|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 116/2025/DS-ST Ngày: 12-6-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Tuấn Kiệt
- Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tham gia phiên toà: Bà Trần Mỹ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2025/TLST- DS ngày 17 tháng 3 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2025/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (MB). Địa chỉ trụ sở chính: Số A, đường L, phường T, quận C, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Trung T – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Pháp nhân đại diện theo ủy quyền: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Q1 và Khai thác tài sản – Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q. Địa chỉ: Tầng H, số C, phường L, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Q1 và Khai thác tài sản – Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q: Ông Hà Anh D, chức vụ: Tổng giám đốc (Theo Hợp đồng ủy quyền số 129/UQ.MB-MBAMC ngày 13/4/2023 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q).
Người đại diện theo ủy quyền của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Q1 và Khai thác tài sản – Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q: Ông Trần Văn T1, chức vụ: Giám đốc MBAMC chi nhánh T7. Địa chỉ: Tầng C, tòa nhà M, G V, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn T2:
- - Ông Nguyễn Vạn P – Trưởng phòng thu hồi nợ - Công ty M1
- - Ông Đinh Thanh T3 – Chuyên viên xử lý nợ Công ty M1
- - Ông Trần Quyết T4 – Chuyên viên xử lý nợ Công ty M1
- - Ông Trần Hữu T5 – Chuyên viên xử lý nợ Công ty M1
Cùng địa chỉ: Tầng C, số G, đường V, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ (Theo văn bản ủy quyền số 242/UQ-MBAMC-TNB ngày 24/02/2025).
- Bị đơn: Ông Phan Bảo L, sinh năm 1974 và bà Phạm Thị Mỹ D1, sinh năm 1979. Cùng địa chỉ: Số A, Khóm B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Khương Nguyệt M, sinh năm 1951. Địa chỉ: Hẻm I, đường T, Khóm D, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
(Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Đinh Thanh T3 có đơn xét xử vắng mặt; bị đơn ông Phan Bảo L và bà Phạm Thị Mỹ D1; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Khương Nguyệt M vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Đinh thanh T3 trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) với ông Phan Bảo L và bà Phạm Thị Mỹ D1 có ký kết Hợp đồng cho vay số 2.24.290.2379816.TD ngày 17/7/2024 (theo khế ước số LD2420025364) với thỏa thuận mức lãi suất là 10,3%/năm, đã được Ngân hàng giải ngân vào ngày 17/7/2024 với số tiền là 4.500.000.000 đồng, thời hạn vay là 11 tháng, mục đích vay để mua bán hải sản. Để đảm bảo khoản vay trên, cùng ngày 17/7/2024, Ngân hàng với ông Phan Bảo L và bà Phạm Thị Mỹ D1 đã ký các hợp đồng thế chấp, cụ thể:
- Hợp đồng thế chấp số 361247.24.290.2379816.BÐ ông L và bà D1 thế chấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 491566, số vào số GCN: CS01516 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 06/6/2018, đến ngày 11/10/2018 xác nhận chuyển nhượng cho ông Phan Bảo L và vợ là bà Phạm Thị Mỹ D1.
- Hợp đồng thế chấp số 361246.24.290.2379816.BÐ ông L và bà D1 thế chấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 9110041059, hồ sơ gốc số 2736/CN-UB do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp ngày 25/6/2003, đến ngày 11/01/2018 đã xác nhận thừa kế cho ông Phan Bảo L.
Kèm theo hai hợp đồng thế chấp trên thì phía bị đơn cũng đã thực hiện thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm đối với 02 phần đất này tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 17/7/2024.
Đồng thời, Ngân hàng với bà Phạm Thị Mỹ D1 có ký kết Hợp đồng Thẻ tín dụng ngày 06/8/2024 và Ngân hàng đã phát hành Thẻ tín dụng để cho bà Phạm Thị Mỹ D1 vay với số tiền là 200.000.000 đồng
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng thì ông L với bà D1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vay, tính đến nay ông L và bà D1 chỉ thanh toán cho Ngân hàng tiền lãi theo Hợp đồng tín dụng là 79.643.835 đồng (ngoài ra không thanh toán khoản nợ nào khác) Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc nhắc nhở nhưng ông L và bà D1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng thời hạn.
Do đó, nay Ngân hàng yêu cầu bà Phạm Thị Mỹ D1 và ông Phan Bảo L thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng và nợ T6 tính đến ngày 12/6/2025 là 4.987.980.151 đồng. Trong đó, nợ Hợp đồng tín dụng là 4.707.569.877 đồng (nợ gốc là 4.500.000.000 đồng và lãi là 207.569.877 đồng) và nợ Thẻ tín dụng là 280.410.274 đồng (Nợ gốc là 199.976.799 đồng và nợ lãi là 80.433.475 đồng). Đồng thời, yêu cầu ông L và bà D1 còn phải thanh toán tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 13/6/2025 cho đến khi thanh toán dứt nợ. Trường hợp ông L và bà D1 không thanh toán nợ cho Ngân hàng thì yêu cầu được phát mãi tài sản ông L và bà D1 đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 361247.24.290.2379816.BĐ và Hợp đồng thế chấp số 361246.24.290.2379816.BĐ cùng ngày 17/7/2024.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ cho bị đơn ông Phan Bảo L, bà Phạm Thị Mỹ D1; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Khương Nguyệt M nhưng ông L, bà D1 và bà M không đến Tòa án làm việc và cũng không có lời trình bày không suốt quá trình giải quyết vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với ông Phan Bảo L và bà Phạm Thị Mỹ D1, buộc ông Phan Bảo L và bà Phạm Thị Mỹ D1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 12/6/2025 là 4.987.980.151 đồng. Trong đó, nợ Hợp đồng cho vay là 4.707.569.877 đồng (nợ gốc là 4.500.000.000 đồng và lãi là 207.569.877 đồng) và nợ Thẻ tín dụng là 280.410.274 đồng (Nợ gốc là 199.976.799 đồng và nợ lãi là 80.433.475 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 13/6/2025 đến khi ông L và bà D1 trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp, ông L và bà D1 không thanh toán được số nợ trên cho Ngân hàng thì chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản thế chấp mà ông L và bà D1 đã ký kết theo Hợp đồng thế chấp số 361247.24.290.2379816.BĐ và Hợp đồng thế chấp số 361246.24.290.2379816.BĐ cùng ngày 17/7/2024 để thanh toán nợ cho Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng thương mại Cổ phần Q khởi kiện yêu cầu ông Phan Bảo L và bà Phạm Thị Mỹ D1 trả số tiền nợ vay còn thiếu theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên nên đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”; Hợp đồng tín dụng giữa ông Phan Bảo L và bà Phạm Thị Mỹ D1 và Ngân hàng được ký kết và thực hiện tại thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, Ngân hàng lựa chọn Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Đinh Thanh T3 vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Phan Bảo L và bà Phạm Thị Mỹ D1; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Khương Nguyệt M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung vụ án: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho ông Phan Bảo L, bà Phạm Thị Mỹ D1, trong đó có thông báo cho ông L và bà D1 biết những tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, bao gồm Hợp đồng cho vay số 2.24.290.2379816.TD ngày 17/7/2024 (theo khế ước số LD2420025364 ngày 18/7/2024); Hợp đồng thế chấp số 361247.24.290.2379816.BĐ và Hợp đồng thế chấp số 361246.24.290.2379816.BĐ cùng ngày 17/7/2024 và Hợp đồng Thẻ tín dụng ngày 06/8/2024 được ký kết giữa Ngân hàng với ông Phan Bảo L, bà Phạm Thị Mỹ D1. Tuy nhiên, ông L và bà D1 không đến Tòa án và không cung cấp văn bản thể hiện ý kiến của mình, cũng như không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với ông L và bà D1. Từ đó, cho thấy ông L và bà D1 đã thừa nhận Hợp đồng cho vay; Hợp đồng Thẻ tín dụng và các Hợp đồng thế chấp trên được ký kết giữa ông L, bà D1 với Ngân hàng là có trên thực tế và đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.1] Xét Hợp đồng cho vay số 2.24.290.2379816.TD ngày 17/7/2024 giữa ông L, bà D1 với Ngân hàng, thấy rằng: Theo các nội dung thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng trên và Khế ước nhận nợ số LD2420025364 thì số tiền ông L và bà đã vay là 4.500.000.000 đồng, thời hạn vay là 11 tháng kể từ ngày 18/8/2024 đến ngày 18/6/2024; lãi suất trong hạn là 10,3%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, mục đích vay là bổ sung vốn mua bán thủy hải sản; hình thức vay có thế chấp tài sản đảm bảo. Căn cứ Điều 100 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024 việc cấp tín dụng dưới hình thức cho vay theo các nội dung thỏa thuận trên giữa các bên là phù hợp quy định pháp luật.
Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng xác định từ ngày nhận nợ đến nay, ông L và bà D1 chỉ thanh toán cho Ngân hàng khoản lãi với số tiền là 79.643.835 đồng, chưa thanh toán được khoản tiền nợ gốc nào. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, ông L và bà D1 không trả nợ đúng hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết. Như vậy, ông L và bà D1 đã vi phạm hợp đồng, không thực hiện đúng thỏa thuận trả nợ đúng hạn theo các hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông L và bà D1 trả nợ vay theo hợp đồng cho vay trên với tổng số tiền nợ tính đến ngày 12/6/2025 là 4.707.569.877 đồng (nợ gốc là 4.500.000.000 đồng và lãi là 207.569.877 đồng) là có căn cứ nên được chấp nhận.
Đồng thời, căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì kể từ ngày 13/6/2025 ông L và bà D1 còn phải tiếp tục chịu lãi trên số tiền phải thanh toán cho Ngân hàng theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng cho vay.
[2.2] Xét Hợp đồng Thẻ tín dụng: Ngày 06/8/2024, Ngân hàng với bà D1 có ký kết “Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế”, theo đó, Ngân hàng đã phát hành Thẻ tín dụng cấp hạn mức tín dụng cho bà D1 vay với số tiền là 200.000.000 đồng (cấp phát hành Thẻ vào ngày 06/8/2025). Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, bà D1 không thanh toán lãi cho Ngân hàng đúng thời hạn. Tính đến ngày 12/6/2025, bà D1 đã sử dụng Thẻ tín dụng trên với số tiền là 280.410.274 đồng (Nợ gốc là 199.976.799 đồng và nợ lãi là 80.433.475 đồng). Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc ông L và bà D1 thanh toán nợ Thẻ cho Ngân hàng tính đến ngày 12/6/2025 với số tiền là 280.410.274 đồng.
[3] Xét hợp đồng thế chấp: Để đảm bảo cho khoản vay trên giữa Ngân hàng với ông Phan Bảo L và bà Phạm Thị Mỹ D1 thì giữa hai bên có thỏa thuận ký kết các Hợp đồng thế chấp số 361247.24.290.2379816.BĐ và Hợp đồng thế chấp số 361246.24.290.2379816.BĐ cùng ngày 17/7/2024. Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp, cụ thể:
[3.1] Đối với phần đất tại thửa 202, tờ bản đồ số 50 với diện tích 227,95m², đất tọa lạc tại số A, đường T, Khóm D, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (theo Hợp đồng thế chấp số 361246.24.290.2379816.BĐ ngày 17/7/2024), trên đất có một căn nhà loại III, có kết cấu khung cột bê tông cốt thép, tường xây gạch bao quanh D100 (có tô và sơn tường, dán gạch ốp tường cao hơn 01m hoàn thiện), nền gạch men, đỗ sàn bê tông cốt thép tầng lầu I và ban công, mái lợp tol xi măng (có đóng la phông trần nhựa), có hệ thống điện, nước và nhà vệ sinh, với tổng diện tích xây dựng là 233,86m². Hiện nhà và phần đất này do bà Khương Nguyệt M đang trực tiếp quản lý, sử dụng.
[3.2] Đối với phần đất tại thửa số 844, tờ bản đồ số 16 – 4 với diện tích 73,9m², đất tọa lạc tại Khu dân cư P, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (theo Hợp đồng thế chấp số 361247.24.290.2379816.BĐ ngày 17/7/2024), trên đất có một căn nhà cấp III, loại III, có kết cấu khung cột bê tông cốt thép, tường xây gạch bao quanh (có tô và sơ tường hoàn thiện), đỗ sàn bê tông cốt thép tầng lầu I và ban công, nền lót gạch men, mái lợp tol (có đóng la phông trần Thạch Cao), có hệ thống điện nước, nhà về sinh; mặt tiền trước có dán gạch. Nhà và đất hiện bỏ trống không ai trực tiếp quản lý, sử dụng.
[4] Hội đồng xét xử xét thấy các hợp đồng thế chấp số 361247.24.290.2379816.BĐ và Hợp đồng thế chấp số 361246.24.290.2379816.BĐ cùng ngày 17/7/2024 có chứng thực, được đăng ký thế chấp và đã tuân thủ đúng theo quy định pháp luật dân sự về giao dịch bảo đảm được quy định tại Điều 298 Bộ luật Dân sự 2015 và Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng trong trường hợp ông Phan Bảo L và bà Phạm THị Mỹ D1 không thanh toán nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp và tài sản trên đất để thu hồi nợ theo quy định pháp luật.
Đối với phần đất tại thửa 202, tờ bản đồ số 50 với diện tích 227,95m², đất tọa lạc tại số A, đường T, Khóm D, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu hiện nay bà Khương Nguyệt M (mẹ ruột ông L) đang quản lý, sử dụng nên cần buộc bà M có trách nhiệm bàn giao tài sản khi Ngân hàng có yêu cầu.
[5] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Do chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp trong trường hợp ông Phan Bảo L và bà Phạm Thị Mỹ D1 không thanh toán nợ, nên ông Phan Bảo L và bà Phạm Thị Mỹ D1 phải chịu toàn bộ chi phí là 1.650.000 đồng. Ngân hàng không phải chịu, Ngân hàng đã nộp và chi xong nên buộc ông Phan Bảo L và bà Phạm Thị Mỹ D1 phải hoàn lại cho Ngân hàng 1.650.000 đồng.
[5] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án phù hợp với đánh giá, nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
[6] Về án phí: Áp dụng Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: ông Phan Bảo L và bà Phạm Thị Mỹ D1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận là 112.987.980 đồng; Ngân hàng thương mại Cổ phần Q không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 100 và Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại Cổ phần Q.
- Buộc ông Phan Bảo L và bà Phạm Thị Mỹ D1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại Cổ phần Q tổng số tiền tính đến ngày 12/6/2025 là 4.987.980.151 đồng. Trong đó, nợ Hợp đồng cho vay là 4.707.569.877 đồng (nợ gốc là 4.500.000.000 đồng và lãi là 207.569.877 đồng) và nợ Thẻ tín dụng là 280.410.274 đồng (Nợ gốc là 199.976.799 đồng và nợ lãi là 80.433.475 đồng).
Kể từ ngày 13 tháng 6 năm 2024, ông Phan Bảo L và bà Phạm Thị Mỹ D1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp, trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Trường hợp ông Phan Bảo L và bà Phạm Thị Mỹ D1 không thanh toán nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền bán đấu giá tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 361247.24.290.2379816.BĐ và Hợp đồng thế chấp số 361246.24.290.2379816.BĐ cùng ngày 17/7/2024. Tài sản thế chấp gồm:
2.1. Phần đất tại thửa 202, tờ bản đồ số 50 với diện tích 227,95m², đất tọa lạc tại số A, đường T, Khóm D, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (theo Hợp đồng thế chấp số 361246.24.290.2379816.BĐ ngày 17/7/2024), trên đất có một căn nhà loại III, có kết cấu khung cột bê tông cốt thép, tường xây gạch bao quanh D100 (có tô và sơn tường, dán gạch ốp tường cao hơn 01m hoàn thiện), nền gạch men, đỗ sàn bê tông cốt thép tầng lầu I và ban công, mái lợp tol xi măng (có đóng la phông trần nhựa), có hệ thống điện, nước và nhà vệ sinh, với tổng diện tích xây dựng là 233,86m².
Buộc bà Khương Nguyệt M có nghĩa vụ bàn giao lại toàn bộ tài sản trên đất và quyền sử dụng thửa đất trên khi cơ quan thi hành án có thẩm quyền bán đấu giá tài sản để thi hành án.
2.2. Phần đất tại thửa số 844, tờ bản đồ số 16 – 4 với diện tích 73,9m², đất tọa lạc tại Khu dân cư P, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (theo Hợp đồng thế chấp số 361247.24.290.2379816.BĐ ngày 17/7/2024), trên đất có một căn nhà cấp III, loại III, có kết cấu khung cột bê tông cốt thép, tường xây gạch bao quanh (có tô và sơ tường hoàn thiện), đỗ sàn bê tông cốt thép tầng lầu I và ban công, nền lót gạch men, mái lợp tol (có đóng la phông trần Thạch Cao), có hệ thống điện nước, nhà về sinh; mặt tiền trước có dán gạch. Nhà và đất hiện bỏ trống không ai trực tiếp quản lý, sử dụng.
(Theo hai Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ cùng ngày 17 tháng 4 năm 2025).
3. Về án phí:
- Ông Phan Bảo L và bà Phạm Thị Mỹ D1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 112.987.980 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Ngân hàng thương mại Cổ phần Q không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại Cổ phần Q số tiền 56.421.334 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000202 ngày 17 tháng 3 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Phan Bảo L và bà Phạm Thị Mỹ D1 phải chịu toàn bộ số tiền 1.650.000 đồng. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q không phải chịu, Ngân hàng đã nộp đủ và chi xong nên buộc ông Phan Bảo L và bà Phạm Thị Mỹ D1 phải hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền 1.650.000 đồng.
3. Về kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 116/2025/DS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 116/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
