Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2024/HS-ST

Ngày 24-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Thực
  2. Ông Trần Đăng Tuấn

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Đào Duy Linh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 114/2024/TLST-HS, ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đỗ Đức H, sinh ngày 02 tháng 8 năm 1988, tại huyện H, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch:Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Đỗ Văn K, sinh năm 1963 và bà Phạm Thị X, sinh năm 1966; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị P đã ly hôn; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27-6-2024, đến ngày 03-7-2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thái Bình; được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Xuân T, sinh ngày 13 tháng 02 năm 1993, tại huyện T, thành phố Hà Nội; Nơi Đăng ký HKTT: xóm C, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Nơi ở: số nhà A, ngách C, ngõ F, đường K, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1964 và bà Phạm Thị L, sinh năm 1963; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo có vợ là chị Đỗ Thị O; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2014 con nhỏ nhất sinh năm 2019; Nhân thân: Ngày 10-6-2009 bị Công an quận H, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính hình thức phạt tiền về hành vi cố ý gây thương tích.

Tiền án: Tại bản án số 227/2022/HSST, ngày 17-8-2022 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12-5-2023, thi hành xong tiền án phí ngày 07-11-2022 (chưa được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28-6-2024, đến ngày 04-7-2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh T; được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

- Những người chứng kiến:

  1. Ông Cao Minh K1, sinh năm 1960; Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
  2. Anh Trần Văn C, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do bản thân sử dụng ma túy và cần tiền chi tiêu cá nhân nên khoảng 16 giờ ngày 26-6-2024, Đỗ Đức H, sinh năm 1988, nơi cư trú thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình sử dụng tài khoản Mesenger “Lái xe Hùngtb” của H nhắn tin đến tài khoản “Nhím Thỏ Gấu” của Nguyễn Xuân T, sinh năm 1993 ở tại: số nhà A, ngách C, ngõ F, đường K, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội là bạn của H nhờ T mua hộ ma túy đá (Methamphetamine) mang về tỉnh Thái Bình bán kiếm lời, T đồng ý. Khoảng 17 giờ cùng ngày, H và T hẹn gặp nhau ở đường K, thành phố Hà Nội. Tại đây H đưa cho T số tiền 2.500.000 đồng để mua ma túy, T cầm tiền và bảo H đứng chờ, sau đó T một mình đi mua ma túy. Khoảng 30 phút sau T quay lại đưa cho H 01 túi nilon trong suốt, một đầu có viền dập, trên viền dập có đường kẻ ngang màu đỏ, bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt. Biết bên trong túi trên là ma túy đá nên H cầm túi trên mục đích mang về tỉnh Thái Bình bán. Khoảng 22 giờ ngày 26-6-2024, H một mình điều khiển xe ô tô kiểu dáng Kia Moring màu bạc, biển kiểm soát: 30E-946.87 đi về huyện H, tỉnh Thái Bình. Đến khoảng 0 giờ 30 phút ngày 27-6-2024, H điều khiển xe đi đến đoạn đường ĐT 452 thuộc địa phận thôn T, xã M, huyện H đỗ xe, xuống tìm người mua ma túy thì bị Công an huyện H phát hiện và bắt quả tang H cất giấu tại cạp quần đang mặc 01 túi nilon trong suốt có viền dập, trên viền dập có đường kẻ ngang màu đỏ, bên trong có chứa các hạt tinh thể trong suốt. H khai nhận là ma túy đá, H cất giấu mục đích để bán. Công an huyện H, tỉnh Thái Bình đã thu giữ và niêm phong gói ma tuý trên trước sự chứng kiến của H, ông Cao Minh K1 và anh Trần Văn C. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H còn quản lý của H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A6+ màu trắng pearl, đã qua sử dụng và 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Moring màu bạc, biển kiểm soát: 30E-946.87, trong xe không có đồ vật, tài sản gì.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành triệu tập, ghi lời khai của Nguyễn Xuân T, T thừa nhận hành vi mua ma túy đá đưa cho H để H mang về tỉnh Thái Bình bán. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Đức H và Nguyễn Xuân T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình không thu giữ gì.

Tại bản kết luận giám định số 1003/KL-KTHS ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh T. Kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 1,8570 gam (Một phẩy tám nghìn năm trăm bảy mươi gam). Methamphetamine STT: 247 Danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.

Tại Bản kết luận giám định số 1036/KL-KTHS ngày 08/7/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh T. Kết luận: “Tại thời điểm giám định xe ô tô nhãn hiệu Kia Moring màu sơn bạc, gắn biển kiểm soát: 30E-946.87: hàng chữ, chữ số RNYTB51M5HC107918 đóng trên khung xe không bị tẩy xóa, sửa chữa, đục lại; hàng chữ, chữ số G4LAHP008518 đóng trên thân máy không bị tẩy xóa, sửa chữa, đục lại”.

Bản cáo trạng số 116/CT-VKSHH ngày 05-9-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố các bị cáo Đỗ Đức H và Nguyễn Xuân T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo Đỗ Đức H và Nguyễn Xuân T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo T và bị cáo H đều khai bị cáo T mua hộ ma túy hộ H để H mang về tỉnh Thái Bình bán, bị cáo T không được bị cáo H hứa hẹn cho tiền khi đi mua ma túy hộ bị cáo H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình giữ quyền công tố, sau khi phân tích nội dung vụ án, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát khẳng định quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Đỗ Đức H và Nguyễn Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50, Điều 38, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Đức H từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 27-6-2024. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50, Điều 38, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 28-6-2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T; áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng; Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và

Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A6+ màu trắng pearl, đã qua sử dụng quản lý của Đỗ Đức H; 01 điện thoại di động mãn hình cảm ứng nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A14 màu trắng pearl, đã qua sử dụng quản lý của Nguyễn Xuân T. Tịch thu để tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 1003/KL-KTHS của Phòng K2 Công an tỉnh T. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

  1. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  3. Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của các bị cáo Đỗ Đức H và Nguyễn Xuân T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với nhau và được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản bản bắt người phạm tội quả tang và Biên bản quản lý và niêm phong đồ vật tài liệu; Biên bản mở, kiểm tra điện thoại do Công an huyện H ngày 27-6-2024 và ngày 29-6-2024; Bản kết luận giám định số 1003/KL-KTHS ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh T; Bản kết luận giám định số 1036/KL-KTHS ngày 08-7-2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh T; Lời khai những người chứng kiến ông Cao Minh K1 và anh Trần Văn C cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 26-6-2024, bị cáo Nguyễn Xuân T có hành vi mua hộ 1,8570 gam ma tuý, loại Methamphetamine cho bị cáo Đỗ Đức H để H mang về huyện H, tỉnh Thái Bình bán. Khoảng 0 giờ 30 phút ngày 27-6-2024, tại đoạn đường ĐT 452 thuộc địa phận thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình; bị cáo Đỗ Đức H có hành tàng trữ trái phép 1,8570 gam ma tuý, loại Methamphetamine, mục đích để bán bị Công an huyện H, tỉnh Thái Bình phát hiện và bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Xuân T và Đỗ Đức H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Điều luật quy định như sau:

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy.

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố các bị cáo Đỗ Đức H và Nguyễn Xuân T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  1. Về vai trò đồng phạm trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, bị cáo H là người nhờ bị cáo T mua hộ ma túy để bán và trực tiếp đi giao dịch bán ma túy nên xếp vai trò thứ nhất, bị cáo T xếp vai trò thứ hai trong vụ án.
  2. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý mà các bị cáo Đỗ Đức H và Nguyễn Xuân T thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, hủy hoại sức khỏe của người sử dụng, ảnh hưởng đến giống nòi và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác.
  3. Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo H không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo T có nhân thân xấu. Tại bản án số 227/2022/HSST, ngày 17-8-2022 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12-5-2023, thi hành xong tiền án phí ngày 07-11-2022, đến ngày 26-6-2024, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên hành vi phạm tội này chưa được xóa án tích. Vì vậy cáo bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Từ những nhận định trên, cần phải tiếp tục cách ly các bị cáo khỏi cuộc sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời góp phần phòng ngừa chung.

  1. Bị cáo T mua bán trái phép chất ma túy hộ bị cáo H không có mục đích kiếm lời do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T. Bị cáo H mua bán trái phép chất ma túy mục đích bán kiếm lời nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo H mức phạt là 5.000.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.
  2. Về nguồn gốc số ma túy có khối lượng 1,8570 gam loại Methamphetamine (ma túy đá), bị cáo Nguyễn Xuân T khai: Sau khi được bị cáo H nhờ mua hộ với số tiền 2.500.000 đồng thì bị cáo mua ma túy của Đ (là bạn của bị cáo, bị cáo không biết họ, tuổi, địa chỉ cụ thể của Đ). Bị cáo đưa cho Đ số tiền 2.500.000 đồng, sau đó Đ đưa cho bị cáo 01 gói nilon trong suốt, biết bên trong gói trên là ma túy đá nên bị cáo mang về đưa cho bị cáo H còn Đ đi đâu bị cáo không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình đã tiến hành điều tra, xác minh, ngoài lời khai của các bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào khác xác định được con người cụ thể đã bán ma túy cho bị cáo T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình không có căn cứ để xử lý trong vụ án này phù hợp với quy định của pháp luật.
  3. Về vật chứng của vụ án. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Thái Bình thu giữ, quản lý 01 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 1003/KL-KTHS của Phòng K2 Công an tỉnh T; 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Moring màu sơn bạc, gắn biển kiểm soát: 30E-946.87; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A6+ màu trắng pearl, đã qua sử dụng quản lý của Đỗ Đức H; 01 điện thoại di động mãn hình cảm ứng nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A14 màu trắng pearl, đã qua sử dụng quản lý của Nguyễn Xuân T.

Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia Moring màu sơn bạc, gắn biển kiểm soát: 30E-946.87, qua điều tra, xác minh xác định đây là tài sản hợp pháp của Công ty cổ phần T2, địa chỉ: số E T, phường T, quận T, TP Hà Nội, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả cho đại diện hợp pháp của Công ty cổ phần T2 là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với 01 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật giám định số 1003/KL-KTHS của Phòng K2 Công an tỉnh T là ma túy sau khi gửi giám định là vật chứng của vụ án cần tịch thu để tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A6+ màu trắng pearl, đã qua sử dụng quản lý của Đỗ Đức H; 01 điện thoại di động mãn hình cảm ứng nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A14 màu trắng pearl, đã qua sử dụng quản lý của Nguyễn Xuân T. Đây là phương tiện dùng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước.

  1. Về án phí: Các bị cáo H và T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Đỗ Đức H và Nguyễn Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50, Điều 38, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Đức H 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 27-6-2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50, Điều 38, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 28-6-2024.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Đỗ Đức H 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 1,8570 gam (Một phẩy tám nghìn năm trăm bảy mươi gam) mẫu gửi giám định và toàn bộ bao gói thu của Đỗ Đức H được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1003/KL-KTHS của Phòng K2 Công an tỉnh T.

Tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A6+ màu trắng pearl, đã qua sử dụng quản lý của Đỗ Đức H; 01 điện thoại di động mãn hình cảm ứng nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A14 màu trắng pearl, đã qua sử dụng quản lý của Nguyễn Xuân T.

Toàn bộ vật chứng của vụ án hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05-9-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Đỗ Đức H và Nguyễn Xuân T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đỗ Đức H và Nguyễn Xuân T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Tòa án ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Hưng Hà;
  • - CQCSĐT Công an huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Hà;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 116/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đỗ Đức H và Nguyễn Xuân T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger