|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 116/2024/HS-ST Ngày: 09/12/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Nguyên.
Ông Nguyễn Đăng Khoa.
Thư ký phiên tòa:Bà Đinh Thị Thảo - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2024. Tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2024/TLST-HS ngày 31/10/2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST-HS ngày 12/11/2024, đối với:
Bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1992, tại huyện V, tỉnh Hưng Yên. Nơi cư trú: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Phạm Thị Thu H và 03 con; con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/8/2024 đến ngày 27/8/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: (Tất cả vắng mặt)
- Anh Phạm Văn H1, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
- Chị Đặng Thị L, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương;
- Anh Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
- Anh Phùng Đức V, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
- Anh Trần Đặng Đức T1, sinh năm 2006. Nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
- Anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
- Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
- Anh Vũ Văn T3, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
- Chị Đào Ngọc H4, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
- Anh Vũ Văn Đ1, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Thôn S, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
- Anh Nguyễn Tá H5, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
- Anh Trương Văn H6, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
- Anh Đặng Năng N1, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Thôn X, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
- Anh Lê Quốc A, sinh năm 2002. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa;
- Anh Trần Văn Q, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
- Anh Phạm Văn T4, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
- Anh Cao Văn H7, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
- Anh Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
- Anh Phạm Văn B, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Thôn X, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
- Anh Cao Hoàng A1, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Đường T, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;
- Anh Hoàng Văn D, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện S, tỉnh Bắc Giang;
- Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 2002. Nơi cư trú: Thôn H, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
- Ông Lê Văn T5, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên;
- Bà Phạm Thị T6, sinh năm 1962. Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 10/01/2023 đến ngày 21/8/2024, Nguyễn Văn T đã cho 18 khách vay tổng số tiền 459.000.000 đồng với lãi suất 3.000-100.000 đồng/1 triệu đồng/ngày (109,5%-3.650%/năm), thu tổng lãi 129.678.548 đồng, gồm 119.857.726 đồng lãi bất chính, 9.820.822 đồng lãi theo quy định 20%/năm, khách đã trả gốc 346.000.000 đồng.
T thỏa thuận với khách về kỳ hạn thanh toán (theo ngày, 10 ngày, 15 ngày hoặc 30 ngày) và lãi suất. Một số khách phải trả lãi trước hoặc thế chấp tài sản (xe mô tô, ô tô), ký "Giấy bán, cho, tặng xe" do T chuẩn bị. Hợp đồng không ghi lãi suất để tránh bị xử lý pháp luật. Nếu đến hạn không trả nợ, tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu của T.
Các khoản T cho người khác vay cụ thể như sau:
- Phạm Văn H1: Vay từ ngày 19/7/2024 đến ngày 21/8/2024 (33 ngày), số tiền vay 22.000.000 đồng, lãi suất 160,6%/năm. T thu lãi 3.193.548 đồng, trong đó lãi theo quy định 20% là 397.808 đồng, lãi bất chính 2.795.740 đồng. Anh H1 đã thanh toán lãi 3.193.548 đồng, chưa trả tiền gốc.
- Đặng Thị L: Vay từ ngày 29/6/2024 đến ngày 21/8/2024 (53 ngày), số tiền vay 15.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm. T thu lãi 7.950.000 đồng, trong đó lãi theo quy định 20% là 435.616 đồng, lãi bất chính 7.514.384 đồng. Chị L đã thanh toán lãi 7.500.000 đồng, chưa trả tiền gốc.
- Nguyễn Ngọc H2 và Phùng Đức V: Vay từ ngày 20/6/2024 đến ngày 21/8/2024 (62 ngày), tổng số tiền vay 60.000.000 đồng, lãi suất 182,5%-653,35%/năm. T thu lãi 22.500.000 đồng, trong đó lãi theo quy định 20% là 1.961.644 đồng, lãi bất chính 20.538.356 đồng. Hai người đã thanh toán lãi 12.000.000 đồng, chưa trả tiền gốc 60.000.000 đồng.
- Trần Đặng Đức T1: Vay từ ngày 10/7/2024 đến ngày 21/7/2024 (11 ngày), số tiền vay 30.000.000 đồng, lãi suất 332,15%-1.215,45%/năm. T thu lãi 3.500.000 đồng, trong đó lãi theo quy định 20% là 167.123 đồng, lãi bất chính 3.332.877 đồng. Anh T1 đã trả đủ gốc và lãi.
- Nguyễn Văn H3: Vay từ ngày 6/8/2024 đến ngày 7/8/2024 (1 ngày), số tiền vay 5.000.000 đồng, lãi suất 3.650%/năm. T thu lãi 500.000 đồng, trong đó lãi theo quy định 20% là 2.740 đồng, lãi bất chính 497.260 đồng. Anh H3 đã trả đủ gốc và lãi.
- Nguyễn Văn T2: Vay từ ngày 19/8/2024 đến ngày 20/8/2024 (1 ngày), số tiền vay 15.000.000 đồng, lãi suất 1.215,45%/năm. T thu lãi 500.000 đồng, trong đó lãi theo quy định 20% là 8.219 đồng, lãi bất chính 491.781 đồng. Anh T2 đã trả đủ gốc và lãi.
- Vũ Văn T3: Vay từ ngày 12/5/2024 đến ngày 21/8/2024 (101 ngày), số tiền vay 7.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm. T thu lãi 7.070.000 đồng, trong đó lãi theo quy định 20% là 387.397 đồng, lãi bất chính 6.682.603 đồng. Anh T3 đã trả đủ gốc và lãi.
- Đào Ngọc H4: Vay từ tháng 01/2024 đến ngày 21/8/2024 (tổng cộng 36 ngày cho đợt cuối), số tiền vay 21.000.000 đồng qua nhiều đợt, lãi suất 365%/năm. T thu lãi 3.660.000 đồng, trong đó lãi theo quy định 20% là 200.548 đồng, lãi bất chính 3.459.452 đồng. Anh H4 đã trả đủ gốc, chưa trả lãi đợt cuối.
- Vũ Văn Đ1: Vay từ ngày 18/8/2024 đến ngày 17/9/2024 (30 ngày), số tiền vay 10.000.000 đồng, lãi suất 120,45%/năm. T thu lãi 1.000.000 đồng, trong đó lãi theo quy định 20% là 164.384 đồng, lãi bất chính 835.616 đồng. Anh Đ1 đã trả gốc, chưa trả lãi.
- Nguyễn Tá H5: Vay từ ngày 5/6/2023 đến ngày 5/11/2023 (150 ngày), số tiền vay 30.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm. T dự kiến thu lãi 45.000.000 đồng, trong đó lãi theo quy định 20% là 2.465.753 đồng, lãi bất chính thực thu 15.534.247 đồng. Anh H5 đã trả đủ gốc và một phần lãi.
- Trương Văn H6: Vay từ ngày 28/7/2024 đến ngày 29/7/2024 (1 ngày), số tiền vay 10.000.000 đồng, lãi suất 1.825%/năm. T thu lãi 500.000 đồng, trong đó lãi theo quy định 20% là 5.479 đồng, lãi bất chính 494.521 đồng. Anh H6 đã trả đủ gốc và lãi.
- Đỗ Năng N2: Vay từ ngày 2/7/2024 đến ngày 21/8/2024 (50 ngày), số tiền vay 5.000.000 đồng, lãi suất 146%/năm. T thu lãi 1.000.000 đồng, trong đó lãi theo quy định 20% là 136.986 đồng, lãi bất chính 863.014 đồng. Anh N2 đã trả gốc, chưa trả lãi.
- Lê Quốc A: Vay từ ngày 10/1/2023 đến ngày 21/8/2024 (582 ngày), số tiền vay 7.000.000 đồng, lãi suất 182,5%/năm. T thu lãi 20.335.000 đồng, trong đó lãi theo quy định 20% là 2.228.493 đồng, lãi bất chính 18.106.507 đồng. Anh Quốc A đã thanh toán một phần lãi là 7.479.452 đồng, chưa trả gốc.
- Trần Văn Q: Vay từ ngày 17/7/2024 đến ngày 18/7/2024 (1 ngày), số tiền vay 200.000.000 đồng, lãi suất 182,5%/năm. T thu lãi 10.000.000 đồng, trong đó lãi theo quy định 20% là 1.095.890 đồng, lãi bất chính 8.904.110 đồng. Anh Q đã trả đủ gốc và lãi.
- Phạm Văn T4: Vay từ ngày 3/8/2024 đến ngày 13/8/2024 (10 ngày), số tiền vay 7.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm. T thu lãi 700.000 đồng, trong đó lãi theo quy định 20% là 38.356 đồng, lãi bất chính 661.644 đồng. Anh T4 đã trả đủ gốc và lãi.
- Cao Văn H7: Vay từ ngày 31/7/2024 đến ngày 21/8/2024 (21 ngày), số tiền vay 7.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm. T thu lãi 1.470.000 đồng, trong đó lãi theo quy định 20% là 80.548 đồng, lãi bất chính 1.389.452 đồng. Anh H7 đã thanh toán lãi 700.000 đồng, chưa trả gốc.
- Nguyễn Văn Đ2: Vay từ ngày 12/8/2024 đến ngày 21/8/2024 (10 ngày), số tiền vay 6.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm. T thu lãi 600.000 đồng, trong đó lãi theo quy định 20% là 32.877 đồng, lãi bất chính 567.123 đồng. Anh Đ2 đã trả gốc, chưa trả lãi.
- Phạm Văn B: Vay từ ngày 12/8/2024 đến ngày 21/8/2024 (10 ngày), số tiền vay 2.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm. T thu lãi 200.000 đồng, trong đó lãi theo quy định 20% là 10.959 đồng, lãi bất chính 189.041 đồng. Anh B chưa trả gốc và lãi.
Ngày 21/8/2024, công an bắt quả tang T nhận tiền lãi tại cửa hàng. Vật chứng thu giữ gồm: 17 xe mô tô, 2 xe ô tô, 13 giấy đăng ký xe, tiền mặt và các sổ ghi chép; tổng cộng 68.600.000 đồng (bao gồm tiền thu lợi bất chính và tài sản của vợ T) đã được tạm giữ.
Kết luận giám định xác nhận chữ ký, chữ viết của các bên liên quan phù hợp với tài liệu vụ án. T thừa nhận toàn bộ hành vi, phù hợp với lời khai của người liên quan.
Những người liên quan:
Anh Nguyễn Tá H5 và anh Lê Quốc A yêu cầu T trả lại số tiền thu lợi bất chính do lãi suất vượt quá 20%/năm; các cá nhân khác không yêu cầu T trả lại tiền.
Chị H (vợ T) không tham gia hoạt động cho vay, không biết T cho vay lãi suất cao, cũng không thu tiền từ khách hàng, có đề nghị nhận lại tiền.
Về vật chứng:
- -02 quyển sổ màu xanh và 01 quyển sổ màu vàng được thu giữ;
- -02 xe ô tô: Mazda CX5 (BKS: 89A-28887) là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị T7, được anh D1 sử dụng để thế chấp vay tiền của T. Anh D1 đã trả đủ nợ; Kia (BKS: 29H-436.66) là tài sản hợp pháp của chị Bàn Thị H8, thường xuyên gửi xe tại cửa hàng T. Xe đã được trả lại.
- -12 xe mô tô và 08 giấy đăng ký xe: Không phải vật chứng, đã xác minh rõ chủ sở hữu hợp pháp và được trả lại cho họ.
- -04 xe mô tô còn lại: Chủ sở hữu chưa được xác minh do vắng mặt tại địa phương. Hiện cơ quan điều tra đang quản lý và tiếp tục làm rõ để xử lý.
- -Xe Honda C1 (BKS: 89F2-3268): Chủ sở hữu là bà Phạm Thị T6, giao xe cho con trai là Cao Văn H7. H7 đã dùng xe để thế chấp vay tiền của T.
- - Số tiền mặt thu giữ: 68.600.000 đồng trong đó có 4.500.000 đồng là tiền mà T thu lãi của chị Đặng Thị L; 64.100.000 đồng là tài sản cá nhân của chị Nguyễn Thị Thu H9, không liên quan đến hành vi phạm tội. Số tiền trên đã được nộp vào tài khoản tạm thu của Cơ quan điều tra.
Cáo trạng số: 102/CT VKS P3 ngày 30/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố các bị cáo: Nguyễn Văn T về tội: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại điểm khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. ải
Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 230.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Ngoài ra VKS còn đề nghị về các biện pháp tư pháp và án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố; bị cáo xác định đã nhận lại khoản cho vay gốc đối với anh H2 là 40.000.000 đồng; anh V là 20.000.000 đồng; không tranh luận với nội dung luận tội của Đại diện Viện kiểm sát đồng thời đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo cùng những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra đến phiên tòa sơ thẩm được xác định là hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở xác định:
Trong khoảng thời gian từ ngày 10/01/2023 đến ngày 21/8/2024, tại khu dân cư mới H, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, bị cáo Nguyễn Văn T đã thực hiện hành vi cho vay tiền nhiều lần đối với các cá nhân, gồm: anh Phạm Văn H1, chị Đặng Thị L, anh Nguyễn Ngọc H2, anh Phùng Đức V, anh Trần Đặng Đức T1, anh Nguyễn Văn H3, anh Nguyễn Văn T2, anh Vũ Văn T3, anh Đào Ngọc H4, anh Vũ Văn Đ1, anh Nguyễn Tá H5, anh Trương Văn H6, anh Đỗ Năng N2, anh Lê Quốc A, anh Trần Văn Q, anh Phạm Văn T4, anh Cao Văn H7, anh Nguyễn Văn Đ2 và anh Phạm Văn B. Tổng số tiền cho vay là 459.000.000 đồng với mức lãi suất từ 3.000 đồng đến 100.000 đồng/1 triệu đồng/ngày (tương đương 109,5%/năm đến 3.650%/năm). Số tiền thu lợi bất chính từ hành vi cho vay lãi nặng là 119.857.726 đồng.
Bị cáo Nguyễn Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Mặc dù bị cáo ý thức được rằng hành vi cho vay lãi nặng bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì mục đích vụ lợi, bị cáo vẫn thực hiện hành vi cho vay với lãi suất cao gấp 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn T đã cấu thành tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, đồng thời xâm phạm lợi ích hợp pháp của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[3]. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có bố đẻ là cựu chiến binh, từng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, quá trình điều tra bị cáo tự nguyện nộp số tiền 3.000.000 đồng vào tài khoản của Công an tỉnh để khắc phục hậu quả nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Về nhân thân bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[4]. Về hình phạt: Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, vì động cơ vụ lợi nên áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ tác dụng trừng phạt đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[5]. Về biện pháp tư pháp:
5.1. Đối với 02 quyển sổ màu xanh và 01 quyển sổ màu vàng, Cơ quan điều tra đã thu giữ trong quá trình điều tra là những vật chứng chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án.
5.2. Đối với 17 xe mô tô; 02 xe ô tô và 13 giấy đăng ký xe kèm theo, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng. Bị cáo không có ý kiến gì với việc Cơ quan điều tra đã trả các tài sản trên nên không đặt ra xem xét.
- Đối với 04 xe mô tô và giấy đăng ký xe kèm theo, quá trình điều tra Cơ quan điều tra chưa ghi được lời khai của chủ sở hữu hợp pháp hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hiện vắng mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật vì vậy tiếp tục lưu tại kho vật chứng của Cơ quan điều tra chờ xác minh, xử lý sau. Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 xe mô tô Honda Cup, BKS 89F2-3268, quá trình điều tra làm rõ chủ sở hữu là bà Phạm Thị T6, sinh năm 1962, tại thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên, đã giao quyền sử dụng và quản lý cho anh Cao Văn H7 (con trai bà T6). H7 mang xe mô tô trên thế chấp vay tiền của T. Xác định chiếc xe trên là của bà Phạm Thị T6 nên trả lại cho bà Phạm Thị T6.
- Đối với số tiền đã thu giữ khi bắt quả tang là 68.600.000 đồng, trong đó có 64.100.000 đồng là tài sản cá nhân của chị Nguyễn Thị Thu H9 (vợ T), không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho chị Nguyễn Thị Thu H9. Số còn lại là 4.500.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên sẽ tịch thu sung vào ngân sách và đối trừ với các khoản tiền mà T phải nộp.
5.3. Đối với số tiền gốc: Tổng số tiền gốc bị cáo Nguyễn Văn T đã cho vay là 459.000.000 đồng. Đây là khoản tiền liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước, trong đó:
- - Bị cáo đã nhận lại 406.000.000 đồng (1) từ những người vay, gồm Trần Đặng Đức T1, Nguyễn Văn T2, Vũ Văn T3, Đào Ngọc H4, Vũ Văn Đ1, Nguyễn Văn H10, Nguyễn Tá H5, Trương Văn H6, Đỗ Năng N2, Trần Văn Q, Phạm Văn T4, Nguyễn Văn Đ2, Nguyễn Ngọc H2 và Phùng Đức V.
- - Số tiền gốc chưa trả lại là 53.000.000 đồng, thuộc về các người vay sau: Phạm Văn H1 (22.000.000 đồng), Đặng Thị L (15.000.000 đồng), Lê Quốc A (7.000.000 đồng), Cao Văn H7 (7.000.000 đồng), Phạm Văn B (2.000.000 đồng).
Do vậy, cần truy thu để sung vào ngân sách từ bị cáo và từ các người vay chưa trả.
5.4. Đối với tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (20%): Bị cáo Nguyễn Văn T đã thu là 9.820.822 đồng (2). Đây là khoản tiền liên quan đến hành vi phạm tội, cần truy thu từ bị cáo để sung ngân sách nhà nước.
5.5. Đối với tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (20%): Tổng số tiền mà bị cáo thu được là 119.857.726 đồng. Khoản tiền này phải trả lại cho người vay nếu có yêu cầu. Tuy nhiên, các cá nhân sau không có ý kiến về khoản này gồm: Phạm Văn H1, Đặng Thị L, Nguyễn Ngọc H2, Phùng Đức V, Trần Đặng Đức T1,Nguyễn Văn H3,Nguyễn Văn T2, Vũ Văn T3, Trương Văn H6, Trần Văn Q, Phạm Văn T4, Cao Văn H7. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét xử lý khoản tiền này.
Hai người vay có yêu cầu trả lại tiền lãi vượt mức được chấp nhận, gồm:
- - Anh Nguyễn Tá H5 đã trả lãi vượt mức cho T là: 15.534.247 đồng;
- - Anh Lê Quốc A đã trả lãi vượt mức cho T là 7.479.452 đồng.
Số tiền bị cáo phải nộp để sung vào ngân sách gồm tiền gốc (1) và tiền lãi đến 20%(2) là 406.000.000 + 9.820822 = 415.820.822 đồng.
[6]. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự".
[2]. Về hình phạt: Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 230.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi triệu đồng).
[3]. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu, truy thu tiền sung vào ngân sách Nhà nước của bị cáo và các cá nhân sau:
- - Bị cáo Nguyễn Văn T: số tiền 415.820.822 đồng. Được trừ số tiền bị cáo đã tự nguyện nộp 3.000.000 đồng và số tiền bị thu giữ khi bắt quả tang 4.500.000 đồng, bị cáo Nguyễn Văn T còn phải nộp số tiền là 408.320.822 đồng (Bốn trăm lẻ tám triệu ba trăm hai mươi nghìn tám trăm hai mươi hai đồng).
- - Anh Phạm Văn H1; sinh năm 1996, trú tại thôn Đ, xã P, huyện V, tỉnh Hưng Yên: 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng).
- - Chị Đặng Thị L; sinh năm 1994, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương: 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
- - Anh Lê Quốc A; sinh năm 2002, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa: 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).
- - Anh Cao Văn H7; sinh năm 1987, trú tại thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên: 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).
- - Anh Phạm Văn B; sinh năm 1990, trú tại thôn X, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên: 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
Buộc bị cáo trả lại cho người vay có yêu cầu trả lại tiền lãi vượt mức, cụ thể:
- - Trả cho anh Nguyễn Tá H5 số tiền 15.534.247 đồng (Mười lăm triệu năm trăm ba mươi tư nghìn hai trăm bốn mươi bảy đồng).
- - Trả cho anh Lê Quốc A số tiền 7.479.452 đồng (Bảy triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng).
Vật chứng:
- - Lưu tại hồ sơ vụ án: 02 quyển sổ màu xanh và 01 quyển sổ màu vàng.
- - Trả lại bà Phạm Thị T6, sinh năm 1962, trú tại thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên: 01 xe mô tô HONDA CUP, BKS: 89F2-3268.
- - Trả lại chị Nguyễn Thị Thu H9 (vợ của bị cáo): 64.100.000 đồng (Sáu mươi tư triệu một trăm nghìn đồng).
(Đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 11 năm 2024 giữa Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên và Công an tỉnh H).
[4]. Về án phí: Bị cáo phải chịu: 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án và Cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án, người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ sẽ phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định pháp luật, tính trên số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Việc thi hành án được thực hiện theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, theo đó các bên có quyền thoả thuận, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Phượng |
Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 116/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T cho vay lãi nặng
