|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 116/2025/DS-PT
Ngày: 11 - 6 - 2025
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Xô, ông Phạm Thái Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Trọng Kha - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận: Ông Đinh Văn Lai - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 21/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 02 năm 2025, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 150/2024/DS-ST ngày 17 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 86/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 87/2025/QĐ-PT ngày 29/5/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1958 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị L: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1979; địa chỉ: Khu phố E, phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, (có mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1966 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T1: Ông Phạm X, sinh năm 1968; Địa chỉ: Khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Theo hợp đồng ủy quyền ngày 05/06/2025 (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn T1: Luật sư Võ Việt M thuộc Công ty L1 (có mặt).
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị L là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong đơn khởi kiện ngày 14/01/2021 của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L ủy quyền cho ông Phạm Văn T trình bày:
Gia đình bà Nguyễn Thị L có một thửa đất số 33 diện tích 2.186,5m² tại thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, sử dụng trước năm 1993 đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguồn gốc đất này do Nhà nước giao khoán, năm 1993 khi nhận ruộng xong gia đình bà trực tiếp trồng lúa và đóng thuế cho nhà nước. Được một thời gian do thiếu nước nên chuyển sang trồng đậu, mè. Sau khi gia đình bà lập thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bị ông Nguyễn Văn T1 cùng thôn ngăn cản không cho Nhà nước cấp đất, bà có yêu cầu Ủy ban nhân dân xã H hòa giải nhưng không thành. Nay bà yêu cầu ông Nguyễn Văn T1 trả cho bà thửa đất số 33 diện tích 2.186,5m² tọa lạc tại thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 ủy quyền cho ông Bùi Thanh T2 trình bày:
Gia đình ông Nguyễn Văn T1 sử dụng diện tích đất 2.186,5m² từ trước năm 1975 cho đến nay. Diện tích 2.186,5m² chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì ông yêu cầu Ủy ban nhân dân xã H cấp sổ thì bà Nguyễn Thị L ngăn chặn. Hiện nay diện tích đất tranh chấp 2.186,5m² có rào hàng rào, trồng cây lâu năm. Nay bà Nguyễn Thị L yêu cầu ông trả cho bà thửa đất số 33 diện tích 2.186,5m² tọa lạc tại thôn Đ xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận thì ông không đồng ý.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 150/2024/DS-ST ngày 17 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015. Khoản 10 Điều 11; Khoản 8 Điều 26 Luật Đất đai năm 2024.
Tuyên xử: Bác đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T1 trả cho bà Nguyễn Thị L diện tích 2.186,5m² thuộc thửa đất số 33 tọa lạc tại thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên các quyết định về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 25 tháng 12 năm 2024, bà Nguyễn Thị L kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ nội dung bản án dân sự sơ thẩm số 150/2024/DS-ST ngày 17 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đơn kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 do ông Phạm X là người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự và tuyên xử: không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 150/2024/DS-ST ngày 17/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Luật sư Võ Việt M - người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn phát biểu ý kiến:
Bản án dân sự sơ thẩm số 150/2024/DS-ST ngày 17/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc bác đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T1 phải trả lại thửa đất số 3, tờ bản đồ số 86, diện tích 2.186,5m² tại thôn Đ, xã H, huyện H là phù hợp với quy định của pháp luật. Bởi lẽ: Theo đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị L trình bày thửa đất số 33, tờ bản đồ số 86, diện tích 2.186,5m² tại thôn Đ, xã H, huyện H có nguồn gốc do Nhà nước giao khoán nhưng trong hồ sơ vụ án không có giấy tờ chứng minh cơ quan, tổ chức nào giao khoán và thời điểm giao khoán; Tại Báo cáo xác minh đất tranh chấp do cán bộ Địa chính xã H lập ngày 18/02/2019 thể hiện: nguồn gốc thửa đất số 33, tờ bản đồ số 86, diện tích 2.186,5m² tại thôn Đ, xã H, huyện H là của ông Nguyễn Văn D (cha của ông Nguyễn Văn T1). Năm 1980 thì thửa đất này được đưa vào Hợp tác xã. Năm 1993, Hợp tác xã cấp khoán cho hộ ông Phạm H (chồng bà L). Hộ ông H sử dụng được 1-3 năm thì ông Nguyễn Văn T1 giành lại. Ông T1 canh tác được khoảng 1-2 năm thì bỏ và hộ bà L cũng không nhận lại canh tác. Đến năm 2005 thì ông Nguyễn Bình Trung trực T3 canh tác cho đến nay; Tại Công văn số 2576/UBND-NC ngày 21/10/2020 của Ủy ban nhân dân huyện H thể hiện nội dung: bà Nguyễn Thị L trình bày thửa đất số 33, tờ bản đồ số 86, diện tích 2.186,5m² tại thôn Đ, xã H, huyện H do Nhà nước khoán cho hộ bà canh tác từ năm 1990 đến năm 1996. Trong quá trình nhận khoán có nộp thuế. Từ năm 1996 đến nay hộ bà L không sử dụng thửa đất này do thiếu nước nên trồng lúa không hiệu quả; Tại “Phiếu báo giao nộp sản phẩm” ghi ngày 10/10/1990 có nội dung: Chủ nhận khoán là ông Phạm Văn H1; diện tích đất là 0,1276ha và “Phiếu báo giao nộp sản phẩm” ngày 15/01/1991 của Hợp tác xã A có nội dung: Chủ nhận khoán là ông Phạm Văn H1; diện tích đất là 1.276 ha. Ngoài ra còn có một số Thông báo nộp thuế khác không ghi diện tích, vị trí đất. Trong khi đó, thửa đất tranh chấp có diện tích 2.186,5m². Cho nên không có căn cứ xác định các loại giấy tờ này có liên quan đến thửa đất đang tranh chấp. Bên cạnh đó, theo Biên bản xem xét và thẩm định tại chỗ ngày 07/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc thì bà Nguyễn Thị L không xác định được thửa đất số 3, tờ bản đồ số 86, diện tích 2.186,5m² mà bà yêu cầu ông T1 trả lại nằm ở vị trí nào của thôn Đ, xã H, huyện H. Về mặt pháp lý từ năm 1996 đến nay, bà Nguyễn Thị L bỏ đất không sử dụng, không kê khai, đăng ký, không nộp thuế đất, không gia hạn sử dụng đất... nên không còn quyền sử dụng đối với thửa đất này.
Án lệ số 33/2020/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 05/02/2020 và được công bố theo Quyết định 50/QĐ-CA ngày 25/02/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao:
Tình huống án lệ: Cá nhân được Nhà nước cấp đất nhưng không sử dụng mà để người khác quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài từ khi được giao đất. Trong quá trình sử dụng đất, người này đã tôn tạo đất, xây dựng nhà ở ổn định, đăng ký kê khai quyền sử dụng đất mà người được cấp đất không có ý kiến gì.
Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, Tòa án không chấp nhận yêu cầu đòi lại quyền sử dụng đất.
Hơn nữa, từ năm 2005 đến nay ông Nguyễn Bình T4 là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất số 3, tờ bản đồ số 86, diện tích 2.186,5m² tại thôn Đ, xã H, huyện H chứ không phải là ông Nguyễn Văn T1. Việc bà L kiện yêu câu ông T1 trả lại đất là không đúng đối tượng.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và quan điểm giải quyết vụ án:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự ; không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 150/2024/DS-ST ngày 17/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị L nộp trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị L yêu cầu hủy toàn bộ nội dung bản án dân sự sơ thẩm số 150/2024/DS-ST ngày 17 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc vì cho rằng Toà án cấp sơ thẩm bác đơn khởi kiện của bà là không đúng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo biên bản làm việc ngày 03/01/2024 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H (BL 78), thể hiện: Nguồn gốc diện tích đất 2.186,5m² tranh chấp tọa lạc tại thôn Đ xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận là của ông Nguyễn Văn D (cha của ông T1, ông D nay đã chết) đưa vào Hợp tác xã A, huyện H từ năm 1980. Năm 1993, Hợp tác xã A cấp khoán cho ông Phạm H1 (chồng bà L), nay ông H1 đã chết. Việc cấp đất này theo bình quân nhân khẩu cho hộ ông Phạm Hoàng . Từ năm 1993 hộ ông H1 canh tác được khoảng 1-3 năm thì từ năm 1995 ông Nguyễn Văn T1 đến giành lại vì ông T1 cho là ruộng gốc của gia đình ông T1, cũng từ năm 1995 hộ ông H1 không canh tác nữa. Từ năm 1995 trở về sau không ai canh tác, đến năm 2005 ông T4 cháu ông T1 đến canh tác cho đến nay.
Tại Công văn số 2576/UBND-NC ngày 21/10/2020 của Ủy ban nhân dân huyện H về việc trả lời đơn của bà Nguyễn Thị L thể hiện: bà Nguyễn Thị L trình bày nguồn gốc diện tích đất 2.186,5 m² tại thông Đại Thiện 1, xã H do Nhà nước khoán ruộng cho hộ gia đình bà canh tác trồng lúa từ năm 1990 đến năm 1996. Trong quá trình sử dụng ông Phạm Văn H1 (chồng bà L) có nộp tiền thuế đất nông nghiệp và giao nộp sản phẩm cho Nhà nước. Từ năm 1996 đến nay hộ bà Nguyễn Thị L không tiếp tục sử dụng diện tích 2.186,5m² nói trên do thiếu nước nên canh tác lúa không hiệu quả (BL 09).
Tài liệu nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là bản sao có chứng thực Thông báo số thuế nông nghiệp phải nộp ngày 15/10/1992 của Ủy ban nhân dân xã H, diện tích 2.960m² đối với ông Phạm Văn H1 (không nêu thửa đất nào); Thông báo số thuế nông nghiệp phải nộp ngày 02/12/1992 của Ủy ban nhân dân xã H đối với ông Phạm Văn H1 (không thể hiện thửa đất nộp thuế, diện tích đất nộp thuế); Thông báo nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế đất ngày 08/12/1996 của UBND xã H (không thể hiện nộp thuế cho thửa đất nào, diện tích cụ thể bao nhiêu); các bản sao không có chứng thực phiếu báo giao nộp sản phẩm của Hợp tác xã A ngày 10/10/1990, 15/01/1991 đối với người nhận khoán Phạm Văn H1; ngoài các tài liệu nêu trên thì bà Nguyễn Thị L không cung cấp được tài liệu nào khác chứng minh nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất đang tranh chấp. Đối chiếu với diện tích đất bà L đang tranh chấp là 2.186,5m² thì tài liệu nộp thuế đất như trên là không phù hợp về diện tích đất, không xác định được các biên lai nộp thuế là nộp cho chính thửa đất đang tranh chấp.
Tại phiên toà phúc thẩm, bà L cũng xác nhận lại khoảng năm 1996 thì chồng bà là ông H1 không canh tác trồng lúa trên đất hiện đang tranh chấp nữa do thiếu nước. Bà L trình bày sau 1996 thì gia đình bà trực tiếp là ông Hoàng C bà có trồng đậu, mè trên đất, tuy nhiên bà L không có tài liệu gì để chứng minh. Bà L cụng thừa nhận gia đình bà chưa thực hiện việc đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất tranh chấp tại Ủy ban nhân dân xã H và cũng không có một trong các loại giấy tờ theo Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 (Điều 50 Luật Đất đai năm 2003). Theo quy định của Luật đất đai thì để được công nhận quyền sử dụng đất (được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) người yêu cầu phải có các giấy tờ pháp lý hoặc quá trình sử dụng đất thực tế, nhưng bà Nguyễn Thị L không có giấy tờ về quyền sử dụng đất, cũng không có quá trình sử dụng đất ổn định thực tế. Tại buổi xem xét, thẩm định tại chỗ do Toà án cấp sơ thẩm thực hiện ngày 07/3/2022, bà Nguyễn Thị L nguyên đơn (và cả bị đơn ông Nguyễn Văn T1) cũng không chỉ được vị trí, mốc giới diện tích đất tranh chấp. Tại cấp phúc thẩm, bà L trình bày bà không chỉ được vị trí, ranh giới đất là do hiện trạng đất đã thay đổi. Điều này cho thấy, việc bà L không thực hiện đăng ký, kê khai, không có quá trình sử dụng đất ổn định liên tục trên thực tế nên bà không xác định được vị trí đất tranh chấp là phù hợp.
Xét lời trình bày của ông Nguyễn Văn T1 trong quá trình giải quyết vụ án, lời trình bày của người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Văn T1 và ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Tự tại phiên toà phúc thẩm đều xác định ông Nguyễn Văn T1 không trực tiếp quản lý sử dụng thửa đất có tranh chấp mà ông Nguyễn Bình T4 cháu của ông T1 là người sử dụng đất từ năm 2005. Do vậy, việc bà Nguyễn Thị L khởi kiện ông Nguyễn Văn T1 là không đúng đối tượng. Ý kiến của người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn và lập luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn tại phiên toà có căn cứ và phù hợp với thông tin, tài liệu do Ủy ban nhân dân xã H, huyện H cung cấp. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm tuyên xử bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L là có căn cứ.
Bà Nguyễn Thị L kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì mới so với Tòa án cấp sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị L, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 150/2024/DS-ST ngày 17 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc như lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận.
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị L là người cao tuổi, có đơn đề nghị miễn nộp án phí nên bà Nguyễn Thị L được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị L; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 150/2024/DS-ST ngày 17 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
[2] Căn cứ: Khoản 9 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a, c Khoản 1 Điều 39; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015. Khoản 10 Điều 11; Khoản 8 Điều 26 Luật Đất đai năm 2024.
- Tuyên xử: Bác đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T1 trả cho bà Nguyễn Thị L diện tích 2.186,5m² thuộc thửa đất số 33 tọa lạc tại thôn Đ xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Do bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1958 là người cao tuổi, có đơn đề nghị miễn nộp án phí nên bà được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm.
- Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 11/6/2025.
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
|
|
- VKSND tỉnh Bình Thuận; - TAND huyện Hàm Thuận Bắc; - Chi Cục THADS huyện Hàm Thuận Bắc; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tổ HCTP. |
Nguyễn Thị Thủy Tiên |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ |
| Lê Văn Xô Phạm Thái Bình | Nguyễn Thị Thủy Tiên |
Bản án số 116/2025/DS-PT ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 116/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị L tranh chấp quyền sử dụng đất
