TAND HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 116/2024/HS - ST Ngày: 06/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Mười.
2. Ông Nguyễn Thanh Bắc.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thuý, Thư ký TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lã Thị Tiến, Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 116/2024/TLST - HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2024/QĐXXST - HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn V, SN 20/12/1976; Giới tính: Nam;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm B, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố: Nguyễn Quang H, đã chết; Mẹ: Chu Thị Q, đã chết. Gia đình có 06 anh chị em bị cáo là con thứ 05. Vợ: Hoàng Thị A, sinh năm 1985 (đã ly hôn); Có 01 con, sinh năm 2009.
Tiền án, Tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0010137/QĐ-XPHC ngày Công an huyện Đ quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với V số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ. Có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1964. Trú tại: Xóm B, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 20 ngày 16/8/2024, Tổ công tác của Công an xã L, huyện Đ đang tiến hành làm nhiệm vụ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực xóm B, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện 01 người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma tuý. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thì đối tượng tự giác khai nhận tên là Nguyễn Văn V, đồng thời V đưa từ tay phải ra và tự giác giao nộp cho Tổ công tác 01 gói chất bột màu trắng nghi là ma túy loại Heroine, được gói bằng giấy bạc nhiều lớp, lớp bên ngoài là giấy bạc 2 mặt màu trắng bạc, bên trong là giấy bạc có hai mặt một mặt màu trắng và một mặt màu vàng (V khai nhận là ma túy loại Heroine, V mua về để sử dụng cho bản thân). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, và niêm phong vật chứng như nêu trên.
Xét thấy có dấu hiệu của tội phạm, Công an xã L đã chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng cùng đối tượng đến Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền. Căn cứ các tài liệu xác minh điều tra, hồi 16 giờ 00 phút ngày 16/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với V. Kết quả không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Hồi 10 giờ 00 phút ngày 16/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ phối hợp với Phòng K - Công an tỉnh T và các bên liên quan tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của V như sau: Số chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A có khối lượng 0,210 gam. Niêm phong vào phong bì A1 làm mẫu giám định. Vỏ giấy gói và vỏ bì niêm phong A, niêm phong vào phong bì ký hiệu A2.
Tại bản Kết luận giám định số 945/KL-KTHS, ngày 24/8/2024 của Phòng K, công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng có trong bì niêm phong ký hiệu Al gửi giám định là chất ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,210 gam.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn V khai nhận như sau: Bản thân V là người nghiện ma tuý nên V thường xuyên đi mua ma tuý về để sử dụng. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 16/08/2024 Việt một mình đi xe buýt từ nhà tại xóm B, xã L, huyện Đ đến khu vực bến xe khách T, tỉnh Thái Nguyên (không biết địa chỉ cụ thể). Khoảng 10 giờ cùng ngày, V gặp và mua được của một người phụ nữ (Việt không quen biết) 01 gói chất ma túy loại Heroine được gói bằng hai lớp, lớp bên ngoài là giấy bạc màu trắng, lớp bên trong là giấy bạc một mặt màu trắng, một mặt màu vàng với số tiền 100.000 đồng mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được H1, V cầm gói Heroine ở tay phải và đi xe buýt đi về nhà. Khi V đi bộ về đến đoạn đường thuộc khu vực xóm B, xã L, huyện Đ thì gặp Tổ công tác công an xã L, huyện Đ yêu cầu kiểm tra thì V đã chấp hành. Do biết bản thân đang tàng trữ trái phép chất ma tuý nên V đã tự giác giao nộp cho tổ công tác gói Heroine Việt đang cầm ở tay phải. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng đối với V về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Vật chứng của vụ án gồm: 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2 (bên trong là mẫu giám định còn lại; vỏ giấy gói và vỏ bì niêm phong A).Hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 122/CT-VKSĐT ngày 22/10/2024, VKS nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện VKS giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn V mức án từ 24 đến 30 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo chịu án phí HSST theo quy định.
Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Nói lời sau cùng: xin được giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét khách quan toàn bộ các chứng cứ, ý kiến đề nghị của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những tài liệu chứng cứ khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; VKS nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
[2]. Xét hành vi của bị cáo, thấy: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn V khai nhận: Khoảng 12 giờ 20 phút ngày 16/8/2024 tại xóm B, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn V đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,210 gam chất ma tuý, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Công an xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật; bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy và các quy định của pháp luật trong việc quản lý, sử dụng chất ma túy nhưng ngày 16/8/2024 bị cáo vẫn cố tình tàng trữ 0,210 gam chất ma túy (loại heroin) trên người, mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của VKS nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Nội dung điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm ...
c, ... Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[3]. Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo: tính chất vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
[5]. Xét nhân thân của bị cáo: Bị cáo xuất thân từ gia đình lao động, được nuôi ăn học, có đầy đủ nhận thức các việc làm đúng sai. Bản thân là người tuy chưa có tiền án, tiền sự nhưng là người có nhân thân xấu và do không chịu tu dưỡng, rèn luyện nên đã trở thành đối tượng nghiện chất ma túy.
[6]. Về hình phạt: Căn cứ hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. HĐXX thấy, bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nhưng có tính chất giản đơn; có thái độ thành khẩn khai báo ... Vì vậy, cần thiết phải có hình phạt tù giam đối với bị cáo mới đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung. Xét quan điểm luận tội của đại diện VKS tại phiên tòa là quá nghiêm khắc, chưa tương xứng với tính chất hành vi phạm tội cũng như các đặc điểm về nhân thân và giá trị tiền ma túy (100.000đ) mà bị cáo mua về để tàng trữ, sử dụng ... Khi lượng hình HĐXX cần căn cứ đầy đủ vào các đặc điểm về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và tính chất hành vi phạm tội để có mức hình phạt tù cho phù hợp, đúng pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy, bị cáo là người không có công ăn việc làm và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[7]. Về vật chứng của vụ án: 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2 (bên trong là mẫu giám định còn lại; vỏ giấy gói và vỏ bì niêm phong A). Đây là vật chứng và là các vật có liên quan đến vụ án, không còn giá trị sử dụng, Nhà nước cấm lưu hành, cần được tịch thu và tiêu hủy.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST sung công quỹ Nhà nước.
[9]. Các nội dung có liên quan khác: Trong vụ án này, V khai nguồn gốc gói H1 là do V mua của 01 người đàn bà không quen biết tại khu vực bến xe khách T thuộc thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Do không xác định được lai lịch của người đàn bà này, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không có căn cứ để điều tra xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn V 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/8/2024.
Áp dụng: Điều 329 BLTTHS quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Văn V.
* Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS.
+ Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2 (bên trong là mẫu giám định còn lại; vỏ giấy gói và vỏ bì niêm phong A).
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng như mô tả trong quyết định chuyển vật chứng số 108/QĐ - VKSĐT ngày 22/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và các biên bản giao nhận vật chứng kèm theo).
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Luật án phí lệ phí; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí HSST sung ngân sách nhà nước.
Án xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Kiên |
Bản án số 116/2024/HS - ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 116/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn V - Tàng trữ trái phép chất ma tú
