phạm Thị L và gia đình ông Nguyễn Hữu V cùng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên yêu cầu khởi kiện của bà L về việc đòi lại diện tích 7m² đất được xác định là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Bà Phạm Thị L yêu cầu xác định mốc giới thửa đất của gia đình bà Phạm Thị L và gia đình ông Nguyễn Hữu V đang sử dụng, thực chất là xác định ranh giới giữa các bất động sản liền kề. Yêu cầu này của bà Phạm Thị L được xác định là “Tranh chấp quyền sử dụng đất về ranh giới đất”.
Bị đơn ông Nguyễn Hữu V có địa chỉ thường trú tại địa chỉ: Số nhà B, ngõ A Tổ A N, phường K, quận B, thành phố Hà Nội. Theo quy định khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Ba Đình và quan hệ pháp luật vụ án là “ Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp về ranh giới đất”.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị L xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Nguyễn Hữu V trả lại phần diện tích đã mượn khoảng 7m² đất. Việc rút đơn là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 71; khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự để đình chỉ yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn bà Phạm Thị L.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đề nghị Tòa án xác định đúng ranh giới quyền sử dụng đất giữa gia đình bà Phạm Thị L và gia đình ông Nguyễn Hữu V để gia đình bà L có căn cứ làm thủ tục kê khai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở.
Thửa đất của hai gia đình liền kề nhau cùng tờ bản đồ số: 7G-VI phường K, quận B, thành phố Hà Nội, đều có nguồn gốc do hai gia đình nhận chuyển nhượng của người khác mà có, đều chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở.
Hội đồng xét xử xem xét các tài liệu chứng cứ do hai bên xuất trình và do Tòa án xác minh thu thập mà có thì thấy nguyên nhân, lý do gia đình bà L làm thủ tục kê khai đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông Nguyễn Hữu V không ký xác nhận ranh giới và có tranh chấp.
Xem xét tài liệu chứng cứ các bên xuất trình và kết quả xác minh cho thấy:
Năm 2008, gia đình bà Phạm Thị L ông Trần Công N1 đã tiến hành đo vẽ kỹ thuật thửa đất (có xác nhận của UBND phường K): thửa đất số 71, tờ bản đồ địa chính số 7G-IV-1 (trích đo thửa đất số 3A) – Địa chỉ 52 ngõ N, phường K, quận B, thành phố Hà Nội có diện tích là 97,5m² và được giới hạn bởi các điểm: 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12,1 ( BL 25). Trên bản hồ sơ kỹ thuật đo vẽ năm 2008 có chữ ký của các hộ gia đình giáp ranh và chữ ký của đại diện chính quyền địa phương, phần ranh giới phía Đông Nam có thể hiện “Ranh giới tranh chấp” liền kề với hông nhà bà Phạm Thị L ông Trần Công N1 và liền kề với phần diện tích 7,1m² đất. So sánh với hiện trạng thửa đất của hai bên gia đình thì “Ranh giới tranh chấp” chính là đường ranh giới liền kề với phần đất có tranh chấp. Tuy nhiên, phần đất này gia đình bà Phạm Thị L đã tự nguyện rút yêu cầu khởi kiện không yêu cầu xem xét mà để gia đình ông Nguyễn Hữu V sử dụng. Vì vậy đường ranh giới này được hiểu là ranh giới phía Đông Nam thửa đất gia đình bà Phạm Thị L đang sử dụng không còn tranh chấp và là đường thẳng không gấp khúc. Hình thể thửa đất của gia đình bà L trên Bản đồ địa chính cũng thể hiện đường ranh giới phía Đông Nam là đường thẳng không gấp khúc.
Năm 2016, giữa gia đình bà L và gia đình ông V tiếp tục có tranh chấp liên quan đến đoạn ranh giới phía Nam thửa đất bà L nơi tiếp giáp với thửa đất của gia đình ông V tại vị trí cổng đi của hai gia đình phía Tây Nam thửa đất.
Tại Biên bản kiểm tra hiện trạng lập ngày 7/12/2016 của UBND phường K cho thấy: Phần đất tranh chấp có diện tích 2,9m² ( R 01m; D 2,9m) nằm tại diện tích sân nhà bà L ông N1. Tại biên bản này có nội dung hai gia đình thống nhất diện tích 2,9m² (nằm tại vị trí sân nhà bà L) do gia đình ông V sẽ sử dụng. Nhưng thực tế sau đó gia đình bà L vẫn sử dụng ổn định phần sân trong đó có 2,9m² này và toàn bộ diện tích đất gia đình bà L sử dụng ổn định được thể hiện trên bản đồ địa chính của địa phương với diện tích là 97,5m²; Sơ đồ đo vẽ hiện trạng sử dụng đất của gia đình bà L trùng khớp với thửa đất thể hiện trên bản đồ địa chính.
Xét thấy Biên bản kiểm tra hiện trạng lập ngày 7/12/2016 của UBND phường K ghi nhận lại sự thỏa thuận tại thời điểm giữa hai gia đình không là tài liệu có giá trị quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên. Trong vụ án này, bà L có yêu cầu xác định mốc giới (ranh giới) thửa đất gia đình bà L đã và đang sử dụng ổn định. Bị đơn là ông Nguyễn Hữu V không có đơn yêu cầu phản tố.
Kết quả so sánh thửa đất gia đình bà L đang sử dụng hiện trạng trùng khớp với thửa đất số 52 tờ bản đồ địa chính số 7G-IV-1 ( trích đo thửa đất số 3A) – Địa chỉ 52 ngõ N, phường K, quận B, thành phố Hà Nội thể hiện trên bản đồ địa chính địa phương.
Yêu cầu của bà L về việc xác định mốc giới quanh thửa đất tức là xác định ranh giới giữa các bất động sản liền kề. Áp dụng Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015 “ 1. Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền...”. Do ranh giới thửa đất của gia đình bà L và gia đình ông V không thể thỏa thuận được, nên cần được xác định theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Theo quy hoạch thì thửa đất của gia đình bà Phạm Thị L là đất ở đô thị là đất để làm nhà ở và mục đích khác phục vụ cho đời sống trong cùng thửa đất thuộc khu vực đô thị (Điều 196 Luật Đất đai năm 2023). Gia đình bà L đã sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất thể hiện trên bản đồ địa chính theo đúng nghĩa vụ chung của người sử dụng đất qui định tại Điều 31 Luật đất đai năm 2023.
Căn cứ để xác định mốc giới thửa đất của gia đình bà L theo bản đồ hiện trạng từ mốc số 1, 2, 3, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 1 có diện tích 97,5m² (thể hiện trên Bản lồng ghép thửa đất hiện trạng và thửa đất trên bản đồ địa chính). Vì vậy ranh giới thửa đất gia đình bà L được xác định theo bản đồ hiện trạng từ mốc số 1, 2, 3, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 1 có diện tích 97, 5m².
Chấp nhận yêu cầu của bà L về việc xác định mốc giới thửa đất của gia đình bà L đang sử dụng với diện tích 97,5m² được thể hiện trên bản đo vẽ hiện trạng và giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 1. Bản đo vẽ hiện trạng thửa đất trùng khớp với hình thể thửa đất số 52, tờ bản đồ số địa chính số 7G-IV-1 (trích đo thửa đất số 3A) – Địa chỉ 52 ngõ N, phường K, quận B, thành phố Hà Nội diện tích 97,5m².
Bà Phạm Thị L có quyền đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
[4].Về án phí DSST: Xét thấy bà Phạm Thị L sinh năm 1934 đã 91 tuổi và là người cao tuổi. Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ án phí cho bà Phạm Thị L. Bà L được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Các đương sự đều có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về phần tài sản có liên quan.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 9 Điều 26; khoản 2 Điều 71; khoản 2 Điều 244; Điều 271; 272; 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 31; Điều 196 của Luật đất đai năm 2023;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q.
Tuyên xử:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị L về việc buộc ông Nguyễn Hữu V trả lại phần diện tích đất đã mượn khoảng 7m² đất.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị L về việc xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa gia đình bà Phạm Thị L và gia đình ông Nguyễn Hữu V đối với thửa đất số 52, tờ bản đồ số địa chính số 7G-IV-1 (trích đo thửa đất số 3A) – Địa chỉ 52 ngõ N, phường K, quận B, thành phố Hà Nội có diện tích 97,5m² đất.
- Về án phí DSST: Miễn toàn bộ án phí cho bà Phạm Thị L. Bà Phạm Thị L được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0030797 ngày 01/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chỉ được quyền kháng cáo về phần có liên quan.
Xác định ranh giới thửa đất số 52, tờ bản đồ số địa chính số 7G-IV-1 (trích đo thửa đất số 3A) – Địa chỉ 52 ngõ N, phường K, quận B, thành phố Hà Nội có diện tích 97,5m² đất theo sơ đồ thửa đất kèm theo bản án được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 1.
Bà Phạm Thị L có quyền đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận
|
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đinh Ngọc Liên |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 116/2025/DSST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất và xác định ranh giới
- Số bản án: 116/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và xác định ranh giới
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Bà Phạm Thị L; sinh năm 1934; ĐKHKTT và nơi ở: Số nhà E ngõ N, phường K, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hà N, sinh năm 1975; ĐKHKTT và nơi ở: Số E, ngõ N, phường K, quận B, thành phố Hà Nội. (Có mặt) - Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu V, sinh năm 1952; ĐKHKTT và nơi ở:Số nhà B, ngõ A tổ A N phường K, quận B, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)
