|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 116/2024/HS-ST Ngày 07 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị An
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Xuân Viện
2. Bà Vũ Thị Liên Minh
Thư ký phiên toà: Bà Vi Phương Linh- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Đinh Văn Mạnh- Kiểm sát viên
Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lương Văn T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 21 tháng 7 năm 2003 tại Thái Nguyên; giới tính: Nam; nơi cư trú: Xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không (khi phạm tội đang là sinh viên); con ông: Lương Văn T1, sinh năm 1983; con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1983; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: Chưa có.
- Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt)
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1983
Địa chỉ: Xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (có mặt)
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Quang T2, sinh năm 1973
Địa chỉ: Tổ C, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 16/01/2024, tổ công tác Công an phường H, thành phố T làm nhiệm vụ tại khu vực nhà nghỉ B thuộc tổ A, phường H, thành phố T thì phát hiện 01 nam thanh niên điều khiển xe mô tô BKS 20B2-524.85 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên khai tên là Lương Văn T, đồng thời T tự giác lấy từ trong túi áo khoác bên phải T đang mặc ra 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 02 viên nén màu trắng, 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. T khai là ma túy K và K1 của T mua để bán kiếm lời. Kiểm tra trên người và xe mô tô BKS 20B2-524.85, tổ công tác không phát hiện tài liệu, đồ vật gì. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lương Văn T và niêm phong, thu giữ vật chứng. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của T 01 xe mô tô BKS 20B2-524.85.
Hồi 21 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, đồ vật, tài liệu đối với Lương Văn T tại tổ B, phường T, thành phố T. Kết quả phát hiện và thu giữ: 01 cân điện tử màu trắng thu giữ trên mặt bàn tại phòng trọ; 20 túi nilon màu trắng kích thước (2x2) cm thu giữ trong ngăn kéo tủ gỗ.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số viên nén màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A có khối lượng 0,788 gam (niêm phong ký hiệu A2 gửi giám định); Số chất tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A có khối lượng 0,797 gam (niêm phong ký hiệu A3 gửi giám định).
Tại Bản Kết luận giám định số 248/KL-KTHS ngày 24/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu viên nén màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A2 gửi giám định là chất ma tuý, loại MDMA, khối lượng thu giữ ban đầu: 0,788 gam; Mẫu chất tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A3 gửi giám định là chất ma tuý, loại Ketamine và MDMA, khối lượng thu giữ ban đầu: 0,797 gam.
Tại Công văn số 08/PC09 ngày 01/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T về việc từ chối giám định hàm lượng các chất ma tuý theo Quyết định trưng cầu giám định số 706/QĐ-ĐCSMT ngày 26/02/2024 của Công an thành phố T, tỉnh Thái Nguyên do chưa đủ điều kiện về trang thiết bị, hóa chất.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, Lương Văn T khai nhận: Khoảng 14 giờ 00 ngày 16/01/2024, T một mình điều khiển xe mô tô BKS: 20B2-524.85 đi từ khu vực trường Đại học T4 thuộc phường T, thành phố T đến khu vực xóm R, phường Q, thành phố T mục đích tìm mua ma túy để bán kiếm lời. Tại đây, T gặp và mua 01 túi ma túy MDMA và 01 túi ma túy Ketamine và MDMA của 01 người đàn ông tên T3 (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 2.200.000 đồng. Sau đó, T cất số ma tuý vừa mua vào túi áo khoác bên phải T đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đến khu vực nhà nghỉ B thuộc tổ A, phường H, thành phố T để bán ma tuý nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác Công an phường H, T, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Vật chứng của vụ án:
- - 03 (ba) bì niêm phong ký hiệu A2, A3, A4.
- - 01 cân điện tử màu trắng và 20 túi nilon màu trắng, kích thước 2x2cm.
- - 01 (một) chiếc xe mô tô BKS: 20B2-524.85, màu sơn xanh đen bạc nhãn hiệu Honda, số loại Wave, số khung RLHJA392XNY057287, số máy JA39E-2554239 xe đã qua sử dụng.
Hiện số vật chứng trên được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
- 01 đăng ký xe mô tô mang tên Lương Văn T, hiện được lưu theo hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 107/CT-VKSTPTN ngày 16/4/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Lương Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt: Lương Văn T từ 24 đến 30 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo 5 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy: 03 bì niêm phong ký hiệu A2, A3, A4; 01 cân điện tử màu trắng và 20 túi nilon màu trắng, kích thước 2x2cm.
- + Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc xe mô tô BKS: 20B2-524.85 cùng đăng ký xe mang tên Lương Văn T
- - Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Trong phần tranh luận, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát.
Trong phần lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 16/01/2024, tại tổ A, phường H, thành phố T, Lương Văn T có hành vi tàng trữ 0,788 gam chất ma túy, loại MDMA và 0,797 gam chất ma túy, loại Ketamine và MDMA mục đích để bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác Công an phường H, T bắt quả tang thu giữ vật chứng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, của người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Trong vụ án này, mặc dù bị cáo mua hai loại chất ma tuý nhưng tổng khối lượng dưới mức định khung quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự nên việc giám định hàm lượng từng loại trong tổng khối lượng này là không cần thiết. Vì vậy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo Lương Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung Điều 251 Bộ luật hình sự quy định như sau:
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
[3]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, gia đình bị cáo có công với đất nước, ông Lương Văn N là ông nội của bị cáo được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo tuổi đời còn trẻ, khi phạm tội đang là sinh viên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo thành công dân tốt.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo cất giữ ma túy nhằm mục đích thu lời bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[4]. Vật chứng của vụ án:
- - Đối với 03 bì niêm phong ký hiệu A2, A3, A4 là vật chứng của vụ án không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 20 túi nilon màu trắng, kích thước 2 x 2cm và 01 cân điện tử màu trắng thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai chiếc cân và số túi nilon này được bị cáo mua về nhằm mục đích cân để chia nhỏ ma tuý mang đi bán, do vậy, Hội đồng xét xử thấy đây là công cụ, phương tiện liên quan đến tội phạm, không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- - Đối với chiếc xe mô tô BKS: 20B2-524.85 màu sơn xanh đen bạc nhãn hiệu Honda, số loại Wave, số khung RLHJA392XNY057287, số máy JA39E-2554239 cùng đăng ký xe mang tên Lương Văn T, bị cáo và mẹ là bà Nguyễn Thị H đều khai nguồn gốc chiếc xe này là của mẹ bị cáo bỏ tiền ra mua, đăng ký xe mang tên bị cáo vì gia đình muốn để bị cáo đứng tên cho tiện việc đi lại học tập của bị cáo. Bị cáo và bà H đều có nguyện vọng xin lại chiếc xe để quản lý, sử dụng. Xét thấy, về mặt pháp lý, chiếc xe thuộc quyền sở hữu của bị cáo, bị cáo đã sử dụng chiếc xe này làm phương tiện để đi mua ma tuý nên chiếc xe có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc xe cùng đăng ký xe. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bị cáo và bà H về việc xin lại chiếc xe.
[5] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa về điều luật áp dụng, hình phạt và các nội dung khác đối với các bị cáo là có căn cứ, tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Trong vụ án này, bị cáo khai mua ma túy của một người đàn ông tên T3 không rõ lai lịch, địa chỉ tại khu vực xóm R, phường Q, thành phố T, quá trình điều tra và tại phiên toà, không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên cơ quan điều tra không có cơ sở để làm rõ và xử lý.
Đối với bà Nguyễn Thị H là mẹ bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bà H xác định cho bị cáo tiền ăn uống sinh hoạt hàng ngày và mua xe cho bị cáo để phục vụ việc bị cáo đi lại học tập, bà không biết việc bị cáo sử dụng tiền ăn uống sinh hoạt và dùng xe để mua ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xử lý đối với bà Nguyễn Thị H là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
1.Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn T phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Lương Văn T 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2024. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000đ (năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 03 bì niêm phong ký hiệu A2, A3, A4; 01 cân điện tử màu trắng và 20 túi nilon màu trắng, kích thước 2 x 2cm.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe mô tô BKS: 20B2-524.85 màu sơn xanh đen bạc nhãn hiệu Honda, số loại Wave, số khung RLHJA392XNY057287, số máy JA39E-2554239 cùng đăng ký xe mang tên Lương Văn T.
(Số vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại kho của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên. Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 337 ngày 24/5/2023 giữa cơ quan Công an T và Chi cục Thi hành án dân sự TP Thái Nguyên. Riêng đăng ký xe mang tên Lương Văn T hiện lưu theo hồ sơ vụ án nên được giao cho Chi cục thi hành án dân sự TP Thái Nguyên kèm theo bản án này).
3. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Lương Văn T chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Thị An |
Bản án số 116/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 116/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn Tuấn phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Lương Văn Tuấn 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2024. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000đ (năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
