Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 116/2024/DS - ST

Ngày 25/9/2024

V/v tranh chấp đất đai

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Võ Duy Bảo.
  • Ông Mai Xuân Thường.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 14/8, 19/8, 10/9, 18/9 và 25/9 tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 245/2024/TLST-DS ngày 13/12/2023; Thụ lý bổ sung số 245A/TB-TLVA ngày 01/02/2024 về tranh chấp đất đai và yêu cầu hủy quyết định cá biệt theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST- DS ngày 26/6/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D. Sinh năm 1969. Địa chỉ: xóm F, xã X, huyện Y. Có mặt khi xét xử (Vắng mặt khi tuyên án)
  • - Bị đơn: Ông Thái Hữu M. Sinh năm 1983, bà Trương Thị H. Sinh năm 1988. Địa chỉ: xóm F, xã X, huyện Y. Có mặt.
  • - Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:
    • + Ủy ban nhân dân xã X, huyện Y. Ông Phan Hoàng T Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã. Có mặt phiên tòa ngày 14/8 (Các buổi sau vắng mặt).
    • + Ủy ban nhân dân huyện Y. Vắng mặt.
    • - Ông Vũ Đình T1. Sinh năm 1973. Địa chỉ: xóm F, xã X, huyện Y. Vắng mặt.
    • - Ông Nguyễn Cảnh H1. Địa chỉ: xóm F, xã X, huyện Y. Vắng mặt.
    • - Ông Nguyễn Cảnh N. Địa chỉ: Ấp C, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
    • - Ông Nguyễn Cảnh S, sinh năm 1958. Địa chỉ: xóm G, xã X, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
    • - Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1972. Địa chỉ: xóm I, xã X, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
    • - Ông Nguyễn Cảnh N2, sinh năm 1964. Địa chỉ: Ấp C, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.
    • - Ông Nguyễn Cảnh H2, sinh năm 1970. Địa chỉ: Ấp C, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.
    • - Ông Nguyễn Cảnh M1, sinh năm 1973. Địa chỉ: xóm G, xã X, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
    • - Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1971. Địa chỉ: xóm I, xã X, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
    • - Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị D: Ông Trần Đình T2. Văn phòng L. Đoàn Luật sư tỉnh N. Số D, đường M, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt khi xét xử (Vắng mặt khi tuyên án)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Nguyễn Thị D khởi kiện có nội dung như sau:

Năm 1992, cha bà D là cụ Nguyễn Cảnh N3 bán cho ông Vũ Đình T1 một thửa đất diện tích 144 m², với chiều dài 16 mét, chiều rộng 9 m. Sau đó ông Vũ Đình T1 đã được UBND huyện Y cấp GCNQSD đất số L 163950 ngày 12/4/1995.

Năm 2008, ông Vũ Đình T1 bán lại thửa đất này cho ông Thái Hữu M, việc mua bán được Ban cán sự xóm 6 và UBND xã X xác nhận ngày 09/12/2008. Sau khi mua đất, gia đình ông M đã sử dụng từ năm 2008 đến nay.

Ngày 29/12/2016, UBND huyện Y ban hành Quyết định số 10883 về việc thu hồi và cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản gắn liền với đất. Tại Điều 2 Quyết định nêu rõ: cấp GCNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản gắn liền với đất cho ông Thái Hữu M, bà Trương Thị H; số phát hành 486843; thông tin thửa đất số 605 tờ bản đồ số 17, diện tích 143 m²; nguồn gốc sử dụng là nhận chuyển nhượng.

Thửa đất của gia đình ông Thái Hữu M phía trước giáp đường xã, phía sau giáp đất của gia đình bà D. Phần tiếp giáp giữa thửa đất của ông M và gia đình bên cạnh (hộ ông Nguyễn Cảnh H1) là con mương thoát nước nằm trong diện tích đất của gia đình bà D. Con mương này gia đình bà D sử dụng để thoát nước khi mưa lũ về, vì thửa đất của nhà bà D nằm phía sau và thấp hơn, hay bị ngập, do vậy từ trước đến nay gia đình bà D giữ nguyên để làm mương thoát nước.

Ông Thái Hữu M không thừa nhận việc cấp GCN QSD đất dựa trên hợp đồng mua bán có 143 m² đất nhưng không hiểu vì lý do gì trong sơ đồ thửa đất lại được ghi là 169 m² như vậy là thừa ra 26 m² dẫn đến sự tranh chấp giữa hai gia đình. Do đó gia đình bà D đã làm đơn lên UBND xã X nhờ giải quyết. Trong quá trình giải quyết tại UBND xã thì ông M cho rằng diện tích thửa này là ông Vũ Đình T1 bán cho ông M và cũng tại UBND xã ông Vũ Đình T1 trình bày là gia đình mua của ông Nguyễn Cảnh M1 từ năm 2002 (ông Nguyễn Cảnh M1 là con của cha bà D là cụ Nguyễn Cảnh N3).

Ông Nguyễn Cảnh M1 cho rằng ông được cha bà D là ông Nguyễn Cảnh N4 di chúc cho phép bán. Di chúc này do ông Nguyễn Cảnh H1 là chú bà D viết. Tại Công văn số 85 ngày 4/11/2020 của UBND xã X đã khẳng định di chúc này ông Nguyễn Cảnh H1 thừa nhận là giả mạo.

Tại hợp đồng mua bán đất lập ngày 21/11/2016, có xác nhận của UBND xã X được lưu trữ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y giữa ông Vũ Đình T1 cùng vợ Lê Thị K với ông Thái Hữu M cùng vợ là Trương Thị H thì diện tích mua bán là 143 m. Không hề có thêm diện tích đất phát sinh là 25 m².

Việc tranh chấp đất đai bên chưa giải quyết xong thì tháng 5/2020, ông Thái Hữu M tiến hành đổ đất đá xây dựng công trình trên phần đất đang tranh chấp gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bà D. Việc ông Thái Hữu M tiến hành lấp con mương của gia đình D để xây dựng công trình đã làm cho gia đình bà D bị ngập úng nghiêm trọng vì không thể thoát nước được. Các đợt mưa lũ gia đình bà D bị ngập hết tận nhà làm ảnh hưởng đến sinh hoạt và cuộc sống.

Hiện tại bố mẹ bà D đã qua đời, bà D là người đang quản lý và sử dụng phần đất của gia đình. Việc làm của ông Thái Hữu M đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của bà D.

Bà Nguyễn Thị D yêu cầu: buộc ông Thái Hữu M và bà Trương Thị H khôi phục lại hiện trạng ban đầu của con mương; trả lại cho gia đình bà D diện tích 25 m đất đã lấn chiếm; yêu cầu hủy Giấy CNQSD đất số CG 486843 do UBND huyện Y cấp cho ông Thái Hữu M, bà Trương Thị H ngày 29/12/2016 tại thửa đất số 605, tờ bản đồ số 17 tại xã X, huyện Y.

Ý kiến trình bày của bị đơn:

Không chấp nhận trả lại 23,2 m² đất mà bà D cho rằng số đất này là của gia đình bà D với lý do: Ngày 15/07/2002, anh Nguyễn Cảnh M1, con trai thứ 6 của gia đình bà D (lúc này, mẹ bà D đã chết, không để lại di chúc) đem bán 23,2 m² cho ông Vũ Đình T3 với số tiền 450.000 đồng (ông T3 là bố ông Vũ Đình T1). Việc mua bán có người bán, người nhận tiền được UBND xã X xác thực ngày 27/09/2002. Đây là hợp đồng dân sự ông Nguyễn Cảnh M1 suy nghĩ và giải quyết cá nhân theo phần hưởng thừa kế di sản của người đã chết. Vì vậy, việc bà D đòi lại đất mà em bà đã bán đi, lấy tiền là không có cơ sở. Ông M, bà H xuất trình Giấy xin bán nhà và đất ở của ông Vũ Đình T1, bán cho ông M, bà H tổng hiện tích 167,2 m² (Phía Đông giáp đất ông Nguyễn Cảnh H1, dài 17,5 m; Phía Tây giáp đường đi của cụ Nguyễn Cảnh N3 kích thước 17,5 m; phía Bắc giá đường đi của xã và mương tưới rộng 10 m; phía Nam giáp vườn cụ Nguyễn Cảnh N3 kích thước 09 m) có xác nhận của UBND xã X thời điểm 09/02/2008.

Về yêu cầu hủy quyết định cá biệt của bà D: Ngày 21/06/2016, ông Vũ Đình T1, bà Lê Thị K chuyển nhượng cho ông Thái Hữu M2 và bà Trương Thị H thửa đất, Giấy chứng nhận số phát hành L163956 cấp ngày 12/01/1995, diện tích 144 m²; nay bản đồ địa chính là thửa 665, tờ bản đồ số 17, diện tích 143 m² sau khi đã trừ phần đất theo quy định quy hoạch mới. Hợp đồng được người bán, người mua thỏa thuận thực hiện được UBND xã X chứng thực. Sau khi hoàn thiện hợp đồng mua bán, ông M, bà H tiến hành làm đơn đề nghị cấp thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 29/12/2016, ông M, bà H được UBND huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số GG486843, tờ bản đồ số 17, diện tích 143 m² tại xóm F, xã X, huyện Y, Nghệ An. Mọi thủ tục chuyển nhượng, nhận chuyển nhượng, sang tên, thực hiện nghĩa vụ đầy đủ và thực hiện các bước hồ sơ thủ tục đúng quy trình.

Trên diện tích đất Nhà nước cấp, gia đình đã xây dựng nhà ở, tưởng bao từ lâu; nay bà D về tranh chấp. Trong lúc chờ cơ quan pháp luật giải quyết, bà D, các em bà D đã cố ý hủy hoại tài sản (cụ thể bờ bao phía sau). Giá trị thiệt hại tài sản bị hủy hoại là trên mức quy định xử lý hình sự Bộ luật Hình sự quy định (Hiện tại gia đình đã có đơn, cung cấp bằng chứng để đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết). Hành vi xem thường kỷ cương pháp luật của một nhóm người (nhiều người) phải được xử lý đúng pháp luật.

Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ủy ban nhân dân huyện Y
  • Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Thửa đất đang có tranh chấp nguyên là thuộc một phần thửa đất thổ cư của cụ Nguyễn Cảnh N3 (bố đẻ bà Nguyễn Thị D) sử dụng làm nhà ở trước năm 1980. Theo Bản đồ 299 đo năm 1985 - 1986 thuộc 1 phần thửa đất số 714, diện tích 780 m². Trong quá trình sử dụng, cụ Nguyễn Cảnh N3 có chuyển nhượng một phần diện tích đất cho gia đình ông Vũ Đình T3 (cha của ông Vũ Đình T1 người chuyển nhượng cho ông Thái Hữu M) trước năm 1995. Thực hiện chủ trương cấp GCNQSD đất cho nhân dân, ngày 12/4/1995, ông Vũ Đình T1 đã được UBND huyện Y cấp GCNQSD đất số L 163930, diện tích 144 m² không thể hiệu số hiệu thửa đất, tại xóm T, xã X còn ông Nguyễn Cảnh N4 được UBND huyện Y cấp GCNQSD đất số I 145945 trong đó có thửa đất số 714, diện tích 780 m2 đất thổ cư.

    - Theo bản đồ địa chính xã X đo đạc năm 2004 thì thửa đất số 714 (bản đồ 299) được đo vẽ là thửa 605, tờ bản đồ số 17 quy chủ sử dụng là Vũ Đình T3 (cha của ông Vũ Đình T1) và thửa 650, quy chủ sử dụng là cụ Nguyễn Cảnh N3 và đã được cụ N3 ký xác nhận vào hồ sơ kỹ thuật thửa đất.

    - Năm 2008, ông Vũ Đình T1 và vợ là bà Lê Thị K chuyển nhượng QSD đất cho ông Thái Hữu M và bà Trương Thị H và đến năm 2016 mới thực hiện thủ tục sang tên QSD đất tại thửa đất số 605, tờ bản đồ số 17 (đã được cấp tại GCNQSD đất số L 163450 ngày 12/4/1995), ngày 29/12/2016 UBND huyện Y đã cấp GCNQSD số CG 486843 cho ông ông Thái Hữu M và bà Trương Thị H.

    - Phần đất cụ Nguyễn Cảnh N3 bán cho ông Vũ Đình T3 (trước năm 1995), khi ông T3 sử dụng đất có để trọt mương để tiêu thoát nước nội bộ cho gia đình ông Vũ Đình T3 và ông Nguyễn Cảnh N4 dọc theo ranh giới tiếp giáp về phía Đông tiếp giáp với đất của gia đình ông Nguyễn Cảnh H1 cho đến năm 2020 thì gia đình ông Thái Hữu M (người nhận chuyển nhượng đất của ông Vũ Đình T1) và bà Nguyễn Thị D (con gái cụ N3 hiện tại thửa đất của cụ N3) có mâu thuẫn nên ông Thái Hữu M đã lấp trọt mương lại. Phần diện tích trọt mương này thuộc thửa đất số 605, tờ bản đồ số 17, xã X và đã được cấp GCNQSD đất cho ông Thái Hữu M và vợ là bà Trương Thị H tại GCN QSD đất số CG 486843 ngày 29/12/2016. Sau khi gia đình ông M lấp trọt mương thì bà D tranh chấp đất đai đòi lại con mương, phản ánh đến UBND xã và nay khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh.

    - Về hồ sơ địa chính:

    • + Trích sao bản đồ 299 tại thửa đất số 714, diện tích 780 m² (bao gồm cả phần đất hiện tại bà D đang sử dụng tại thửa 650 và phần đất gia đình ông M sử dụng tại thửa 605 thuộc tờ bản đồ số 17 xã X);
    • + Trang sổ cấp GCN thể hiện ông Vũ Đình T1 được cấp GCNQSD đất số L 163450 ngày 12/4/1995, diện tích 144 m², ông Nguyễn Cảnh N4 số GCNQSD đất I 145945, tổng diện tích 2417 m².
    • + T4 sổ địa chính số 125 thể hiện ông Nguyễn Cảnh N4, tổng diện tích 2417 m², trong đó có thửa 714 diện tích 780 m² đất thổ cư;
    • + Hồ sơ kỹ thuật thửa đất tại thửa 605, tờ bản đồ số 17, xã X chủ sử dụng Vũ Đình T3 (do con Vũ Đình T1 ký chủ sử dụng);
    • + Hồ sơ kỹ thuật thửa đất tại thửa 650, tờ bản đồ số 17, xã X chủ sử dụng Nguyễn Cảnh N4 do ông N4 ký chủ sử dụng;

    Từ các căn cứ trên, UBND huyện Y có ý kiến như sau:

    - Tại bản đồ 299 ranh giới giáp ranh giữa thửa 714 của cụ Nguyễn Cảnh N3 với các thửa đất tiếp giáp của các hộ sử dụng đất liền cũng như bản đồ địa chính giáp ranh thửa 650 và thửa 605, thửa 606 đều không thể hiện rãnh nước hay phần đất mương. Hồ sơ kỹ thuật thửa đất theo đo đạc bản đồ địa chính năm 2004 tại thửa 605, 650 do các chủ sử dụng đất ký xác nhận và trong quá trình sử dụng đất từ năm 1995 cho đến năm 2005 (cụ N3 chết) thì giữa cụ N3 và gia đình ông T3, ông T1 không có tranh chấp liên quan đến phần đất đã chuyển nhượng cho gia đình ông T3 (là thửa 605, tờ bản đồ số 17, xã X thuộc một phần thửa 741 bản đồ 299).

    GCNQSD đất số I 145945 ngày 12/4/1995 mang tên ông Nguyễn N3, trong đó có thửa 714, diện tích 780 m² đất thổ cư là chưa phù hợp vì trước năm 1995 ông N4 đã tách 1 phần diện tích đất tại thửa 714 (bản đồ 299) để chuyển nhượng cho ông Vũ Đình T3 (cha của ông T1) và ngày 12/4/1995 ông Vũ Đình T1 đã được UBND huyện cấp GCNQSD đất số L 163450 với diện tích 144 m² có vị trí là phần diện tích mà ông N4 chuyển nhượng đất của ông Vũ Đình T1) và bà Nguyễn Thị D (con gái cụ N3 hiện tại thửa đất của cụ N3) có mâu thuẫn nên ông Thái Hữu M đã lấp trọt mương lại. Phần diện tích trọt mương này thuộc thửa đất số 605, tờ bản đồ số 17, xã X và đã được cấp GCNQSD đất cho ông Thái Hữu M và vợ là bà Trương Thị H tại GCN QSD đất số CG 486843 ngày 29/12/2016. Sau khi gia đình ông M lấp trọt mương thì bà D tranh chấp đất đai đòi lại con mương, phản ánh đến UBND xã và nay khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh.

    - Ý kiến UBND xã X:

    • - Lý do GCN QSD đất số L 163950 được UBND huyện Y cấp ngày 12/4/1995 cấp cho ông Vũ Đình T1 tại GCN QSD đất không thể hiện số tờ, số thửa: Do tồn lại lịch sử để lại, do trình độ chuyên môn của cán bộ thời đó còn nhiều hạn chế, công rá soát, tát kê khai cấp giấy chứng nhận năm 1995 chưa cụ thể, chi tiết. Vị trí hiện nay là thửa 650, tờ bản đồ số 17, tại xóm F T, xã X.
    • - Lý do giấy tờ bản đất là bán cho ông Vũ Đình T3, nhưng lại làm hồ sơ cấp GCN QSD đất cho ông Vũ Đình T1: Do ông Vũ Đình T3 mua đất và trả tiền cho con trai là Vũ Đình T1, nên khi làm làm hồ sơ cấp GCN QSD đất để thuận tiện cho việc quản lý và sử dụng đất nên đã làm hồ sơ cấp GCNQSD đất cho ông Vũ Đình T1. Đồng thời thuận tiện cho ông Vũ Đình T1 thực hiện các giao dịch về liên đến GCN QSD đất như vay vốn ngân hàng.

    Khi tiến hành thủ tục chuyển nhượng giữa ông Vũ Đình T1 và ông Thái Hữu M tại thửa đất số 650, tờ bản đồ số 17 tại xóm F T, xã X có tiến hành cắm mốc ranh giới hay không: hiện không có tài liệu nào để lại thể hiện việc cắm mốc tại thửa đất số 650, tờ bản đồ số 17 tại xóm F T, xã X khi 2 gia đình làm hồ sơ chuyển nhượng đất cho nhau. Bản đồ đo đạc các thời kỳ liên quan đến thửa đất không thể hiện mương nước.

    - Ông Vũ Đình T1: Năm 1992 mua của cụ Nguyễn Cảnh N3 144 m²; đến năm 1995 thì được cấp GCNQSD đất. Sau đó có mua thêm 23 m², đến năm 2008 bán cho anh Thái Hữu M có viết giấy viết tay, diện tích trong và ngoài bìa là 167 m². Nhưng ông M đi làm bìa không được, vì 23 m² không hợp lệ thì giấy viết tay không còn giá trị nữa. Đến ngày 21/11/2016, vợ chồng ông T1 thống nhất bán cho ông M 144 m². Sự việc sau này ông không biết. Khi chuyển nhượng ban đầu, người nhận chuyển nhượng là ông Vũ Đình T3, sau đó cho lại ông Vũ Đình T1 và làm GCNQSD đất mang tên ông T1. Từ trước đó đã có mương thoát nước của nhiều hộ gia đình. Vì nguyên trước đây là một cái ao, hai gia đình ông T3 và ông Nguyễn Cảnh H1 lấp ao thì vẫn trừ lại con mương giữa hai nhà để tiếp tục sử dụng. Thực trạng sử dụng từ trước đến khi chuyển nhượng cho ông M thì vẫn còn mương nước sử dụng chung. Diện tích chuyển nhượng bao nhiêu thì như trong giấy CNQSD đất.

    - Ông Vũ Đình T3 trình bày: Khi mua đất của cụ N3 thì đó là cái ao rộng, kích thước mua theo giấy viết tay của các bên (ông T3 không nhớ rõ lắm). Khi mua không cắm mốc cụ thể mà chỉ dùng thước đo. Khi mua đó là cái ao thoát nước của nhiều hộ gia đình, nhưng gia đình bên cạnh lấp một phần cái ao. Khi bán cụ N3 đã đo chiều rộng là 9,5 mét tính từ cống (mép cống phía Đông) đã trừ cống. Sau đó trừ 50 cm để làm mương tại phần tiếp giáp đất ông H1 (chạy dọc theo đất trong ra). Sau đó ông T3 lấp ao để làm nhà và có trừ mương nước thoát cho gia đình và các hộ phía sau như trước đây. Khi mua đất thì ông T3 là người nhận chuyển nhượng nhưng sau đó ông T1 được ông cho ra riêng và ở trên thửa đất đó nên cấp GCNQSD đất cho ông T1.

    - Ông Nguyễn Cảnh H1: Thửa đất của ông H1, giáp thửa đất nhà cụ N3 02 cạnh (cạnh sau và cạnh bên). Trước đây dọc thửa đất tiếp giáp 02 gia đình có mương thoát nước chung của nhiều hộ gia đình trong đó có hộ anh H1, cụ N3 và nhiều hộ phía sau. Sau khi cụ N3 chuyển nhượng cho ông T3 thì mương nước vẫn còn và sử dụng như trước. Đến khi ông T3 chuyển nhượng cho ông M thì mương nước vẫn còn và sử dụng một thời gian như trước. Đến khi ông M làm nhà thì ông M lấp mương nước. Phần mương nước không nằm trên đất của ông H1 mà chạy dọc tiếp giáp đất ông H1.

    - Ông Nguyễn Cảnh S, Nguyễn Cảnh N2, Nguyễn Cảnh H2, Nguyễn Cảnh N, bà Nguyễn Thị N1, bà Nguyễn Thị H3, anh Nguyễn Cảnh M1 thống nhất với nội dung trình bày và yêu cầu của bà D.

    - Kết quả xác minh tại Văn phòng Đ – Chi nhánh huyện Y, liên quan đến thực tế thửa đất đã được xem xét, thẩm định: Hiện trạng phần diện tích 8.6 m² và 0.5 m² tiếp giáp thửa 606 là ông bà Nguyễn Cảnh H1 và vợ là Nguyễn Thị K1 đang sử dụng (chủ sử dụng thửa 606), ranh giới được xác định theo nét đứt mép ngoài phía Đông, đã được xây dựng tường bao cố định; Phần diện tích thửa đất số 605 được cấp GCNQSD đất được giới hạn ranh giới ranh giới nét liền ngoài cùng phía Đông, ranh giới hiện trạng có biến động giảm (0.5+8.6+2+6) m² so với GCNQSD đất đã cấp, trong đó phần diện tích (0.5+8.6) m² hiện trạng hộ ông bà Nguyễn Cảnh H1 và vợ là Nguyễn Thị K1 đang sử dụng, phần diện tích (2+6) m² là mương ngầm thoát nước; Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Y đính chính (tại bản đồ đo đạc khi thẩm định) chiều dài cạnh thửa phía Nam giáp thửa 650 có chiều dài là (8.90+0.53+ 1.13) = 10.56, bằng kích thước giấy chứng nhận đã cấp.

Tài liệu đã thu thập:

  • - Giấy CNQSD đất số L 163950 ngày 12/4/1995, UBND huyện Y cấp ông Vũ Đình T1 diện tích 144 m², đất ở lâu dài, không có số tờ, số thửa, tại xóm T, xã X, huyện Y.
  • - Giấy CNQSD đất số I 145945 ngày 12/4/1995, UBND huyện Y cấp ông Nguyễn Cạnh N5 diện tích nhiều thửa 2417 m², tại xóm T, xã X, Y, trong đó có thửa 714, diện tích 780 m² đất thổ cư.
  • - Di chúc của cụ N5 - Ngày 21/4/2002.
  • - Giấy bán đất ngày 23/8/2002: Ông Nguyễn Cảnh M1 bán thêm cho ông Vũ Đình T3 diện tích 23 m² (Chiều dài Đông, T5 tăng thêm 1,5 m; B rộng thêm 01 m; Nam giữ nguyên). Ngày 27/9/2020, ông T3 trả tiền cho ông M1.
  • - Giấy bán đất ngày 09/12/2008; ông Vũ Đình T1 bán cho ông Thái Hữu M – 167,2 m².
  • - Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản gắn liền với đất, giữa ông Vũ Đình T1, bà Lê Thị K2 và ông Thái Hữu M, bà Trương Thị H, ngày 21/11/2016. Diện tích chuyển nhượng 143 m².
  • - Giấy CNQSD đất số CG 486843, ngày 29/12/2016, UBND huyện Y cấp cho ông Thái Hữu M, bà Trương Thị P, thửa đất số 605, tờ bản đồ số 17, xã X, diện tích 143 m², đối với 26 m² (thuộc quy hoạch – không được cấp vào GCNQSD đất).
  • - Biên bản hòa giải tranh chấp tại UBND xã X giữa ông M và bà D, ngày 27/3/2019. Kiểm tra sơ bộ: Phía Bắc 10.32 mét; Đông 16.3 m; Tây 15,95 m; Nam 9,38 m với diện tích 143 m² đã trừ đất lưu không. Kết luận: Ông M sử dụng đất đúng với diện tích được cấp GCNQSD đất; về phần mương tiêu nước giao cho ông M giữ nguyên hiện trạng để tiêu nước cho hộ bà D và các hộ xung quanh.
  • - Biên bản làm việc tại UBND xã X ngày 08/10/2019: Đất của cụ N5 bán cho ông T3 năm 1992, chứ không phải 1995; Đất của cụ Nguyễn Cảnh N3 bán cho ông Vũ Đình T3 là 144 m² là đúng sơ sở pháp lý và đã được cấp GCNQSD đất cho ông Vũ Đình T3 năm 1995; bà Nguyễn Thị D kiến nghị đòi lại 23 m² đất để làm mương tiêu cho gia đình là không có cơ sở. Vì bà D không cung cấp được giấy tờ để chứng minh về nguồn gốc đất bán cho ông Vũ Đình T3; việc bà D nói ông Vũ Đình T3 lấn đất của gia đình bà là không có cơ sở, vì bìa đất nhà cụ N3 và ông T3 đều được cấp năm 1995.
  • - Biên bản làm việc tại UBND xã X, ngày 04/8/2020. Kết luận: đề nghị ông M cung cấp giấy tờ mua bán 23 m²

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: TAND tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền; xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là phù hợp với yêu cầu của đương sự, tại thời điểm thụ lý vụ án có đương sự đang ở nước ngoài. Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại khoản 4, Điều 34, 37 BLTTDS; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.

Thửa đất hiện ông M, bà H sử dụng có nguồn gốc thuộc quyền sử dụng của cụ N3, cụ N6; năm 1995 cụ N3 bán cho ông T3 144 m²; năm 2016, ông T1 (ông T3) chuyển nhượng cho ông M, bà H. Nhưng sơ đồ thửa đất kèm theo Giấy chứng nhận thể hiện chiều rộng giáp đường xã là 10.32 m, tăng so với khi nhận chuyển nhượng là 1.32m; chiều rộng giáp đất bà D là 10.58 m, tăng 1.58 m. Tại hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Thái Hữu M và bà Trương Thị H có biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 21/11/2016, phía mục các chủ sử dụng tiếp giáp có chữ ký của cụ Nguyễn Cảnh N3, tuy nhiên tại thời điểm đó cụ N3 đã chết (cụ N3 chết 2005). Việc ký biên bản xác định ranh giới, mốc giới đã thực hiện không đúng quy định Luật Đất đai. Từ những phân tích trên, trên cơ sở hồ sơ xin cấp giấy CNQSD đất của ông T1, bà K; ông M bà H UBND huyện Y cấp giấy CNQSDĐ cho ông Thái Hữu M và bà Trương Thị H đối với thửa đất trên là không đúng quy định của pháp luật. Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy giấy CNQSDĐ đã cấp cho ông M và bà H.

Theo lời khai của nguyên đơn tại thời điểm cụ N3 chuyển nhượng cho ông Vũ Đình T3 thì phần diện tích tranh chấp cụ N3 không chuyển nhượng cho ông Vũ Đình T3, ông T3 cũng thừa nhận là có khoảng 50cm theo chiều rộng, còn chiều dài chạy hết đất phần tiếp giáp nhà ông H1 được trừ lại để làm mương thoát nước. Ngoài lời khai của nguyên đơn thì ông Nguyễn Cảnh H1, chủ sử dụng liền kề với phần diện tích đất tranh chấp thì trước khi thửa đất được chuyển nhượng cho ông Thái Hữu M thì giữa gia đình ông và gia đình ông M có một mương thoát nước ngăn cách nhau đã có từ lâu, sau này khi ông M nhận chuyển nhượng từ ông Vũ Đình T3 thì ông M đã lấp mương; ông M cũng thừa nhận có mương nước nhưng đã được ông M1 chuyển nhượng cho ông T1. Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn khôi phục lại con mương thoát nước.

Đối với yêu cầu trả lại diện tích đất lấn chiếm 23 m². Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị D rút yêu cầu không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét việc rút yêu cầu của bà D là tự nguyện nên đề nghị HĐXX chấp nhận, căn cứ khoản 2 Điều 244 BLTTDS đình chỉ giải quyết.

Về chi phí tố tụng và án phí: các đương sự phải chịu chi phí tố tụng và án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và ý kiến của các đương sự, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:

    Thẩm quyền thụ lý, giải quyết và quan hệ tranh chấp: Bà Nguyễn Thị D khởi kiện yêu cầu ông Thái Hữu M, bà Trương Thị H trả lại diện tích 23 m² đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân huyện Y đã cấp cho gia đình ông Thái Hữu M và bà Trương Thị H; yêu cầu khôi phục lại mương nước có chiều rộng 55 cm dài dọc chiều dài thửa đất. Căn cứ khoản 9 Điều 26 khoản 4 Điều 34 và Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính. Hội đồng xét xử xác định là "Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; yêu cầu về thoát nước". Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

  2. Về nội dung vụ án:
    1. Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả lại 23 m² đất lấn chiếm.

      Tại phiên tòa, nguyên đơn rút nội dung này. Căn cứ khoản 2 Điều 244 BLTTDS Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết nội dung khởi kiện này của nguyên đơn.

    2. Về yêu cầu hủy GCNQSD đất.
      1. Nguồn gốc thửa đất.

        Phần đất liên quan đến mương thoát nước nguyên là một phần của thửa đất số 714, tờ bản đồ 299 thuộc xã X, diện tích 780 m² là tài sản chung của cụ Nguyễn Cảnh N3 và cụ Nguyễn Thị N6 tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Cụ N6 chết năm 1991, cụ N3 chết 2005. Các cụ không để lại di chúc.

        Năm 1995, cụ N3 đã chuyển nhượng cho ông Vũ Đình T3 (cha của ông Vũ Đình T1), 144 m² đất; việc chuyển nhượng có lập giấy viết tay đơn xin bán vườn do cụ Nguyễn Cảnh N3 lập ngày 01/4/1995, cụ thể như sau: Chiều dài 16 m, chiều rộng 9 m. Tổng diện tích 144 m², được UBND xã xác nhận. Giá trị chuyển nhượng là 1.000.000 đồng. Tại đơn xin bán vườn không xác định tứ cận cụ thể phần chuyển nhượng nhưng có kích thước cụ thể. Mục đích bán vườn là muốn lấy 1 phần tiền để sinh sống và 1 phần tiền để tiết kiệm.

        Ngày 12/4/1995, ông Vũ Đình T1 đã được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số L 1663930, diện tích 144 m² (không ghi số thửa, TBĐ) tại xóm T, xã X; cụ Nguyễn Cảnh N3 được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số I 145945 là thửa số 714, diện tích 780 m².

        Ngày 09/02/2008, ông Vũ Đình T1 viết giấy chuyển nhượng cho ông Thái Hữu M, bà Trương Thị H 167,2 m² có các chiều cạnh phía Đông, T5 dài 17,5 m; phía Nam giáp đất bà D (cụ N3) 09 m; phía Bắc giáp đường đi 10 m. Tuy nhiên, tại Hợp đồng chuyển nhượng ngày 21/11/2016, ông T1 chuyển nhượng cho ông M, bà H, diện tích chuyển nhượng là 143 m² – Theo trích lục bản đồ thửa đất có diện tích 169 m²; ngày 29/12/2016 ông T1 bà H được UBND huyện Y cấp giấy CNQSD đất, diện tích 143 m² (26 m² đất quy hoạch mở đường không được cấp giấy CNQSD đất).

        Thửa đất hiện ông M, bà H sử dụng có nguồn gốc thuộc quyền sử dụng của cụ N3, cụ N6; năm 1995 cụ N3 bán cho ông T3 144 m²; năm 2016, ông T1 (ông T3) chuyển nhượng cho ông M, bà H. Ông M, bà H cho rằng mua của ông T1 167,2 m², nhưng phần diện tích tăng thêm (từ 144 m² theo bìa cấp năm 1995 cho ông T1 lê 167,2 m²) ông T1 có ý kiến là khi làm bìa không được nên chỉ bán theo bìa.

        Ông M cung cấp tài liệu liên quan (Giấy bán đất ngày 23/8/2002, ông Nguyễn Cảnh M1 bán cho ông T3 23,2 m²; Giấy xin bán nhà và đất ở ngày 09/02/2008, ông T1 bán cho ông M 167,2 m²). Nhưng ông M không cung cấp được tài liệu hợp pháp của cơ quan có thẩm quyền xác định phần diện tích chuyển nhượng đã được cấp GCNQSD đất là 167,2 m² như nội dung trình bày.

      2. Căn cứ pháp lý về việc cấp Giấy CNQSD đất cho ông M, bà H

        Khi cụ N3 chuyển nhượng đất cho ông T3 các đồng thừa kế của cụ N6 đều biết và không có ý kiến gì, số tiền nhận được từ chuyển nhượng được sử dụng để chi tiêu sinh hoạt chung cho các hàng thừa kế, các hàng thừa kế đều xác nhận sự việc trên và phần đất chuyển nhượng đã được cấp giấy CNQSD đất mang tên ông T1 (con trai ông T3). Căn cứ Án lệ số 16/2017/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, trường hợp “Di sản thừa kế là bất động sản đã được một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng. Các đồng thừa kế khác biết và không phản đối việc chuyển nhượng đó. Số tiền nhận chuyển nhượng đã được dùng để lo cuộc sống của các đồng thừa kế. Bên nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.” thì Tòa án phải công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hợp pháp và diện tích đất đã chuyển nhượng không còn trong khối di sản để chia thừa kế mà thuộc quyền sử dụng của bên nhận chuyển nhượng. Vì vậy, diện tích đất cụ N3 chuyển nhượng cho ông T3 được pháp luật công nhận.

        Do đó có căn cứ xác định diện tích đất cụ N3 chuyển nhượng cho ông T3 là 144m², có chiều rộng 9 m, chiều dài 16 m. Trên cơ sở sự thống nhất của ông T3 UBND đã cấp giấy CNQSD đất mang tên ông Vũ Đình T1 (con trai ông T3) với diện tích đất này.

        Ngày 21/11/2016, ông Vũ Đình T1 và vợ là Lê Thị K đã ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên cho ông M bà H; Hợp đồng thực hiện đúng quy định của pháp luật. Ngày 29/12/2016 ông M bà H được cấp giấy CNQSD đối với thửa 605, TBĐ số 17, diện tích 143m².

        Tuy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên đã tuân thủ các quy định về hình thức, tuy nhiên, như phân tích trên, thửa đất do ông T3 nhận chuyển nhượng của cụ N3 năm 1995 và diện tích cụ N3 chuyển nhượng cho ông T3 là 144 m², có kích thước cụ thể (chiều dài 16 m, rộng 9 m). Nhưng sơ đồ thửa đất kèm theo Giấy chứng nhận thể hiện chiều rộng giáp đường xã là 10.32 m, tăng so với khi nhận chuyển nhượng là 1.32 m; chiều rộng giáp đất bà D là 10.56 m, tăng 1.56 m.

        Quá trình giải quyết vụ án, ông M cho rằng phần diện tích tăng lên là do năm 2002 anh Nguyễn Cảnh M1 đã chuyển nhượng thêm cho ông T1 23,2m² với số tiền 450.000 đồng, nên thuộc quyền sử dụng của ông T1 do đó ông nhận chuyển nhượng là hợp pháp. Xét thấy, tại giấy bán đất có xác nhận của UBND xã X ngày 23/8/2002 giữa ông M1 với ông T3 thể hiện phần diện tích ông M1 chuyển nhượng có tứ cận: Đông, Tây dài 17,5m (trước 16m); Bắc rộng 10m (trước 9m); Nam 9m.

        Căn cứ vị trí thửa đất, 2 phía của thửa đất là Bắc, Nam đều tăng lên sau chuyển nhượng; Tại Giấy bán đất giữa ông M1 chuyển nhượng cho ông T3 một phần giáp tăng chiều cạnh Đ và T5 (Từ 16 m lên 17,5 m) nay thuộc phần đất quy hoạch mở đường, không được cấp giấy CNQSD đất cho gia đình ông M, bà H.

        Như vậy, trường hợp các giấy chuyển nhượng giữa ông M1 và ông T1, giữa ông T1 và ông M, bà H hợp pháp thì phần diện tích này tăng ở chiều dọc (hai cạnh Đông, T5) chứ không phải là chiều ngang (hai cạnh Nam, B).

        Đồng thời, như phân tích trên, thửa đất có nguồn gốc của cụ N3, cụ N6 năm 2002, ông M1 chuyển nhượng cho ông T3 nhưng tại giấy bán đất tuy có xác nhận của UBND xã nhưng không có ý kiến cũng như ủy quyền của các đồng thừa kế cụ N6, nên việc ông M1 chuyển nhượng là không đúng quy định của pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của các đồng thừa kế. Vì vậy, phần diện tích ông T1 nhận chuyển nhượng của ông M1 không được pháp luật công nhận, nên ông T1 không có quyền chuyển nhượng. Phần đất ông M1 bán và phần đất lưu không, không xác định được có chồng lấn với nhau hay không.

        Đối chiếu diện tích đất chuyển nhượng lần đầu với kết quả đo đạc hiện trạng và sơ đồ thửa đất kèm theo giấy CNQSD đất do UBND cấp cho ông M năm 2016 thì chiều rộng thửa đất phía giáp đường 10,32 m; phía giáp đất bà D 10,58m. Như vậy chiều rộng thửa đất tăng 1,32m và 1,56 m so với diện tích chuyển nhượng lần đầu.

        Căn cứ lời khai của ông Vũ Đình T1: quá trình sử dụng thửa đất tranh chấp thì từ trước đã có mương nước sử dụng chung của nhiều hộ. Nguồn gốc mương nước là ao, nhưng sau đó được ông H1 và ông T3 lấp đi còn lại mương nước ở giữa hai thửa đất để tiếp tục sử dụng. Thực trạng sử dụng có mương nước cho đến khi chuyển nhượng cho ông M thì vẫn dùng mương nước đó.

        Ông Vũ Đình T3 (người nhận chuyển nhượng từ cụ Nguyễn Cảnh N3): Khi mua không cắm mốc cụ thể, tại thời điểm nhận chuyển nhượng từ cụ N3 thì thửa đất đó có ao. Khi bán cụ N3 đã đo chiều rộng là 9,5m, sau đó trừ đi 50cm để làm mương, tại phần tiếp giáp đất ông H1. Sau đó ông T3 lấp ao để làm nhà và có trừ mương thoát nước.

        Theo lời khai của ông Nguyễn Cảnh H1 (chủ sử dụng thửa đất liền kề với phần diện tích tranh chấp): Thửa đất gia đình ông H1 giáp với thửa gia đình cụ N3 02 cạnh. Trước đây dọc 2 thửa đất có mương thoát nước chung của nhiều hộ. Sau khi cụ N3 chuyển nhượng cho ông T3 thì mương nước vẫn còn và vẫn sử dụng. Cho đến khi ông M làm nhà thì ông M lấp mương.

        Theo báo cáo của UBND xã X thì bản đồ đo đạc qua các thời kỳ liên quan đến thửa đất không thể hiện mương nước, nhưng thực tế: “Phần đất cụ Nguyễn Cảnh N3 bán cho ông Vũ Đình T3 (trước năm 1995), khi ông T3 sử dụng đất có để trọt mương để tiêu thoát nước nội bộ cho gia đình ông Vũ Đình T3 và ông Nguyễn Cảnh N4 dọc theo ranh giới tiếp giáp về phía Đông tiếp giáp với đất của gia đình ông Nguyễn Cảnh H1 cho đến năm 2020 thì gia đình ông Thái Hữu M (người nhận chuyển nhượng đất của ông Vũ Đình T1) và bà Nguyễn Thị D (con gái cụ N3 hiện tại thửa đất của cụ N3) có mâu thuẫn nên ông Thái Hữu M đã lấp trọt mương lại. Phần diện tích trọt mương này thuộc thửa đất số 605, tờ bản đồ số 17, xã X và đã được cấp GCNQSD đất cho ông Thái Hữu M và vợ là bà Trương Thị H tại GCN QSD đất số CG 486843 ngày 29/12/2016. Sau khi gia đình ông M lấp trọt mương thì bà D tranh chấp đất đai đòi lại con mương”.

        Như vậy có căn cứ xác định, diện tích đất ông T3 (ông T1) nhận chuyển nhượng của cụ N3 là 144m², rộng 9m, dài 16m; phần diện tích đất tranh chấp trước đây là một cái ao đã có từ trước sau khi cụ Nguyễn Cảnh N3 chuyển nhượng thửa đất cho ông Vũ Đình T3 thì ông H1 và ông T3 đã lấp đất để tạo thành mương cho các nhà xung quanh. Tại thời điểm chuyển nhượng cho ông T3, cụ N3 đã trừ đi một phần diện tích để làm mương nước mà không chuyển nhượng cho ông T3, phần diện tích được trừ ra không có kích thước cụ thể, nhưng theo lời khai của ông T3 người nhận chuyển nhượng là khoảng 50cm. Những lời khai trên hoàn toàn phù hợp với lời khai của nguyên đơn cũng như lời khai của các con cụ Nguyễn Cảnh N3. Vậy có căn cứ xác định cụ N3 không chuyển nhượng toàn bộ kích thước mặt ngoài cho ông Vũ Đình T3. Nên ông ông T1 (ông T3) không có quyền sử dụng toàn bộ phần diện tích đất, do đó việc ông T3, ông T1 chuyển nhượng toàn bộ thửa đất trên cho ông M là không đúng quy định của pháp luật.

        Ngoài ra, tại hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Thái Hữu M và bà Trương Thị H có biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 21/11/2016, phía mục các chủ sử dụng tiếp giáp có chữ ký của cụ Nguyễn Cảnh N3, tuy nhiên tại thời điểm đó cụ N3 đã chết (cụ N3 chết 2005). Việc ký biên bản xác định ranh giới, mốc giới đã thực hiện không đúng quy định.

        Căn cứ kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, phần diện tích cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông M, bà H, có một phần diện tích 8,6 m² (tiếp giáp gia đình ông Nguyễn Cảnh H1) gia đình ông Nguyễn Cảnh H1 sử dụng và đã xây công trình trên đó từ trước khi cấp GCQSD đất cho ông M, bà H.

        Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông M, bà H không đúng thực tế sử dụng (có phần mương nước và phần gia đình ông Nguyễn Cảnh H1 sử dụng), vượt quá phần diện tích nhận chuyển nhượng.

        Từ những phân tích trên, trên cơ sở hồ sơ xin cấp giấy CNQSD đất của ông T1, bà K; ông M bà H UBND huyện Y cấp giấy CNQSDĐ cho ông Thái Hữu M và bà Trương Thị H đối với thửa đất trên là không đúng quy định của pháp luật. Nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy giấy CNQSDĐ đã cấp cho ông M và bà H.

      3. Đối với yêu cầu: buộc ông Thái Hữu M và bà Trương Thị H khôi phục lại hiện trạng con mương

        Như phân tích trên, cụ Nguyễn Cảnh N3 chỉ chuyển nhượng cho ông Vũ Đình T3 vào năm 1995, 144 m² có chiều rộng 9m, dài 16 m; khi thực hiện chuyển nhượng có tiến hành đo đạc các chiều cạnh nhưng hiện nay kích thước thửa đất số 605, tờ bản đồ số 17 các cạnh tiếp giáp phía Bắc, Nam của thửa đất đều tăng lên lần lượt 1,32 m; 1,56 m.

        Theo lời khai của nguyên đơn tại thời điểm cụ N3 chuyển nhượng cho ông Vũ Đình T3 thì phần diện tích tranh chấp cụ N3 không chuyển nhượng cho ông Vũ Đình T3, ông T3 cũng thừa nhận là có khoảng 50cm theo chiều rộng, còn chiều dài chạy hết đất phần tiếp giáp nhà ông H1 được trừ lại để làm mương thoát nước. Ngoài lời khai của nguyên đơn thì ông Nguyễn Cảnh H1, chủ sử dụng liền kề với phần diện tích đất tranh chấp thì trước khi thửa đất được chuyển nhượng cho ông Thái Hữu M thì giữa gia đình ông và gia đình ông M có một mương thoát nước ngăn cách nhau đã có từ lâu, sau này khi ông M nhận chuyển nhượng từ ông Vũ Đình T3 thì ông M đã lấp mương; ông M cũng thừa nhận có mương nước nhưng đã được ông M1 chuyển nhượng cho ông T1. Tuy nhiên, căn cứ giấy bán đất giữa ông M1 và ông T1 thì việc ông M1 bán cho ông T1 tăng ở các chiều cạnh phía Đông, T5, B, còn chiều cạnh phía nhà bà D vẫn giữ nguyên 09 m, đồng thời như phân tích trên, việc chuyển nhượng của ông M1 là không đúng quy định, do đó không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông M, bà H.

        Từ những chứng cứ trên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn khôi phục lại con mương thoát nước.

        Hiện tại, kích thước các cạnh thửa đất của ông M được cấp GCN và thực tế sử dụng như sau: Cạnh phía Bắc (giáp đường) 10,6 m (chiều rộng mương 0,46 m; phần gia đình ông H1 sử dụng 0,27 m; phần gia đình ông M sử dụng 9,87 m (nhiều hơn nhận chuyển nhượng 0,87 m), rộng hơn so với GCNQSD đất 0,28 m; cạnh phía Nam có chiều dài là (8.9 m ông M đang sử dụng + 0.53 m chiều rộng mương nước + 1,13 m gia đình ông H1 đang sử dụng) = 10.56 m, bằng kích thước giấy chứng nhận đã cấp.

        Tại phiên tòa, bà D yêu cầu khôi phục lại vị trí con mương nước như hiện tại, đồng thời đồng ý giảm chiều rộng con mương phía sau còn 43 cm để đủ phần chiều rộng ông M đã mua là 09 m.

        Xét thấy, mương nước đã có vị trí ổn định, cần giữ nguyên vị trí phía trước cũng như đường thoát nước trên phần lưu không. Do đó xác định ông M, bà H có trách nhiệm khôi phục con mương có chiều rộng phía trước là 46 cm; phía sau là 43 cm; chiều dài là theo dọc thửa đất phía giáp với nhà ông Nguyễn Cảnh H1 dài 12,29 m (Sơ đồ kèm theo).

      4. Án phí và chi phí tố tụng.
        1. Án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
        2. Chi phí tố tụng.

          Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, bị đơn có nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng (xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản). Do nguyên đơn đã nộp nên bị đơn có nghĩa vụ thanh toán lại cho nguyên đơn số tiền 5.000.000 đồng.

        Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 2, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự: Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi lại diện tích 23 m² đất.
  2. Căn cứ khoản 9 Điều 26 khoản 4 Điều 34 và điểm a, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 157, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính 2015; Điều 165; Điều 166, Điều 169, Điều 175, Điều 237 BLDS; Điều 203 Luật Đất đai 2013, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D.

    • - Buộc ông Thái Hữu M, bà Trương Thị H phải khôi phục lại con mương thoát nước có vị trí dọc thửa đất tiếp giáp thửa đất 606 (đất nhà ông Nguyễn Cảnh H1. Diện tích 5,4 m², kích thước như sau: chiều rộng phía sau (giáp nhà bà D) 0,43 m; phía trước (giáp đường) 0,46 m; chiều dài dọc phía Tây thửa đất, dài 12,29 m (sơ đồ kèm theo).
    • - Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CG 486843 do UBND huyện Y cấp cho ông Thái Hữu M, bà Trương Thị H ngày 29/12/2016 tại thửa đất số 605 tờ bản đồ số 17, diện tích 143 m² tại xã X, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
  3. Về chi phí tố tụng:

    Ông Thái Hữu M, bà Trương Thị H phải chịu chi phí tố tụng là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Do bà Nguyễn Thị D đã nộp, nên ông Thái Hữu M, bà Trương Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị D số tiền 5.000.000 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

  4. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Thái Hữu M và bà Trương Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Các đương sự quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội như sau:

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2024/DS - ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp đất đai

  • Số bản án: 116/2024/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TC đất đai Dung - Mau
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger