Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH TÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 116/2024/HS-ST

Ngày 23-5-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Ái;

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Tuyết Hạnh và Trần Thị Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Chiêm Tiền Quí Nhân-Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Đoàn Văn Thắng-Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 121/2024/TLST-HS, ngày 04 tháng 5 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2024/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Minh N (tên gọi khác: L), sinh năm 2002, tại tỉnh Tiền Giang. Nơi thường trú: ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nơi ở: nhà số E, đường B, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc V và bà Phạm Thị Kim T; chưa có vợ con; tiền án: ngày 23/9/2020, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về “Tội cướp giật tài sản” (khi phạm tội đủ 16 tuổi dưới 18 tuổi và thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 04/02/2023, quyết định khác ngày 26/7/2022, án tích chưa được xóa); tiền sự: không có; nhân thân: ngày 26/11/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xử phạt 01 năm tù về “Tội cướp giật tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 10/7/2019, quyết định khác ngày 22/02/2019 và do khi phạm tội đủ 14 tuổi dưới 16 tuổi nên được coi là không có án tích); bị bắt tạm giữ ngày 11-9-2023, tạm giam ngày 20-9-2023 “có mặt”.

*Bị hại: anh Lê Văn N1, sinh năm 1974. Nơi thường trú: ấp T, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang; nơi ở hiện nay: nhà số A, đường M, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ ngày 10/9/2023, tên B (không rõ lai lịch) rủ Nguyễn Minh N2 sáng mai đi tìm tài sản để giật lấy bán kiếm tiền chia nhau tiêu xài thì N2 đồng ý. Sau đó lúc khoảng 06 giờ 10 phút ngày 11/9/2023, N2 điều khiển xe môtô hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 59K1-421.65 (biển số này được che phủ bằng tờ giấy có in số 59C1-543.05) đến chở tên B đi. Khi cả 02 đến trước nhà số B, đường B, phường B, quận B thì tên B nhìn thấy anh Lê Văn N1 đang điều khiển xe môtô hiệu Honda, loại AirBlade, biển số 54N3-8376 chạy theo chiều ngược lại mà trên cổ có đeo dây chuyền vàng nên kêu N2 quay xe lại. Khi đó, N2 liền điều khiển xe quay lại chạy lên áp sát bên trái anh N1, còn tên B ngồi sau dùng tay phải giật lấy được sợi dây chuyền 01 lượng 0084 phân vàng 18K (mặt dây chuyền phật Di Lặc bằng đá màu xanh có viền bằng kim loại màu vàng) này của anh N1 rồi tăng ga xe chạy tẩu thoát. Tuy lúc anh N1 chạy xe đuổi theo đến thì tên B có dùng bình xịt hơi cay xịt hướng vào người anh N1, nhưng anh N1 vẫn tiếp tục truy đuổi cho đến khi cả 02 đến trước nhà B, đường C thì anh N1 bắt kịp nên tông xe vào đuôi xe của N2 làm cho xe ngã xuống đường. Lúc này, cả 02 bỏ xe lại chạy bộ; trong đó, N2 nhảy xuống kênh nước rồi leo lên bờ bên kia trốn vào bụi cây thì bị anh N1 cùng người dân xung quanh bắt giữ đưa về Công an phường B xử lý người có hành vi phạm tội quả tang, còn tên B mang theo sợi dây chuyền của anh N1 trốn thoát. Sau khi lập hồ sơ ban đầu xong, Công an phường B đã chuyển cho Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền. Tại đây, N2 đã khai nhận toàn bộ hành vi như vừa mới nêu. Riêng việc trước khi đi giật tài sản, tên B không có nói gì về việc mang theo bình xịt hơi cay cho N2 biết, còn bản thân N2 không thấy tên B mang theo và kể cả lúc tên B sử dụng xịt hướng vào người anh N1 thì N2 cũng không thấy mà chỉ đến lúc bị bắt đưa về Công an phường B giải quyết, anh N1 khai bị tên B ngồi sau dùng bình xịt hơi cay xịt trúng vào người nên N2 mới biết (không thu giữ được bình xịt hơi cay này).

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Minh N2 đã khai nhận: Do lúc đang cần có tiền tiêu xài mà được tên B (không rõ lai lịch) rủ đi tìm tài sản giật lấy bán nên bị cáo đồng ý rồi sau đó điều khiển xe môtô biển số 59K1-421.65 (biển số này được bị cáo che phủ bằng tờ giấy có in số 59C1-543.05) chở tên B đi. Khi tên B nhìn thấy anh Lê Văn N1 đang điều khiển xe chạy theo chiều ngược lại mà trên cổ có đeo dây chuyền vàng nên kêu bị cáo quay xe lại. Theo đó, bị cáo liền cho xe quay lại chạy lên áp sát bên trái anh N1, còn tên B ngồi sau dùng tay phải giật lấy được sợi dây chuyền 01 lượng 0084 phân vàng 18K (mặt dây chuyền phật Di Lặc bằng đá màu xanh có viền bằng kim loại màu vàng) này của anh N1 rồi bị cáo tăng ga xe chạy tẩu thoát cho đến khi bị anh N1 tông xe vào xe của bị cáo té ngã xuống đường, bị cáo chạy bộ nhảy xuống kênh nước và leo lên bờ bên kia trốn vào bụi cây thì mới bị bắt giữ, còn tên B mang theo sợi dây chuyền của anh N1 trốn thoát nên nay bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Riêng đối với bình xịt hơi cay thì trước khi đi giật lấy tài sản, tên B không có nói gì cho bị cáo biết, còn bản thân bị cáo không thấy tên B mang theo và kể cả khi tên B sử dụng xịt vào người anh N1 lúc truy đuổi, bị cáo cũng không thấy mà chỉ đến lúc bị bắt đưa về Công an giải quyết, anh N1 khai bị tên B ngồi sau dùng bình xịt hơi cay xịt vào người nên bị cáo mới biết. Bị cáo không có ý kiến gì về kết luận định giá tài sản của anh N1; còn về trách nhiệm dân sự, tuy tên B đã mang theo sợi dây chuyền của anh N1 trốn thoát, nhưng bị cáo tự nguyện đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của anh N1 đã đưa ra là 41.092.000 đồng; riêng về vật chứng, bị cáo không yêu cầu nhận lại số tài sản còn bị tạm giữ.

Bị hại anh Lê Văn N1 thừa nhận toàn bộ lời khai trên của bị cáo là hoàn toàn đúng và không có ý kiến gì về kết luận định giá tài sản là sợi dây chuyền của anh có trị giá là 41.092.300 đồng. Còn về trách nhiệm hình sự, anh yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật. Riêng về trách nhiệm dân sự, do bị cáo cùng với đồng phạm (trốn thoát) đã chiếm đoạt sợi dây chuyền 01 lượng 0084 phân vàng 18K (mặt dây chuyền phật Di Lặc bằng đá màu xanh có viền bằng kim loại màu vàng, không đủ cơ sở để định giá) và không thu hồi được nên nay anh yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh với số tiền là 41.092.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 115/CT-VKS, ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh N2 ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về “Tội cướp giật tài sản”, theo điểm d, đ, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận có ý kiến: Bị cáo Nguyễn Minh N2 đã có hành vi nhanh chóng chiếm đoạt trái phép tài sản trị giá là 41.092.300 đồng của anh Lê Văn N1 một cách công khai rồi tẩu thoát; đồng thời, do bị cáo đã sử dụng xe môtô làm phương tiện thực hiện hành vi này nên được coi là “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” và dùng bình xịt hơi cay chống trả lại bị hại là “Hành hung để tẩu thoát”; ngoài ra, bị cáo còn đã 01 lần bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, chưa được xóa án tích mà nay lại thực hiện hành vi phạm tội mới cũng rất nghiêm trọng nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần phải xử bị cáo với mức án thật nghiêm và tương xứng. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nghĩ nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Do đó, giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm d, đ, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo với mức án từ 07 năm đến 08 năm tù về “Tội cướp giật tài sản”. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường thiệt hại cho anh N1 số tiền 41.092.000 đồng. Về vật chứng, đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô biển số xe môtô biển số 59K1-421.65 (riêng 01 tờ giấy có ghi 59C1-543.05 đã lưu theo hồ sơ); tịch thu tiêu hủy gồm: 01 áo thun, 01 quần Jean và 01 áo khoác.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì về hành vi đã bị truy tố, còn lời nói sau cùng thì xin giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra-Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo Nguyễn Minh N2 tại phiên tòa hôm nay cho thấy: Vào khoảng 06 giờ 15 phút ngày 11/9/2023, bị cáo cùng với đồng phạm mà bị cáo khai tên là B (không rõ lai lịch và đã trốn thoát) đã có hành vi nhanh chóng chiếm đoạt trái phép tài sản là sợi dây chuyền 01 lượng 0084 phân vàng 18K (mặt dây chuyền phật Di Lặc bằng đá màu xanh có viền bằng kim loại màu vàng) của anh Lê Văn N1 tại trước nhà số B, đường B, phường B, quận B một cách công khai rồi tẩu thoát. Theo Kết luận định giá tài sản số: 84/KL-HĐĐGTS, ngày 03/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự quận B thì sợi dây chuyền của anh N1 trị giá 41.092.300 đồng (riêng mặt dây chuyền, từ chối định giá do tài liệu cung cấp không đủ thông tin). Do bị cáo đã sử dụng xe môtô biển số 59K1-421.65 làm phương tiện thực hiện hành vi này nên được coi là “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” và đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà nay lại thực hiện hành vi phạm tội mới cũng rất nghiêm trọng do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Riêng đối với việc Cáo trạng truy tố bị cáo về tình tiết định khung hình phạt “Hành hung để tẩu thoát” theo điểm đ khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 là không đủ cơ sở bởi vì: “trước khi đi giật lấy tài sản, tên B không có nói cho bị cáo biết gì về bình xịt hơi cay, còn bản thân bị cáo không thấy tên B mang theo và kể cả việc tên B sử dụng xịt vào người anh N1 lúc truy đuổi thì bị cáo cũng không thấy mà chỉ đến khi bị bắt đưa về Công an giải quyết, anh N1 khai bị tên B ngồi sau dùng bình xịt hơi cay xịt vào người nên bị cáo mới biết” và đồng thời cũng không thu giữ được bình xịt hơi cay này. Do đó, bị cáo đã phạm “Tội cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, những người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản, bản ảnh khám hiện trường; một phần vật chứng thu giữ được là chiếc xe môtô biển số 59K1-421.65, kết luận định giá tài sản...nên đã đủ chứng cứ buộc tội bị cáo và một phần lời đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên là có cơ sở chấp nhận; riêng việc đề nghị áp dụng tình tiết định khung hình phạt “Hành hung để tẩu thoát” theo điểm đ khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 là không đủ cơ sở bởi do như đã nêu trên nên không chấp nhận. Còn đối với tên B, do không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra đang tiếp tục truy xét cho đến khi nào phát hiện được sẽ xử lý sau.

[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, khá táo bạo, liều lĩnh và xem thường pháp luật; đã lợi dụng sự sơ hở của người khác để chiếm đoạt trái phép tài sản một cách công khai ngay trên đường phố giữa ban ngày là không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân mà còn có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm để thỏa mãn cho nhu cầu tiêu xài cá nhân nên cần phải xử bị cáo với mức án thật nghiêm và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo thì mới có đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần được xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Về phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”; do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo làm nghề tự do và không có điều kiện kinh tế nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay, bị hại là anh Lê Văn N1 yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh về sợi dây chuyền 01 lượng 0084 phân vàng 18K của anh đã bị mất, tương đương với số tiền theo như định giá là 41.092.000 đồng (anh N1 không tính 300 đồng lẻ) thì xét: tuy tên B là người giữ lấy sợi dây chuyền của anh N1 và trốn thoát, nhưng do bị cáo tự nguyện đồng ý bồi thường đủ theo yêu cầu của anh N1 đã đưa ra là không trái với quy định của pháp luật dân sự nên cần ghi nhận.

[7] Về vật chứng: Đối bình xịt hơi cay của tên B và sợi dây chuyền 01 lượng 0084 phân vàng 18K (mặt dây chuyền phật Di Lặc bằng đá màu xanh có viền bằng kim loại màu vàng) của anh Lê Văn N1, do không thu giữ được nên không xét. Còn đối với 01 xe môtô hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 59K1-421.65 (biển số bị che bằng 01 tờ giấy có ghi 59C1-543.05, xe cũ, đã qua sử dụng) của bị cáo khai, chiếc xe này do mua của người rao bán trên mạng xã hội và không có giấy đăng ký xe; còn qua kết quả xác minh thì, xe này do anh Ngô Huỳnh Lập P đứng tên sở hữu, nhưng hiện anh P không còn cư trú tại địa phương và đi đâu không rõ, Cơ quan điều tra cũng đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu trong khoảng thời gian dài nhưng đến nay vẫn chưa có ai đến để giải quyết nên cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước (riêng 01 tờ giấy có ghi 59C1-543.05 đã được tháo gỡ xuống và lưu giữ theo hồ sơ). Riêng đối với 01 áo thun ngắn tay, màu đen; 01 quần Jean dài màu xanh và 01 áo khoác màu xám-đây là bộ quần áo cũ, đã qua sử dụng của đương sự N2 mặc khi đi cướp giật tài sản, bị cáo không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu để tiêu hủy.

[8] Bị cáo Nguyễn Minh N2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về căn cứ điều luật và xử phạt:
    • - Căn cứ vào điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N2 07 (bảy) năm tù về “Tội cướp giật tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 11-9-2023.
  2. Về trách nhiệm dân sự: căn vào Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; các điều 584, 585, 586, 587, 589, 357 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Minh N2 bồi thường thiệt hại cho anh Lê Văn N1 số tiền 41.092.000 (bốn mươi mốt triệu không trăm chín mươi hai nghìn) đồng.

    Kể từ ngày anh Lê Văn N1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Nguyễn Minh N2 chưa thi hành số tiền nêu trên thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu thêm cho anh N1 tiền lãi theo mức lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền được quy định tại Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Về vật chứng: căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe môtô hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 59K1-421.65 (biển số bị che bằng 01 tờ giấy có ghi 59C1-543.05, xe cũ, đã qua sử dụng); riêng 01 tờ giấy có ghi 59C1-543.05 đã được tháo gỡ xuống và lưu giữ theo hồ sơ.
    • - Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 áo thun ngắn tay, màu đen; 01 quần Jean dài màu xanh và 01 áo khoác màu xám-đây là bộ quần áo cũ, đã qua sử dụng của đương sự N2 mặc khi đi cướp giật tài sản.

    (Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân đang tạm giữ theo Phiếu nhập kho số: NK24/158TV, ngày 25/4/2024)

  4. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Nguyễn Minh N2 phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.054.600 (hai triệu không trăm năm mươi bốn nghìn sáu trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào các điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

    Bị cáo Nguyễn Minh N2 và bị hại anh Lê Văn N1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP . HCM;
  • - VKSND Q.BT;
  • - CQĐT-CA Q.BT;
  • - Nhà tạm giữ-CA Q.BT;
  • - Chi cục THA DS Q.BT;
  • - Trại tạm giam;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Người tham gia tố tụng khác (nếu có);
  • - Lưu hs, Vp.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Văn Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tội cướp giật tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 116/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội cướp giật tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh N “Tội cướp giật tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger