|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 116/2024/HS-ST Ngày: 06-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu Ly.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn.
- Bà Võ Thị Mai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 281/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2024/QĐST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Đặng Xuân H, sinh năm: 1980, tại: Ninh Bình; hộ khẩu thường trú: phố H, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở: số F Đường số D, Khu phố F, Tổ D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Xuân S (đã chết) và bà Đinh Thị N; Có vợ Phạm Thị Hoàng Ly K, sinh năm 1980 và 01 con sinh năm 2016; nhân thân: Ngày 13/9/2002, Toà án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 427/HSST; tiền sự: không; tiền án: Ngày 30/9/2020, Toà án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 598/2020/HSPT, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/8/2022, đã đóng án phí, chưa thực hiện xong về bồi thường dân sự; tạm giữ, tạm giam ngày: 14/3/2023 (đang tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện A, tỉnh Kiên Giang); (Có mặt).
- Lê Văn V, sinh năm: 1991, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: tổ A ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: số E đường N, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương C (đã chết), và bà Lê Thị N1; có vợ Đinh Thị Ngọc T, sinh năm 1991 và có 03 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2019; nhân thân: Ngày 25/4/2017, Toà án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 tháng 17 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”, trả tự do tại phiên tòa, đã đóng án phí theo Bản án số 136/2017/HSST; tiền sự: không; tiền án: Ngày 05/3/2021, Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 66/2021/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/6/2022, chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự; tạm giữ, tạm giam ngày : 12/5/2023; (Có mặt).
Bị hại:
- Ông Phạm Vương K1, sinh năm 1992; hộ khẩu thường trú: Số A khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở: số A đường A, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
- Ông Trần Trung T1, sinh năm 2003; hộ khẩu thường trú: số A đường A, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
- Bà Lưu Thị Ngọc T2, sinh năm 1991; hộ khẩu thường trú: số A đường A, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
- Ông Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 2003; hộ khẩu thường trú: thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận; chỗ ở: số G đường Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh bình Dương; (Vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị Hoàng Ly K, sinh năm 1980; địa chỉ: số A đường V, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: F đường D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
- Ông Nguyễn Ngọc T4, sinh năm 1995; Hộ khẩu thường trú: thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ ngày 01/03/2023, do cần có tiền tiêu xài, Đặng Xuân H, Lê Văn V và T5 (chưa rõ lai lịch) cùng bàn bạc thống nhất tìm kiếm chỗ nào có tài sản sơ hở thì đột nhập vào trộm cắp tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, tất cả đều đồng ý. V điều khiển xe máy Air Blade gắn biển số 38B1-209.90 (Biển số thật của xe A là 59S3-125.79) chở H và T5 đi từ nhà V qua nhiều tuyến đường. Khi đến dãy phòng trọ, số A A, Phường A, quận G thì H nói V dừng xe trước dãy phòng trọ, H dùng chìa khóa tự chế đã chuẩn bị sẵn từ túi áo mở ổ khóa, mở cửa dãy phòng trọ để V đi vào trong dùng đoản bẻ khóa xe để lấy xe, còn T5 ngồi trên xe để cảnh giới. V lấy chiếc xe Sonic biển số 70B1-874.63 của ông Phạm Vương Kim D ra cửa cổng dãy phòng trọ giao cho H, H dắt xe đến chỗ của T5 đang cảnh giới rồi giao cho T5 xe này. V tiếp tục vào lấy chiếc xe máy Wave RSX biển số 85E1-169.26 của ông Trần Trung T1. Sau khi lấy được 02 xe máy trên, V điều khiển xe máy Wave RSX biển số 85E1-169.26, T5 điều khiển xe Sonic biển số 70B1-874.63, H điều khiển xe máy Air Blade biển số 38B1-209.90 chạy đến bãi xe Chung cư C trên đường D, Phường G, quận G gửi xe Air Blade và Wave RSX. Sau đó, T5 điều khiển xe máy Sonic biển số 70B1-874.63 chở H và V đến dãy phòng trọ, số A A, Phường A, quận G tiếp tục lấy trộm xe máy. Lúc này, V đi vào trong dãy phòng trọ dùng đoản bẻ khóa lấy xe máy Sirius biển số 85E1-180.04 của bà Lưu Thị Ngọc T2 và xe máy Exciter biển số 85E1-082.98 của ông Nguyễn Ngọc T4 rồi cả ba điều khiển xe máy đến Bãi xe Chung cư P, số C đường P, Phường A, quận T để gửi xe máy Sirius biển số 85E1-180.04, xe máy Exciter biển số 85E1-082.98, xe máy Sonic biển số: 70B1-874.63. Sau đó, H, V và T5 đi G ô tô về lại bãi xe Chung cư căn cứ 26, H vào lấy xe máy Airblade gắn biển số 38B1-209.90 chở T5 và V vào lấy xe máy Wave RSX biển số 85E1-169.26 chạy về nhà V. Khi đến đầu hẻm vào nhà của V thì T5 xuống xe (đi đâu thì H và V không biết), H đổi lại biển số xe từ 38B1-209.90 thành 59S3-125.79.
Sau khi bị mất trộm tài sản, ông Nguyễn Quang M là chủ của dãy nhà trọ tại số A A, Phường A, quận G đã đến Công an P1, quận G để trình báo sự việc.
Khi về nhà V, H gọi điện thoại cho đối tượng tên Nguyễn Văn N2 (tên thường gọi là T6; sinh năm: 1982; HKTT: số 238 Tỉnh lộ 7, ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: số A N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) để bán xe máy Sonic biển số 70B1-874.63 và xe máy Exciter biển số 85E1-082.98, N2 đồng ý thu mua với giá 15.000.000 đồng và H gọi điện thoại cho đối tượng tên Trương Kim D1 (tên thường gọi là L; Sinh năm: 1978; HKTT và chỗ ở: ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An) bán xe máy Wave RSX biển số 85E1-169.26 và xe máy Sirius biển số 85E1-180.04, D1 đồng ý thu mua với giá 12.000.000 đồng.
Sau đó, H điều khiển xe máy Air Blade biển số 59S3-125.79 và V điều khiển xe máy Wave RSX biển số 85E1-169.26 chạy đến Bãi xe A gửi xe Wave RSX biển số 85E1-169.26 rồi H điều khiển xe Air B chở V về lại Chung cư P. V vào Chung cư P lấy xe máy Exciter biển số 85E1-082.98 và H điều khiển xe máy Air Blade biển số 59S3-125.79 chạy đến đường S, huyện H giao xe máy Exciter biển số 85E1-082.98 cho một đối tượng (người của N2, chưa rõ lai lịch). H điều khiển xe Air B chở V về lại Chung cư P. V vào Chung cư P lấy xe máy Sonic biển số 70B1-874.63 và H điều khiển xe máy Air Blade biển số 59S3-125.79 chạy đến đường S, huyện H giao xe máy Sonic biển số 70B1-874.63 cho một đối tượng khác (người của N2, chưa rõ lai lịch) rồi H điều khiển xe Air B chở V về lại Chung cư P. V vào Chung cư P lấy xe máy Sirius biển số 85E1-180.04 và H điều khiển xe máy Air Blade biển số 59S3-12579 chạy đến gần cầu vượt A, V giao xe này cho D1. D1 điều khiển xe Sirius biển số 85E1-180.04 chạy đi (còn chạy đi đâu không rõ) và hẹn đến Bến xe A để giao xe máy Wave RSX biển số 85E1-16926. Một lúc sau, D1 đến Bến xe A thì V giao xe máy Wave RSX biển số 85E1-16926 và D1 giao 12.000.000 đồng cho V.
Sau khi nhận được tiền của D1, H điều kiển xe máy Air Blade biển số 59S3-125.79 chở V đến quán cà phê trên đường S để gặp N2 và lấy tiền bán xe, một lúc sau N2 đến nói chuyện và nhờ người quen tên Nguyễn Thị T7, chủ tài khoản số 0281000537260 của Ngân hàng V1 chuyển khoản 15.000.000 đồng đến tài khoản số [...] do H đứng tên chủ tài khoản. Sau khi nhận được 27.000.000 đồng từ N2 và D1 thì H, V và T5 chia đều mỗi người 9.000.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết.
Kết quả nhận dạng: Cho H1, V nhận dạng ảnh qua lại lẫn nhau và nhận dạng N2, D1 thì H1, V nhận dạng ra nhau và nhận dạng được N2, D1 là đối tượng tiêu thụ tài sản do H1, V và T5 thực hiện trộm cắp tài sản, tại dãy phòng trọ, số A A, Phường A, quận G vào ngày 01/3/2023.
Đối với đối tượng tên T5, H1 và V khai T5 là bạn quen biết ngoài xã hội của H1. T5 và H1 quen biết nhau trước khi thực hiện vụ trộm cắp tài sản nêu trên khoảng một tháng và có đi cà phê với nhau khoảng 2-3 lần nên H1 không biết nhân thân, lai lịch cụ thể của T5 ra sao. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận G tiếp tục áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để truy tìm đối tượng T5. Khi nào xác định được nhân thân, lai lịch của T5 sẽ xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Văn N2, sinh năm: 1982 (HKTT: 238 Tỉnh lộ 7, ấp Đ, xã T, huyện C; chỗ ở: số A N, phường B, Thành phố T) tại Công an xã T, huyện C xác định N2 có đăng kí hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: B Tỉnh lộ 7, ấp Đ, xã T, huyện C nhưng không cư ngụ tại địa phương. Tại Công an phường B, thành phố T xác nhận: Nguyễn Văn N2 không cư ngụ tại A N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 07/2022 cho đến nay, đi đâu không rõ.
Tiến hành làm việc cùng Nguyễn Thị T7, sinh năm: 1997 (HKTT: Khu phố A, Tổ dân phố P, thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; nơi ở: khu phố C, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương) là chủ tài khoản số 0281000537260 của Ngân hàng V1 chuyển khoản 15 triệu đồng đến tài khoản số [...] do H1 đứng tên chủ tài khoản xác định: T7 và chồng là Hoàng Văn P, sinh năm: 1978, HKTT: thị trấn H, huyện Đ, Long An có dùng chung tài khoản số 0281000537260 của Ngân hàng V1 nêu trên. Bản thân T7 làm nghề buôn bán hủ tiếu và cà phê võng, T7 nhận chuyển tiền theo yêu cầu của khách và nhận hoa hồng từ 50.000 đồng đến 70.000 đồng/01 giao dịch. Ngoài ra, chồng của T7 là Hoàng Văn P cũng kêu T7 chuyển tiền thông qua tài khoản này đến các tài khoản khác nhưng T7 chỉ biết là tiền làm ăn. Hiện tại, T7 và chồng đã ly thân. Xác minh Hoàng Văn P tại Công an thị trấn H, huyện Đ, Long An xác nhận: Phước có đăng kí hộ khẩu thường trú tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ.
Tiến hành xác minh và làm việc cùng Trương Kim D1, sinh năm: 1978; HKTT và chỗ ở: ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An khai nhận: D1 không quen biết ai tên Đặng Xuân H (nhân thân lai lịch như trên), từ tháng 03/2023 cho đến nay D1 không giao dịch mua bán xe máy với ai. Hiện tại, D1 đang làm ruộng và sinh sống tại ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (Bút lục 176 – 178). Do có mâu thuẫn trong lời khai của Đặng Xuân H, Lê Văn V và Trương Kim D1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành cho H, V và D1 đối chất với nhau nhưng theo trả lời xác minh ngày 20/7/2023 của Công an xã H, huyện Đ, tỉnh Long An thì đương sự Trương Kim D1 hiện không còn cư trú tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ cho nên chưa thể tiến hành đối chất giữa Đặng Xuân H, Lê Văn V và Trương Kim D1. Do đó, chưa có đủ cơ sở để xử lý hình sự đối với Trương Kim D1 về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Tại bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận G xác định:
- 01 (một) xe mô tô hai bánh hiệu Yamaha Exciter, biển số: 85E1-082.98, số máy G3D4E066651, số khung RLCUG0610FY059549, đã qua sử dụng theo giá thị trường là 18.300.000 đồng.
- 01 (một) xe mô tô hai bánh hiệu Honda Wave RSX, biển số 85E1-169.26, số máy JA38E0418014, số khung RLHJA3829JY008075, đã qua sử dụng theo giá thị trường là 12.433.333 đồng.
- 01 (một) xe mô tô hai bánh hiệu Yamaha Sirius, biển số: 85E1-180.04, số máy E3X9E648110, số khung RLCUE3240KY237108, đã qua sử dụng theo giá thị trường là 14.900.000 đồng.
- 01 (một) xe mô tô hai bánh hiệu Honda Sonic, biển số: 70B1-874.63, số máy KB11E1217240, số khung MH1KB1113KK217964 theo giá thị trường là 29.933.333 đồng.
Tổng giá trị của 04 chiếc xe bị chiếm đoạt theo giá thị trường là 75.566.666 đồng.
Vật chứng:
- - 01 (một) usb lưu theo hồ sơ vụ án.
- - Đối với chiếc xe máy Air Blade gắn biển số 38B1-209.90 (Biển số thật của xe A là 59S3-125.79) là phương tiện mà các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Đặng Xuân H khai nhận mua chiếc xe nêu trên vào khoảng tháng 01 năm 2023 của một nam thanh niên không rõ lai lịch tại đường C, quận B. Sau khi gây án tại quận G, H đã bán chiếc xe nêu trên cho một nam thanh niên (không rõ lai lịch) ở gần bến xe A, Quận A với giá 15.000.000 đồng. Qua xác minh, chiếc xe máy Air Blade biển số 59S3-125.79 do bà Phạm Thị Hoàng Ly K là vợ của Đặng Xuân H đứng tên chủ sở hữu. Theo trình bày của bà Phạm Thị Hoàng Ly K thì chiếc xe trên do bà K mua từ giữa năm 2019. Ngày 01/3/2023, H có lấy xe nói là đi uống cà phê với bạn rồi sau đó có đem xe về, sau đó bà K được Công an quận G thông báo H cùng đồng phạm đi trộm cắp tài sản thì bà mới biết. Vào khoảng đầu tháng 3 năm 2023, do gia đình cần tiền sử dụng nên H có hỏi ý kiến để bán xe nên bà K đồng ý, bà nghe H nói là bán được 15.000.000 đồng còn việc bán xe cho ai và bán ở đâu thì bà không rõ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã đăng báo tìm chủ sở hữu để làm rõ sự việc có liên quan nhưng đến nay chưa có ai liên hệ để làm việc.
Trách nhiệm dân sự:
- Ông Nguyễn Ngọc T4, là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô Exciter biển số: 85E1-082.98 uỷ quyền cho em trai là ông Nguyễn Ngọc T3 toàn quyền sử dụng, quyết định đối với chiếc xe trên. Ông Nguyễn Ngọc T3 yêu cầu bồi thường 18.000.000 đồng,
- Ông Trần Trung T1 là chủ sở hữu của xe máy hiệu Wave RSX mang biển số 85E1-169.26 yêu cầu bồi thường 12.000.000 đồng.
- Bà Lưu Thị Ngọc T2 là chủ sở hữu chiếc xe Yamaha Sirius mang biển số 85E1 – 180.04 yêu cầu bồi thường 14.900.000 đồng.
- Ông Phạm Vương K1 là chủ sở hữu chiếc xe hiệu Sonic mang biển số 70B1-87463 yêu cầu bồi thường 30.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 277/CT-VKS-GV, ngày 24/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Đặng Xuân H và Lê Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Xử phạt bị cáo Đặng Xuân H từ 03 năm 6 tháng đến 04 năm tù.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Xử phạt bị cáo Lê Văn V từ 04 năm đến 05 năm tù.
- Miễn phạt bổ sung cho các bị cáo.
Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 1, điểm a, b khoản 2, khỏan 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - Tịch thu bổ sung chứng cứ hồ sơ 01 USB lưu giữ clip ghi nhận lại sự việc các bị cáo trộm cắp tài sản.
- - Buộc các bị cáo liên đới bồi thường cho các bị hại.
Tại phiên tòa hôm nay khi nói lời sau cùng, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về hòa nhập cùng cộng đồng xã hội để có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phiên tòa: Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Trong hồ sơ vụ án thể hiện: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã yêu cầu, đã trình bày lời khai, vì vậy căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về tội danh:
Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Khoảng 01 giờ 00 ngày 01/3/2023, Lê Văn V, Đặng Xuân H và đối tượng tên T5 (chưa rõ lai lịch) đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là 04 xe mô tô (01 xe mô tô Exciter biển số: 85E1-082.98; 01 xe mô tô Wave RSX biển số: 85E1-169.26; 01 xe mô tô Sirius biển số: 85E1-180.04; 01 xe mô tô Sonic biển số: 70B1-874.63) có tổng giá trị là 75.566.666 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Đặng Xuân H và Lê Văn V đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Các bị cáo thực hiện liên tục trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 75.566.666 đồng nên đây là tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Do đó, Cáo trạng số 277/CT-VKS-GV, ngày 24/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Các bị cáo khai khi rủ nhau đi trộm cắp tài sản thì tất cả cùng nảy sinh ý định, không có chuẩn bị từ trước, không có bàn bạc, phân công cụ thể về việc thực hiện trộm cắp tài sản như thế nào. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án mang tính đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, trong đó các bị cáo cùng khởi xướng rủ nhau đi trộm cắp tài sản, V là người điều khiển phương tiện chở H đi trộm cắp tài sản, H là người dùng chìa khoá tự chế để mở ổ khoá cửa dãy phòng trọ và V dùng đoản bẻ khoá để H điều khiển xe tẩu thoát khỏi hiện trường, các bị cáo cùng nhau đưa xe đi tiêu thụ, do đó các bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với mức độ phạm tội của mình.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan tổ chức, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, việc xử lý các bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: chỉ trong thời gian ngắn các bị cáo đã liên tục thực hiện 02 lần việc trộm cắp tài sản và các bị cáo đều có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội nên đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” và “tái phạm” được quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình và bản thân các bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Đặng Xuân H có cha ruột là ông Đặng Xuân S là liệt sĩ, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của các bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa những bị hại vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện: bị hại ông Nguyễn Ngọc T4, là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô Exciter biển số: 85E1-082.98 uỷ quyền cho em trai là ông Nguyễn Ngọc T3 toàn quyền sử dụng, quyết định đối với chiếc xe, ông T3 yêu cầu bồi thường 18.000.000 đồng. Bị hại ông Trần Trung T1 là chủ sở hữu của xe máy hiệu Wave RSX mang biển số 85E1-169.26, ông T1 yêu cầu bồi thường 12.000.000 đồng. Bị hại bà Lưu Thị Ngọc T2 là chủ sở hữu chiếc xe Yamaha Sirius mang biển số 85E1 180.04 yêu cầu bồi thường 14.900.000 đồng. Bị hại ông Phạm Vương K1 là chủ sở hữu chiếc xe hiệu Sonic mang biển số 70B1-87463 yêu cầu bồi thường 30.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý bồi thường theo các yêu cầu của các bị hại. Hội đồng xét xử xét thấy đây là ý chí tự nguyện và không trái pháp luật nên ghi nhận. Trong vụ án này các bị cáo có vai trò tương đương nhau, khi bán tài sản trộm cắp được thì chia đều nên chịu trách nhiệm liên đới bồi thường với mức bằng nhau, buộc mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho mỗi bị hại 1/2 số tiền mà bị hại yêu cầu. Cụ thể:
Bị cáo Đặng Xuân H có trách nhiệm bồi thường cho ông Phạm Vương K1 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), bà Lưu Thị Ngọc T2 7.450.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng), ông Trần Trung T1 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) và ông Nguyễn Ngọc T3 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng).
Bị cáo Lê Văn V có trách nhiệm bồi thường cho cho ông Phạm Vương K1 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), bà Lưu Thị Ngọc T2 7.450.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng), ông Trần Trung T1 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) và ông Nguyễn Ngọc T3 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng).
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 USB lưu giữ clip ghi nhận lại sự việc các bị cáo trộm cắp tài sản là chứng cứ vụ án, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, lưu theo hồ sơ vụ án.
[7] Về các vấn đề khác:
Đối với các đối tượng T5, Nguyễn Văn N2, Trương Kim D1, P, Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, khi nào xác định được lai lịch, có đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội sẽ đề nghị xử lý sau theo quy định của pháp luật.
[8] Về án phí sơ thẩm:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[9] Quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[10] Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Đặng Xuân H và Lê Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản".
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Đặng Xuân H 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/3/2023.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lê Văn V 03 (ba) năm 9 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/5/2023.
Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 589 của Bộ luật Dân sự; Điều 46; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Tịch thu bổ sung chứng cứ hồ sơ 01 USB lưu giữ clip ghi nhận lại sự việc các bị cáo trộm cắp tài sản.
Buộc bị cáo Đặng Xuân H bồi thường cho ông Phạm Vương K1 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), bà Lưu Thị Ngọc T2 7.450.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng), ông Trần Trung T1 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) và ông Nguyễn Ngọc T3 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng).
Buộc bị cáo Lê Văn V bồi thường cho ông Phạm Vương K1 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), bà Lưu Thị Ngọc T2 7.450.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng), ông Trần Trung T1 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) và ông Nguyễn Ngọc T3 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng).
Căn cứ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Dân sự;
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và các bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Đặng Xuân H và bị cáo Lê Văn V không bồi thường số tiền nêu trên cho các bị hại thì hàng tháng các bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Việc thi hành án được thực hiện tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23; khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo Đặng Xuân H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm là 1.872.500 đồng (Bằng chữ: Một triệu tám trăm bảy mươi hai nghìn năm trăm đồng).
Bị cáo Lê Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm là 1.872.500 đồng (Bằng chữ: Một triệu tám trăm bảy mươi hai nghìn năm trăm đồng).
Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Châu Ly |
Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 116/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Xuân H và Lê Văn V vê tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luât Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
