|
TAND HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU Bản án số:116/2024/HS-ST Ngày: 26-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Đới Xuân Huy |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Lý Ngọc Sáng Ông Bùi Thanh Hải |
|
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Kẻo - Kiểm sát viên. |
|
Trong ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 112/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2024/QĐXXST- HS ngày 13/9/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lý Á H - Sinh ngày 01 tháng 10 năm 1974.
Nơi cư trú: Bản X, xã N, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Cống; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý A L (đã chết) và bà Chang Thị S - sinh năm 1949; Bị cáo có vợ là Lò Thị N - sinh năm 1982 và 02 con. Con lớn sinh năm 2010 con nhỏ sinh năm 2013; Gia đình bị cáo có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2002 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Mường Tè xử phạt 24 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo bản án số 02/2002/HSST ngày 12/4/2002. Tính đến ngày phạm tội lần này bị cáo đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/6/2024 cho đến nay (Có mặt).
2. Họ và tên: Lò Văn T - Sinh ngày 21 tháng 11 năm 1978.
Nơi cư trú: Khu phố G, thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn D - sinh năm 1954 và bà Lò Thị P - sinh năm 1958; Bị cáo có vợ là Tống Thị T1 và 02 con. Con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2009; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không..
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/6/2024 cho đến nay (Có mặt).
- Bị hại: Ông Dương Đức M - sinh năm 1971.
Nơi thường trú: Bản X, xã N, huyện M, tỉnh Lai Châu. (Vắng mặt)
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Lò Văn C - sinh năm 1974
Nơi cư trú: Khu phố G, thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu. (Vắng mặt)
+ Bà Lò Thị N - sinh năm 1982
Nơi cư trú: Bản X, xã N, huyện M, tỉnh Lai Châu. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ, ngày 22/5/2024, Lý Á H đang ở lán nương của gia đình H thuộc khu vực gần đồi Cao su thuộc bản X, xã N, huyện M thì phát hiện một đàn dê (khoảng 07 - 08 con) của anh Dương Đức M đang phá nương sắn của gia đình H, lúc này H lên đuổi đàn dê ra ngoài nhưng đàn dê không ra. Sau đó, H quay về lán nương rồi lấy 01 chiếc nỏ được làm bằng gỗ để lên nương sắn với mục đích sẽ bắn dê nếu đuổi mà đàn dê trên không ra ngoài. Sau khi H quay lại, đàn dê trên vẫn chưa ra khỏi nương sắn của H, H tiếp tục đuổi ra ngoài nhưng đàn dê chạy sang nương lúa rồi chạy quay lại nương sắn của gia đình H. Tại đây, H đã dùng chiếc nỏ như đã nói ở trên hướng về đàn dê rồi bắn trúng vào vùng nách bên trái của một con dê cái có trọng lượng 29,4 kg.
Đến khoảng 19 giờ, cùng ngày, H một mình đi lên khu vực Hừ bắn con dê như đã mô tả ở trên để xem con dê mà Hừ bắn chết hay sống. Đến nơi, H thấy con dê còn sống, nằm im trong khe gần khu vực Hừ bắn nhưng không đi lại được và mũi tên mà H bắn vẫn còn cắm ở vùng nách bên trái con dê, lúc này H đã dùng tay kéo mũi tên ra khỏi con dê và nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Sau đó, H quay về lán nương rồi dùng điện thoại di động, đen trắng của bà Lò Thị N gọi điện thoại cho Lò Văn T, sinh năm: 1978, trú tại Khu phố G, thị trấn M, huyện M bảo T đến chỗ H lấy con dê trên đi bán lấy tiền chia nhau. T đồng ý, sau đó T một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda, màu trắng - đen, biển kiểm soát 25M1 - 099.14 đến chỗ Hừ. Tại lán nương của gia đình H, qua trao đổi (H đã kể cho T biết toàn bộ sự việc như đã nói ở trên), H và T thống nhất cùng nhau đi đến tại địa điểm như đã mô tả ở trên để lấy con dê mang đi bán (Hừ mang theo 01 con dao tông dài khoảng 60cm; 01 bao tải màu vàng cam, 01 túi bóng màu trắng; 01 đèn pin và 01 cái sọt). Tại đây, T giữ chân con dê, H dùng dao cắt cổ và 04 chân để lại, phần thân còn nguyên nội tạng H và T cho vào trong bao tải màu vàng cam và lót túi nilon màu trắng bên trong bao tải, sau đó cho vào sọt rồi cùng nhau mang về để mang đi bán. Đến chỗ T để xe, H, T cùng nhau lấy bao tải đựng dê ra khỏi sọt rồi buộc lên xe máy như đã nói ở trên để T chở đi bán trước khi T đi H nói với T là bán được bao nhiêu thì bán mang về cho Hừ 1.500.000₫ (Một triệu, năm trăm ngàn đồng).
Đến hồi 03 giờ 10 phút, ngày 23/5/2024, khi T đi đến khu vực đầu bản Xám Láng, xã N, huyện M thì gặp tổ công tác Công an xã N đang làm nhiệm vụ. Tại đây, tổ công tác đã yêu cầu T dừng xe để kiểm tra, quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện Trường chở phần thân con dê. Tại chỗ, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và khai nguồn gốc con dê T chở là dê của anh M có lai lịch như trên do Lý Á Hừ bắn và gọi điện cho T lên lấy mang đi bán lấy tiền chia nhau.
Căn cứ lời khai của T, ngày 23/5/2024, Công an xã N, huyện M đã triệu tập Lý Á H đến làm việc. Trong quá trình làm việc, H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Cùng ngày, tổ công tác Công an xã N đã yêu cầu T, H dẫn đến địa điểm mà H, T cắt cổ và chân dê để lại để thu giữ vật chứng. Cùng ngày, Công an xã N đã chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện M để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 27/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện M, kết luận: 01 con dê cái đã chết còn nguyên nội tạng, lông màu đen, có khoang trắng ở bụng có trọng lượng 29,4 kg, trị giá: 3.822.000 đồng
Tại bản cáo trạng số: 73/CT-VKS-MT ngày 28/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè đã truy tố các bị cáo Lý Á H, Lò Văn T về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phân tích các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Á H mức án từ 07 đến 12 tháng tù.
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn T mức án từ 07 đến 12 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Đề nghị áp dụng án phí theo quy định của pháp luật.
Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
- Trả lại 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, màu trắng - đen, biển kiểm soát 25M1 - 099.14 cho anh Lò Văn C.
- Trả lại 01 chiếc điện thoại di động màu xanh đen, mặt trước màn hình có ghi chữ "itel" có lắp sim số thuê bao 0377.535.231 cho bà Lò Thị N.
- Tịch thu bán hóa giá sung ngân sách Nhà nước giá trị chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi 9A, loại màn hình cảm ứng thu của bị cáo Lò Văn T.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc nỏ được làm bằng gỗ; 01 mũi tên nỏ được làm bằng cây tre, 01 con dao tông; 01 bao tải màu vàng cam; 01 túi nilon màu trắng; 01 chiếc đèn pin màu đen có dây đeo đầu; 01 chiếc sọt được làm bằng mây.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt trình bày: Các bị cáo đã bồi thường giá trị con dê nên không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm. Có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lò Văn C có đơn xin xét xử vắng mặt đề nghị xin lại chiếc xe máy bị cáo T đã dùng vào việc phạm tội. Đề nghị xét xử các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lò Thị N tại phiên tòa trình bày: Chiếc điện thoại bị cáo H dùng để liên lạc với bị cáo T là điện thoại của bà. Khi bị cáo H sử dụng chiếc điện thoại để liên lạc với bị cáo T chở dê đi bán bà không biết. Bà đề nghị xin lại chiếc điện thoại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện M, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Về tính chất, mức độ, hành vi của các bị cáo:
Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu đã truy tố.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng sơ hở trong việc trông coi, quản lý tài sản của chủ sở hữu hợp pháp, vào ngày 22/5/2024, tại khu vực thuộc bản X, xã N, huyện M, Lý Á H và Lò Văn T đã cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp 01 con dê, có trị giá: 3.822.000 đồng của anh Dương Đức M để mang đi bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân.
Các bị cáo đều có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Các bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi trộm cắp 01 con dê, có trị giá: 3.822.000 đồng của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác liên quan là hoàn toàn có cơ sở, đúng quy định của pháp luật cần chấp nhận.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
* Nhân thân:
- Năm 2002 bị cáo bị cáo Lý Á H bị Tòa án nhân dân huyện Mường Tè xử phạt 24 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo bản án số 02/2002/HSST ngày 12/4/2002. Tính đến ngày phạm tội lần này bị cáo đã được xóa án tích.
- Bị cáo Lò Văn T chưa có tiền án, tiền sự. Theo biểu mẫu thông tin người nghiện ma túy của Công an huyện M và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thì bị cáo là người nghiện chất ma túy.
* Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
* Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo đều tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; đối với bị cáo T phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử cần áp dụng cho các bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS. Đối với bị cáo T được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Bị cáo Lý Á H thực hiện tội phạm với vai trò là là người khởi sướng, người trực tiếp thực hiện tội phạm, bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo Lò Văn T thực hiện tội phạm với vai trò là người thực hiện, bị cáo là người nghiện chất ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, trong nhà không có tài sản có giá trị lớn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6]. Về vật chứng của vụ án: 01 con dê cái trong quá trình giải quyết vụ án đã xác định là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của anh Dương Mạnh Đ. Xét thấy, việc trả lại tài sản không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho bị hại. Việc xử lý vật chứng như vậy là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.
Đối với vật chứng là chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, màu trắng - đen, biển kiểm soát 25M1 - 099.14 là tài sản hợp pháp của anh Lò Văn C, bị cáo dùng vào việc phạm tội anh C không biết nên cần trả lại theo quy định.
Đối với chiếc chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A loại màn hình cảm ứng bị cáo T đã dùng để liên lạc với bị cáo H để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu bán hóa giá sung ngân sách Nhà nước.
01 chiếc điện thoại di động màu xanh đen, mặt trước màn hình có ghi chữ "itel" có lắp sim số thuê bao 0377.535.231 là tài sản hợp pháp của bà Lò Thị N, bà N không biết việc bị cáo H bắn dê và gọi bị cáo T đến lấy dê đi bán nên cần trả lại cho bà N theo quy định.
01 chiếc nỏ được làm bằng gỗ; 01 mũi tên nỏ được làm bằng cây tre, 01 con dao tông; 01 bao tải màu vàng cam; 01 túi nilon màu trắng; 01 chiếc đèn pin màu đen có dây đeo đầu; 01 chiếc sọt được làm bằng mây đều là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7]. Về những vấn đề khác:
Đối với Lò Văn C không biết việc bị cáo T sử dụng chiếc xe của mình để thực hiện hành vi phạm tội nên không đồng phạm với các bị cáo.
Đối với bà Lò Thị N, bà N không biết việc bị cáo H bắn dê và gọi bị cáo T đến lấy dê đi bán nên nên không đồng phạm với bị cáo.
[8]. Về án phí: Xét thấy gia đình bị cáo Lý Á H là hộ nghèo của xã. Nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo Lò Văn T bị kết án mà không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 46; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a, c Khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Lò Văn T.
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 46; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a, c Khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Lý Á H.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Đối với bị cáo Lò Văn T.
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Đối với bị cáo Lý Á H.
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lý Á H, Lò Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
- - Xử phạt bị cáo Lý Á H, bị cáo Lò Văn T mỗi bị cáo 07 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày các bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/6/2024.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
3. Xử lý vật chứng:
- - Trả lại 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, màu trắng - đen, biển kiểm soát 25M1 - 099.14 cho anh Lò Văn C.
- - Trả lại 01 chiếc điện thoại di động màu xanh đen, mặt trước màn hình có ghi chữ "itel" có lắp sim số thuê bao 0377.535.231 cho chị Lò Thị N.
- - Tịch thu bán hóa giá sung ngân sách Nhà nước giá trị chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi 9A, loại màn hình cảm ứng thu của bị cáo Lò Văn T.
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc nỏ được làm bằng gỗ; 01 mũi tên nỏ được làm bằng cây tre, 01 con dao tông; 01 bao tải màu vàng cam; 01 túi nilon màu trắng; 01 chiếc đèn pin màu đen có dây đeo đầu; 01 chiếc sọt được làm bằng mây.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện M với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè được lập vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 30 tháng 8 năm 2024)
4. Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lý Á H.
Bị cáo Lò Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đới Xuân Huy |
Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 116/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ...
