|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 116/2024/HS-ST Ngày 27-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Chung
2. Ông Nguyễn Văn Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xuân Thảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 113/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐXXST-HS ngày 16/8/2024 đối với bị cáo:
Lê Đình Q, sinh năm 1995 tại xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Đình M và bà Nguyễn Thị N.
Tiền án: Ngày 17/02/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2022/HS-ST.
Tiền sự: Không;
Nhân thân:
- - Ngày 05/7/2021, bị Công an huyện N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy.
- - Ngày 17/12/2023, bị Công an thị xã N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/9/2023 cho đến nay. Hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh T.
- Người làm chứng: Nguyễn Đình T, sinh năm 1996. Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 10 giờ 50 phút ngày 25/9/2023, Tổ công tác số 1 Công an thị xã N tuần tra làm nhiệm vụ tại khu vực thôn S, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành dừng phương tiện xe mô tô biển kiểm soát 36B5-819.52, kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Đình T, sinh năm 1996 và Lê Đình Q, sinh năm 1995, đều trú tại thôn T, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần bên phải phía trước của Q có 04 gói giấy màu trắng, loại giấy có dòng kẻ, bên ngoài quấn băng dính màu đen ở giữa gói, bên trong các gói đều chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn. Khai thác tại chỗ, Q khai nhận chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn trong 04 gói giấy trên là ma túy, loại Heroine, Q nhờ T chở đi bán cho khách và T cũng thừa nhận được Q nhờ chở đi bán ma túy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Đình Q và Nguyễn Đình T về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ, niêm phong số ma túy; thu giữ điện thoại di động và xe mô tô của các đối tượng phục vụ công tác điều tra, sau đó bàn giao hồ sơ, vật chứng và người bị bắt cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N để điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận giám định số 3468/KL-KTHS ngày 28/9/2023, Phòng Kỹ thật hỡnh sự Công an tỉnh T kết luận: “Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn bên trong 04 gói giấy màu trắng có dòng kẻ của phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng là 0,208g, loại Heroine”.
Quá trình điều tra đã chứng minh, làm rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Lê Đình Q và Nguyễn Đình T cụ thể như sau:
Ngày 24/9/2023, Lê Đình Q nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0972.189.xxx của một người Nam giới không quen biết, giới thiệu là người ở thị xã N, gọi đến hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy, loại H, Q đồng ý và yêu cầu người này gửi tiền vào tài khoản số [...] Ngân hàng S cho Lê Đình Q. Sau đó, tài khoản của Q nhận được số tiền 990.000 đồng do người này chuyển đến từ số tài khoản 513019868999. Sau khi nhận được tiền, Q liên hệ với một người tên “C” ở phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh qua số điện thoại 0964.451.xxx hỏi mua ma túy. Sau đó Q đi xe khách ra Bắc Ninh mua được 06 gói ma tuý, loại Heroine với giá 1.200.000 đồng đem về phân chia và gói lại thành 08 gói, Q sử dụng 03 gói, 05 gói còn lại Q bỏ vào túi quần. Đến sáng ngày 25/9/2023, người đặt mua ma túy ở thị xã N gọi điện cho Q để lấy ma túy, hai bên thống nhất địa điểm giao ma túy tại khu vực cầu T thuộc địa phận xã T, thị xã N. Thỏa thuận xong, Q gọi điện cho Lê Đình T1, nhờ T1 chở xuống thị xã N để bá ma túy. Khi T1 đến, Q lấy 01 gói ma túy đưa cho T1 sử dụng, còn lại 04 gói Q bỏ vào túi quần rồi bảo T1 chở xuống thị xã N để giao ma túy. Thống điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 36B5-819.52 chở Q đi xuống thị xã N, khi đến thôn S, xã T, thị xã N, thì Q và T1 bị Tổ công tác Công an thị xã N kiểm tra phát hiện, bắt quả tang.
Ngoài ra, trong giai đoạn điều tra ban đầu Q khai nhận trước đó vào ngày 23/9/2023 người nam giới trên nhờ Q mua hộ cho 500.000 đồng ma túy và sáng ngày 24/9/2023, người đàn ông này còn chuyển khoản cho Q thêm 1.000.000 đồng để mua 02 gói ma túy. Số ma túy các lần này Q khai đều nhờ Lê Ngọc N1, sinh năm 1987, ở xã Đ, huyện T, tỉnh Thanh Hóa mua hộ. Tuy nhiên sau đó trong quá trình truy tố, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và điều tra lại, Q đã phủ nhận toàn bộ nội dung khai báo trên, không thừa nhận đã mua hộ ma tuý và bán ma túy vào cho người này vào các ngày 23 và 24/9/2023, Q chỉ khai nhận ngày 23/9/2024 có nhờ N1 mua hộ 500.000 đồng ma túy để sử dụng và có cầm giúp 01 gói ma túy Nhất nhờ đưa cho người Nam giới trên. Quá trình điều tra và điều tra lại không xác định được người Nam giới sử dụng số điện thoại 0972.189.xxx mua ma túy của Q là ai, ở đâu. Do đó không có căn cứ để xác định đã mua hộ ma tuý và bán ma túy vào cho người này vào các ngày 23 và 24/9/2023.
Về phần Nguyễn Đình T, quá trình điều tra cũng đã thừa nhận bản thân được Q nhờ chở xuống thị xã N để giao ma túy cho khách mua. Khi đến quán nước ở thôn T, xã M, huyện N đón Q, thì T được Q cho 01 gói ma túy có đặc điểm giống như các gói ma túy thu giữ khi bắt quả tang và T đã sử dụng hết gói ma túy này, sau đó T chở Q xuống N, trên đường đi thì bị Tổ công tác Công an thị xã N phát hiện, bắt quả tang.
Ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma túy nêu trên, quá trình điều tra còn xác định Lê Đình Q và Nguyễn Đình T còn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thị xã N xử phạt vi phạm hành chính đối với Q và T theo quy định của pháp luật.
Đối với người nam giới ở thị xã N sử dụng số điện thoại 0972.189.xxx đặt mua ma tuý của Q, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, làm việc với chủ thuê bao số điện thoại này là anh Lê Đình P, sinh năm 1990, trú tại phường H, thị xã N, anh P khai số điện thoại này khoảng 05 tháng trước anh đã làm mất, hiện nay anh cũng không rõ ai đang sử dụng số điện thoại này. Cơ quan điều tra đã cho Q nhận dạng, kết quả Quyết xác định anh P không phải là người dùng số điện thoại 0972.189.xxx đặt mua ma túy của Quyết nên Cơ quan điều tra không xác minh, làm rõ được người đã đặt mua ma túy của Q để xử lý theo quy định.
Đối với người nam giới tên C sử dụng số điện thoại 0964.451.xxx, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định chủ thuê bao số điện thoại này là Lường Đức T2, sinh năm 1981, trú tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Cơ quan điều tra đã triệu tập T2 đến làm việc, nhưng T2 không có mặt tại địa phương nên không thu thập được lời khai của T2. Tiến hành cho Q nhận dạng Lường Đức T2 qua ảnh, kết quả Quyết xác định T2 không phải là người đàn ông tên “C” đã bán ma túy cho Q nên Cơ quan điều tra không xác minh, làm rõ được người đã bán mua ma túy của Q để xử lý theo quy định.
Đối với Lê Ngọc N1, quá trình điều tra N1 khai nhận đã 02 lần mua hộ ma túy, loại Heroine cho Q, nhưng Q chỉ thừa nhận nhờ N1 mua 500.000 đồng ma túy vào ngày 23/9/2023 để sử dụng nên chỉ có cơ sở xác định lần mua hộ ma túy này. Do số ma túy Q đã sử dụng hết nên không xác định được khối lượng, bản thân N1 chưa có tiền án, tiền sự về ma túy nên không có căn cứ xử lý N1 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Kết quả xét nghiệm nước tiểu Nhất dương tính với H nên Công an thị xã N đã xử phạt vi phạm hành chính đối với N1 về hành vi sử dụng phép chất ma tuý theo quy định.
Đối với Lê Ngọc T3 là chủ tài khoản 5230198689999 (Ngân hàng M1) chuyển 990.000 đồng vào tài khoản số số [...] (Ngân hàng S1) của Lê Đình Q lúc 08 giờ 11phút ngày 24/9/2023, anh T3 không biết mục đích chuyển tiền nên anh T3 không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Đối với người đàn ông sử dụng số điện thoại 0342.954.xxx mà Lê Ngọc N1 khai đã bán ma tuý cho N1 vào ngày 23/9/2023 và ngày 24/9/2023 tại khu vực trước cổng Bệnh viện N2, Cơ quan điều tra đã có công văn trao đổi thông tin đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để tiến hành xác minh, làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.
Xác minh nguồn gốc chiếc xe mô tô Yamaha Sirius, biển kiểm soát: 36B5-819.52, xác định chiếc xe này là của chị Nguyễn Thị V, chị gái T cho T mượn sử dụng. Việc T lấy xe chở Q đi bán ma túy, chị V không biết.
Về vật chứng của vụ án:
Quá trình điều tra, thông qua bắt quả tang, khám xét khẩn cấp và bị can giao nộp, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng, đồ vật, tài liệu sau:
- - Thu giữ của Lê Đình Q khi bắt quả tang: 04 gói giấy màu trắng, loại giấy có dòng kẻ, bên ngoài đều được quấn băng dính màu đen ở giữa các gói giấy, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn (kết quả giám định là H1); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, đã qua sử dụng bên trong lắp số sim là 0357.897.349; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, đã qua sử dụng, bên trong lắp số sim 0334.252.008
- - Thu giữ của Lê Đình Q khi khám xét khẩn cấp nơi ở: Số tiền 1.000.000 đồng, gồm 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (Kết quả giám định là tiền thật).
- - Thu giữ của Nguyễn Đình T khi bắt quả tang: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, đã qua sử dụng, bên trong lắp số sim 0379.351.972; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ, đen, biển kiểm soát: 36B5-819.52.
- - Thu giữ của Lê Ngọc N1 khi khám xét khẩn cấp nơi ở: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, bên trong lắp sim số 0799011857 và số tiền 1.250.000 đồng (Kết quả giám định là tiền thật).
Sau khi xác minh nguồn gốc tài sản thu giữ, xét thấy không liên quan hoặc không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã Quyết định xử lý:
- - Trả lại cho chủ phương tiện là chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ, đen, biển kiểm soát 36B5-819.52.
- - Trả lại cho bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1965, trú tại thôn T, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (mẹ đẻ của Lê Đình Q và là người được Q uỷ quyền nhận lại tài sản) số tiền 1.000.000 đồng.
- - Trả lại cho Lê Ngọc N1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, bên trong có lắp sim số 0799011857 và số tiền 1.250.000 đồng.
Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định ma túy, gồm toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu A1 và 0,177g chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn hoàn lại sau giám định. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T4, Lê Ngọc B và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, đã qua sử dụng bên trong lắp sim số 0357.897.349; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0334.252.008; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim 0 số 379.351.972 đã được xử lý tại Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 18/01/2024 của TAND thị xã Nghi Sơn.
Tại bản Cáo trạng số 136/CT-VKSNS ngày 14/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Nghi Sơn truy tố bị cáo Lê Đình Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Nghi Sơn giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Lê Đình Q từ 42 năm 48 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/9/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định ma túy, gồm toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu A1 và 0,177g chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn hoàn lại sau giám định. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T4, Lê Ngọc B và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, đã qua sử dụng bên trong lắp sim số 0357.897.349; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0334.252.008; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim 0 số 379.351.972 đã được xử lý tại Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 18/01/2024 của TAND thị xã Nghi Sơn.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Q thừa nhận: Vào khoảng 10 giờ 50 phút ngày 25/9/2023 tại thôn S, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, Lê Đình Q và Nguyễn Đình T đang có hành vi mang 04 gói ma túy có tổng khối lượng là 0,208g Heroine để bán cho một người đàn ông ở thị xã N (chưa xác định được danh tính, địa chỉ), thì bị Công an thị xã N phát hiện, bắt quả tang.
Như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Hành vi của bị cáo Lê Đình Q đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 215 Bộ luật hình sự. Quyết định truy tố của VKSND Thị xã Nghi Sơn và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.
Hành vi của Nguyễn Đình T đã bị xét xử tại Bản án 14/2024/HS-ST ngày 18/01/2024 của TAND thị xã Nghi Sơn.
- [3] Về tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm:
Heroin là chất ma túy có khả năng gây nghiện rất nhanh, chỉ dùng một vài lần, con người sẽ bị lệ thuộc, khi không có ma túy để sử dụng, người nghiện sẽ lên cơn vật vã, đau đớn có thể làm mọi việc bất chấp vi phạm pháp luật để có tiền mua ma túy sử dụng. Chính vì vậy, nhà nước ta độc quyền quản lý chất ma túy, mọi hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy đều bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Hành vi mua bán 0,208g Heroin của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước và gây mất trật tự trị an xã hội.
- [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích nên thuộc trường hợp tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
- [5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự qui định "Người phạm tội còn có thể phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản". Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- [6] Về án phí: Tại Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 18/01/2024 của TAND thị xã Nghi Sơn đã tuyên bị cáo phải chịu án phí 200.000đ là đúng quy định của pháp luật, phần này đã có hiệu lực pháp luật nên tại Bản án này bị cáo không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối Lê Đình Q. Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố: Lê Đình Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Lê Đình Q 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/9/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo Bản án 14/2024/HS-ST ngày 18/01/2024 của TAND thị xã Nghi Sơn.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Huyền |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Lê Thế Hải | Nguyễn Văn Dương | Nguyễn Thanh Huyền |
Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 116/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Lê Đình Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Lê Đình Q 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/9/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
