|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 116/2024/KDTM-PT
Ngày: 13-5-2024
V/v tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Quỳnh Trâm
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Bích Thảo
Bà Lưu Thị Đoan Trang
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Ngọc Thy Thơ – Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Mỹ Anh – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09-4-2024, ngày 07-5-2024 và ngày 13-5-2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2024/TLPT-KDTM ngày 03-01-2024 về tranh chấp “hợp đồng cung ứng dịch vụ”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 168/2023/KDTM-ST ngày 21-9-2023 của Toà án nhân dân quận Bình Tân bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 696/2024/QĐ-PT ngày 20-02-2024, Quyết định hoãn phiên toà số 2816/2024/QĐ-PT ngày 13-3-2024; Quyết định tạm ngừng phiên toà số 16382/2024/QĐ-PT ngày 09-4-2024; Quyết định tạm ngừng phiên toà số 5603 /2024/QĐ-PT ngày 07-5-2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH G
Địa chỉ: Lô D Đường số A, KCN T, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: bà Phạm Thị H, sinh năm 1979; địa chỉ: 4 N, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 30-01-2024) (có mặt).
Bị đơn: Công ty C
Địa chỉ: Lô B Đường số H, KCN T, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: ông Lê Văn H1, sinh năm 1959; Địa chỉ: Số A Lô O, cư xá P, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo pháp luật (có mặt).
Kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Bị đơn Công ty C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 22-11-2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 09-12-2022 và ngày 22-02-2023; các bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Công ty TNHH G (sau đây gọi là Công ty G) có ký nhiều hợp đồng dịch vụ bảo quản hàng lạnh với Công ty C (sau đây gọi là Công ty C) từ năm 2014 đến nay; theo đó, Công ty G gởi hàng vào kho lạnh của Công ty C để lưu trữ và có trả phí.
Ngày 26-7-2019, Công ty G tái ký Hợp đồng số 24/HĐDV-KL/2019 thuê kho lạnh với Công ty C. Theo đó, ngày 27-7-2019, Công ty G gửi 495 thùng trái cau với trọng lượng 18kg/thùng = 8.910 kg vào kho của Công ty C theo phiếu gửi kho số N3/270719; Ngày 11-4-2020, Công ty G lấy lại 105 thùng trái cau x 18kg = 1.890 kg theo phiếu xuất kho số X2/110420. Ngày 18-3-2021, Công ty C gửi thư xác nhận số tiền phải thu đến ngày 31-12-2020 là 33.253.336 đồng đến Công ty G. Do nhu cầu lấy lại hàng để bán, ngày 16-6-2021, Công ty G gửi thông báo đến Công ty C đề nghị xuất kho số hàng trái cau còn lại hiện đang được lưu giữ tại kho lạnh của Công ty C (389 thùng x 18kg = 7.002kg). Ngày 22-6-2021, Công ty C có văn bản trả lời đã thanh lý 389 thùng trái cau của Công ty G1 cấn trừ công nợ và các khoản phí liên quan.
Quá trình thực hiện hợp đồng thuê kho, Công ty G đã thanh toán đầy đủ cho Công ty C, cụ thể: tổng số tiền hoá đơn Công ty C gửi Công ty G (ngày 31-7; 31-8; 30-9; 31-10; 30-11; 31-12-2019; 30-01; 29-02; 31-3; 29-4; 31-5; 30-6; 31-7; 30-8; 30-9-2020) là 110.965.007 đồng và số tiền Công ty G đã chuyển khoản thanh toán (tính từ ngày 04-10-2019 đến 27-8-2020) là 128.218.171 đồng. Như vậy, thực tế số tiền Công ty G thanh toán vượt hơn so với hoá đơn Công ty C xuất gửi. Sau ngày 30-9-2020, Công ty G không nhận được hoá đơn của Công ty C gửi nên không có cơ sở thanh toán.
Việc Công ty C tự ý thanh lý (bán) hàng hóa là trái cau gửi bảo quản đã gây thiệt hại cho Công ty G nên Công ty G khởi kiện yêu cầu Công ty C phải trả lại giá trị lô hàng tương ứng số tiền là 845.050.374 đồng. Số tiền này được tính theo giá mỗi ký cau thành phẩm Công ty G đã ký bán với bên mua hàng Richwell Group, INC là 4.9 USD (cụ thể là 16oz giá 2,2 USD mà 1oz = 28,35g nên 1 ký giá 4,9 USD); theo đó: 7.002kg x 4,9 USD/kg x tỷ giá 24.630 đồng = 845.050.374 đồng.
Tại các bản tự khai và các Biên bản trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn trình bày: Công ty C xác nhận có ký kết Hợp đồng cho thuê kho lạnh số 24/HĐDV-KL/2019 ngày 26-7-2019 với Công ty G và nhận gửi bảo quản tại kho lạnh của Công ty C 495 thùng trái cau với trọng lượng 18kg/thùng = 495 thùng x 18 kg = 8.910 kg của Công ty G theo phiếu gửi kho số N3/270719; đến ngày 11-4-2020, Công ty G đã lấy lại 105 thùng trái cau x 18 kg = 1.890 kg theo phiếu xuất kho số X2/110420 như trình bày của nguyên đơn.
Hợp đồng cho thuê kho đã hết hiệu lực vào ngày 31-12-2019 và Công ty G không liên hệ để nhận lại hàng cũng như không thanh toán phí thuê kho mặc dù Công ty C đã nhiều lần điện thoại, gửi email nhắc nhở. Sau 04 lần thông báo chính thức bằng văn bản, Công ty G mới thanh toán một phần và tiếp tục chậm thanh toán gần 03 tháng nên Công ty C tiếp tục gửi các thông báo vào các ngày 30-10-2020, 06-11-2020 và 05-01-2021 hợp lệ cho Công ty G thông qua bà Nguyễn Đỗ Kiều O, yêu cầu thanh toán phí thuê kho nếu không Công ty C sẽ thanh lý hàng hoá đang lưu kho để cấn trừ khoản phí còn nợ chưa thanh toán, tuy nhiên Công ty G vẫn không có văn bản hoặc bất kỳ động thái nào phản hồi về số công nợ trên cũng như không đề nghị gia hạn hợp đồng nên Công ty C căn cứ vào khoản 1 Điều 10 chấm dứt hợp đồng cho thuê kho lạnh số 24 ngày 26-7-2019 giữa hai bên, quyết định thành lập Hội đồng thanh lý của Công ty để tiến hành thanh lý số cau mất phẩm chất do gửi quá lâu nhằm cấn trừ một phần công nợ, giảm thiệt hại cho Công ty. Hội đồng thanh lý Công ty đã họp ngày 21-5-2021 (Biên bản họp số 83/BB-HĐTL-HV). Ngày 22-5-2021, khách hàng cá nhân là ông Trương Thanh L đã kiểm tra lô hàng và có đơn xin mua với giá 1.500đ/kg do hàng kém phẩm chất và Công ty C đã duyệt bán.
Sau khi biết Công ty C đã bán thanh lý số cau trên, Công ty G có công văn không số ngày 16-6-2021 gửi Công ty C đề nghị được nhận lại toàn bộ số cau trên và sẽ thanh toán trước khi lấy hàng.
Do Công ty G không đề nghị gia hạn hợp đồng, không thanh toán dù Công ty C đã nhiều lần gọi điện, gửi email và văn bản chính thức nhắc nhở. Để giải phóng kho do hàng hóa có dấu hiệu xuống cấp vì ngâm nước lâu, Công ty C đã thông báo nhiều lần theo đúng thủ tục, thời hạn sẽ thanh lý cho Công ty G biết, nhưng không nhận được phản hồi từ Công ty G nên Công ty C không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty G.
Tại phiên toà sơ thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Kể từ sau ngày 30-9-2020, Công ty G không nhận được hoá đơn của Công ty C xuất gửi nên không có cơ sở thanh toán, không nhận được bất cứ thông báo nào của Công ty C về việc yêu cầu thanh toán phí còn nợ và thanh lý hàng hoá; Công ty G không có nhân viên nào tên Nguyễn Đỗ Kiều O nên không có chuyện phân công nhân viên này chịu trách nhiệm liên lạc và nhận thông tin từ Công ty C; mặt khác hàng hoá Công ty G gửi tại Công ty C không đóng thời hạn sử dụng, đối với các loại hàng hoá này Công ty tạm gửi ở kho lạnh của Công ty C nhằm chờ ký hợp đồng bán cho đối tác và xác định được ngày gửi hàng thì Công ty G mới xuất hàng ra khỏi kho, đóng dấu hạn sử dụng gửi cho đối tác (bên mua); việc Công ty C cho rằng hàng hoá hết hạn sử dụng, mất phẩm chất và tự ý đem bán lô hàng của Công ty G khi chưa có ý kiến của Công ty G là không thể chấp nhận được, gây thiệt hại cho Công ty G nên giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc Công ty C trả lại giá trị lô hàng theo giá bình quân 02 năm liền kề (2020 và 2021) Công ty G xuất bán cho đối tác là 1.69 USD cho 1 gói 16 ounce (oz), 01 Kg = 3.73 USD (làm tròn), đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quy đổi theo tỉ giá được niêm yết trên B ngày 21-9-2023 là 24.140 đồng thành tiền của 7002kg là 630.474.084 đồng; yêu cầu Công ty C trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày, mặc dù Hợp đồng cho thuê kho lạnh số 24/HĐDV-KL/2019 ngày 26-7-2019 không quy định nợ phí thuê kho chưa thanh toán là điều kiện dẫn đến thanh lý hàng hoá nhưng giữa hai Công ty có thoả thuận miệng với nhau nếu Công ty G nợ phí thuê kho thì Công ty C được quyền thanh lý hàng hoá để thu hồi nợ; Công ty C đã có 03 thông báo cho Công ty G (theo các thông báo ngày 30-10-2020, 06-11-2020 và 05-01-2021) yêu cầu Công ty G thanh toán phí thuê kho nhưng không nhận được phản hồi và thanh toán của Công ty G, đối với các Thông báo này mặc dù không được gửi qua đường bưu điện nhưng Công ty C đã thông báo qua bà Nguyễn Đỗ Kiều O; bà O tự nhận là vợ của giám đốc Công ty G, là người đứng ra giao nhận hàng hoá, giao nhận chứng từ giao dịch, xuất nhập hàng hoá nên Công ty C tin tưởng, liên lạc và thông báo cho bà O để bà O báo lại cho Công ty G; mặt khác, Công ty C mở lô hàng và quan sát bằng mắt thường thấy hàng hoá là trái cau của Công ty G gửi bảo quản tại kho của Công ty C đã hư hỏng, bị ngấm nước, không còn sử dụng được nên tiến hành thanh lý. Việc Công ty C là đúng quy định tại Điều 8 của hợp đồng thuê kho lạnh số 24/HĐDV-KL/2019 ngày 26-7-2019 giữa hai bên nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 168/2023/KDTM-ST ngày 21-9-2023 của Toà án nhân dân quận Bình Tân đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH G:
Buộc Công ty C trả cho Công ty TNHH G giá trị lô hàng 7.002 kg trái cau đã bị Công ty C là 630.474.084 (sáu trăm ba mươi triệu, bốn trăm bảy mươi bốn nghìn, không trăm tám mươi bốn) đồng.
Trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ khi Công ty TNHH G có đơn yêu cầu thi hành án nếu Công ty C chưa thanh toán thì hằng tháng Công ty C còn phải chịu thêm tiền lãi đối với số dư nợ gốc theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian và khoản tiền chưa thi hành án.
Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, kháng nghị, quyền thi hành án của đương sự theo luật định.
Sau khi Toà án nhân dân quận Bình Tân xét xử, ngày 05-10-2023, Công ty C có Đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 05-10-2023, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 09/QĐ-VKS-KDTM kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm số 168/2023/KDTM-ST ngày 21-9-2023 của Toà án nhân dân quận Bình Tân, đề nghị hủy bản án sơ thẩm nêu trên.
Tại phiên toà phúc thẩm,
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, không đồng ý với kháng nghị của Viện Kiểm sát. Đề nghị cấp phúc thẩm y án sơ thẩm.
Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bán án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng ý với kháng nghị của Viện Kiểm sát.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên toà và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung kháng nghị:
Theo nội dung vi bằng được bị đơn lập cho thấy tài khoản zalo số điện thoại 0916.828.xxx trao đổi với đại diện bị đơn, thể hiện nội dung bị đơn đã nhiều lần nhắc nhở, gửi thông báo thanh toán phí dịch vụ qua số điện thoại này và nhận được trả lời về việc hứa thanh toán phí thuê kho. Phía nguyên đơn xác định không có nhân viên nào tên Nguyễn Đỗ Kiều O, không sử dụng tài khoản zalo có số điện thoại 0916.828.xxx trao đổi với đại diện bị đơn; tuy nhiên cấp sơ thẩm chưa tiến hành xác minh làm rõ số điện thoại 0916.828.xxx là của ai để kiểm tra tính có căn cứ các tin nhắn trong vi bằng, chưa làm rõ nội dung trao đổi qua email, không triệu tập bà O, ông T là nhân viên của nguyên đơn tham gia tố tụng để làm rõ nội dung vụ án là có vi phạm, thiếu sót trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ.
Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn 630.474.084 đồng do thanh lý lô hàng trái cau là chưa đủ cơ sở, do các tài liệu chứng cứ chứng minh giá trị bồi thường mà nguyên đơn cung cấp là bản tiếng Anh chưa được dịch thuật, tài liệu phô tô... chưa bảo đảm về chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Từ phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, kháng cáo của Công ty C; căn sứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 168/2023/KDTM-ST ngày 21-9-2023, chuyển hồ sơ cho Toà án nhân dân quận Bình Tân giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Tại phiên toà, các bên đương sự không tự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút kháng cáo, Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không rút kháng nghị nên Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán giá trị lô hàng gửi tại kho lạnh của bị đơn theo Hợp đồng cho thuê kho lạnh số 24/HĐDV-KL/2019 ngày 26-7-2019. Đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa hai tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận; bị đơn có trụ sở tại quận B, Thành phố Hồ Chí Minh nên Toà án nhân dân quận Bình Tân xét xử sơ thẩm là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Người đại diện hợp pháp của bị đơn có mặt tại phiên toà sơ thẩm ngày 21-9-2023, Đơn kháng cáo của bị đơn gửi đến Toà án cấp sơ thẩm ngày 05-10-2023; đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tham gia phiên toà sơ thẩm, ngày 06-10-2023 Toà án nhân dân quận Bình Tân nhận được Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân. Kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định và hợp lệ nên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết theo thủ tục phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 3 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[3] Xét thấy, bị đơn căn cứ Điều 8, Điều 10 của Hợp đồng số 24/HDDV-KL/2019 ngày 26-7-2019 để chấm dứt Hợp đồng và tiến hành thanh lý, tiêu huỷ hàng hoá mà nguyên đơn đang gửi tại kho lạnh của bị đơn. Trước đó, bị đơn đã gửi các Thông báo vào các ngày 25-12-2020; 29-12-2020, 05-01-2021 và ngày 13-01-2021 cho nguyên đơn thông qua bà Nguyễn Đỗ Kiều O – trước đây là Giám đốc Công ty N. Đồng thời, bị đơn cung cấp tài liệu chứng cứ là Vi bằng số 373/2023/VB-TPL do Văn phòng T1 lập ngày 04-8-2023 ghi nhận nội dung các tin nhắn trao đổi qua ứng dụng Zalo giữa nhân viên Công ty C với tài khoản zalo số điện thoại 0916.828.xxx của bà Nguyễn Đỗ Kiều O; Bị đơn xác định từ trước tới nay chỉ làm việc với bà O qua số điện thoại, tài khoản zalo nêu trên và địa chỉ email haichauseafood73@gmail.comOanh là vợ của ông Trần Hữu K, đại diện theo pháp luật hiện nay của Công ty G). Tuy nhiên, nguyên đơn khai bà Nguyễn Đỗ Kiều O không phải là nhân viên công ty, không biết bà O là ai và nguyên đơn cũng không dùng tài khoản zalo có số điện thoại nói trên để liên hệ với bị đơn. Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm không triệu tập bà Nguyễn Đỗ Kiều O tham gia tố tụng để làm rõ nội dung tranh chấp, không xác minh số điện thoại 0916.828.xxx là của ai... mà cho rằng bị đơn vi phạm khi tiến hành thanh lý hàng hoá nên phải bồi thường cho nguyên đơn là thiếu sót trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ.
[4] Mặt khác, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn bồi thường giá trị của lô hàng 7.002 kg trái cau theo giá nguyên đơn xuất bán cho đối tác là Richwell Group, INC. Tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp là các hợp đồng, vận đơn đường biển, hoá đơn, email... là bản phô tô, tài liệu tiếng Anh, không được dịch thuật, công chứng để làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án là không phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 95, khoản 3 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy, cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; kháng cáo của bị đơn; kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân là có căn cứ; do đó cần huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân quận Bình Tân giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên toà.
[6] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Do Bản án sơ thẩm bị huỷ nên các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận kháng cáo của Công ty C; Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 38; khoản 3 Điều 308, Điều 310, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Luật Thi hành án dân sự;
Xử:
- Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 168/2023/KDTM-ST ngày 21-9-2023 của Toà án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Công ty C không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả cho Công ty C số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 2.000.000 (hai triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2023/0026502 ngày 05-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Quỳnh Trâm |
Bản án số 116/2024/KDTM-PT ngày 13/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ
- Số bản án: 116/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 168/2023/KDTM-ST ngày 21-9-2023 của Toà án nhân dân quận Bình Tân, chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân quận Bình Tân
