|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 116/2024/DS-ST
Ngày: 28-9-2024
V/v tranh chấp quyền sử dụng
đất, hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Minh Thìn.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Minh.
- Bà Cao Thị Diệu Hiền.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Bích Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 160/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2023, về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 125/2024/QĐST-DS ngày 26 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phan Nhựt T, sinh năm 1989.
- Bị đơn:
Địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đ.
Người đại diện theo ủy quyền của anh T: Ông Trương Quang H, sinh năm: 1955.
Địa chỉ: Số D, Khóm B, Phường B, thành phố S, Đ (Hợp đồng ủy quyền ngày 19/10/2023).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn anh Phan Nhựt T: Luật sư Nguyễn Văn T1 – Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn T1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.
2.1. Ông Lâm Văn M, sinh năm: 1960.
-
2.2. Bà Tô Thị N, sinh năm: 1961.
Cùng địa chỉ: Số H, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn bà Tô Thị N, ông Lâm Văn M: Luật sư Trần Tấn T2 – Công ty L và cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Huỳnh Ngọc T3, sinh năm 1990.
- Chị Bùi Thị H1, sinh năm: 1991.
- Ông Tô Thanh N1, sinh năm 1968.
- Anh Lâm Bá V, sinh năm: 1984.
- Chị Nguyễn Thị Hồng D, sinh năm: 1987.
- Chị Lâm Thị Thúy H2, sinh năm: 1987.
- Anh Lâm Văn G, sinh năm: 1990.
- Lâm Thanh X, sinh ngày: 01/4/2014.
- Lâm Thị Bảo Q, sinh ngày: 01/12/2016.
Cùng địa chỉ: Số A, khóm H, Phường B, thành phố S, tỉnh Đ.
Người đại diện theo ủy quyền của anh T3, chị H1: Chị Hồ Mỹ S, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Số A, khóm T, phường T, thành phố S, tỉnh Đ (Hợp đồng ủy quyền ngày 21/5/2024).
Địa chỉ: Số H, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Người đại diện của Lâm Thanh X, Lâm Thị Bảo Q: cha ruột Lâm Bá V, sinh năm: 1984; mẹ ruột Nguyễn Thị Hồng D, sinh năm: 1987.
Cùng địa chỉ: Số H, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Ông H, Luật sư T1, bà N, Luật sư T2, chị S, ông N1 có mặt tại phiên tòa. Ông M, anh V, chị D, chị H2, anh G vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Phan Nhựt T là ông Trương Quang H trình bày:
Toàn bộ các thửa đất số 797, 799 cùng tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ có nguồn gốc trước đây là của ông Tô Thanh N1 nhận thừa kế. Ngày 07/12/2020 ông N1 ký hợp đồng chuyển nhượng (HĐCN) 02 thửa đất này cho anh Huỳnh Ngọc T3. Đến ngày 11/01/2022 anh T3 và vợ là chị Bùi Thị H1 ký HĐCN 02 thửa đất này lại cho anh T. Ngày 09/02/2022 anh T được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ) các thửa đất số 797, 799.
Trước khi nhận chuyển nhượng các thửa đất 797, 799 thì trên đất có 01 căn nhà của ông N1 đã bán cho anh T3, chị H1. Còn có 01 căn nhà, cùng phần đan xây dựng trên đất đi vô nhà của phía bà N, ông M gồm diện tích đất 60m² (Hình 1), các mốc M9-M10-M11-M13-M14-M9, thuộc một phần thửa đất số 797 và diện tích đất 122,2m² (Hình 2), các mốc M1-M2-M3-M4-M5-M6-M7-M8-M9-M14-M13-M11-M12-M1, thuộc một phần thửa đất số 799; theo Sơ đồ đo đạc điều chỉnh ngày 26/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S (viết tắt là Chi nhánh Văn phòng). Khi thỏa thuận chuyển nhượng 02 thửa đất thì anh T mua luôn căn nhà của ông N1 bán cho anh T3, chị H1 trước đây. Còn anh T có trao đổi thỏa thuận bằng lời nói với phía bị đơn bà N, ông M yêu cầu bà N, ông M di dời nhà, tài sản để giao đất; anh T đồng ý hỗ trợ chi phí di dời là 250.000.000 đồng, nhưng ông M, bà N cho rằng đất mua của ông Tô Thanh N1 nên không đồng ý di dời giao đất cho anh T. Sau khi nhận chuyển nhượng thì anh T3, chị H1 đã bàn giao một phần các thửa đất 797, 799 cho anh T, do phía bị đơn chưa di dời nhà, nên chưa giao phần đất đang tranh chấp cho anh T. Giá tiền anh T3, chị H1 chuyển nhượng thửa đất 797, 799 và căn nhà của ông N1 bán cho anh T3, chị H1 trước đây với tổng số tiền là 1,2 tỷ đồng, anh T đã trả đủ số tiền này cho anh T3, chị H1 nhận xong.
Nay anh T yêu cầu ông Lâm Văn M, bà Tô Thị N, anh Lâm Bá V, chị Nguyễn Thị Hồng D, chị Lâm Thị Thúy H2, anh Lâm Văn G, Lâm Thanh X, Lâm Thị Bảo Q cùng liên đới di dời nhà, tài sản trả lại cho anh T diện tích đất 60m² (Hình 1), gồm các mốc M9-M10-M11-M13-M14-M9, thuộc một phần thửa đất số 797 và diện tích đất 122,2m² (Hình 2), gồm các mốc M1-M2-M3-M4-M5-M6-M7-M8-M9-M14-M13-M11-M12-M1, thuộc một phần thửa đất 799; theo Sơ đồ đo đạc điều chỉnh ngày 26/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng. Anh T đồng ý hỗ trợ chi phí di dời là 250.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của anh T trình bày: Anh T yêu cầu phía bị đơn ông M, bà N, anh V, chị D, chị H2, anh G, X, Q cùng liên đới giao căn nhà chính cho anh T, anh T đồng ý trả giá trị căn nhà chính cho bà N, ông M theo giá của Hội đồng định giá đã định và buộc phía bị đơn di dời nhà phụ, tài sản trả lại cho anh T phần đất H, Hình 2, anh T không đồng ý trả giá trị hay hỗ trợ di dời.
Anh T xác định các thửa đất 797, 799 là tài sản riêng của cá nhân anh T. Hiện bản chính GCN QSDĐ các thửa đất 797, 799 anh T đang giữ, không có thế chấp để vay tiền tổ chức, các nhân nào. Đối với việc ông Lê Phước D1 xây dựng nhà có một phần ô văng lấn chiếm qua khoảng không gian trên một phần của phần đất Hình 2 có diện tích 0,1m² thì anh T không có tranh chấp, không có yêu cầu gì.
Đối với yêu cầu của bà N yêu cầu tuyên bố vô hiệu một phần các HĐCN QSDĐ phần đất Hình 1, Hình 2 giữa ông N1 chuyển nhượng cho anh T3 ngày 07/12/2020 và HĐCN QSDĐ từ anh T3, chị H1 chuyển nhượng cho anh T ngày 11/01/2022 và yêu cầu công nhận HĐCN QSDĐ giữa bà N với ông N1 ngày 18/9/2019, công nhận cho bà N được quản lý, sử dụng phần đất Hình 1, Hình 2 thì anh T không đồng ý toàn bộ. Trường hợp các HĐCN QSDĐ giữa ông N1 chuyển nhượng cho anh T3 ngày 07/12/2020 và HĐCN QSDĐ từ anh T3, chị H1 chuyển nhượng cho anh T vô hiệu một phần đối với phần đất Hình 1, H, thì anh T không
có tranh chấp, không có yêu cầu gì đối với anh T3, chị H1, ông N1 trong vụ án này. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ kiện khác.
Ngoài ra, anh T không có yêu cầu gì khác.
Các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Tô Thị N (có đơn phản tố) trình bày:
Trước đây, vào năm 2017 bà N, ông M có thỏa thuận bằng lời nói với ông N1 (em ruột của bà N) về việc bà N, ông M nhận chuyển nhượng của ông N1 diện tích đất 60m² (Hình 1), các mốc M9-M10-M11-M13-M14-M9, thuộc một phần thửa đất số 797 và diện tích đất 122,2m² (Hình 2), các mốc M1-M2-M3-M4-M5-M6-M7-M8-M9-M14-M13-M11-M12-M1, thuộc một phần thửa đất 799; theo Sơ đồ đo đạc điều chỉnh ngày 26/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng. Giá tiền nhận chuyển nhượng phần đất Hình 1, H3 2 tổng cộng là 125.000.000 đồng; việc thỏa thuận chuyển nhượng không có làm giấy tờ, văn bản gì, trong năm 2017 bà N, ông M đã giao đủ số tiền 125.000.000 đồng cho ông N1 nhận.
Đến ngày 18/9/2019 bà N và ông N1 cùng ký tên trong Giấy mua bán đất (giấy tay không có công chứng, chứng thực) thể hiện chuyển nhượng phần đất Hình 1, Hình 2. Lúc này chưa ghi số chứng minh nhân dân của bà N, ông N1 vô Giấy mua bán đất ngày 18/9/2019, đến khoảng tháng 01/2023 bà N nhờ người khác ghi số chứng minh của ông N1 và số căn cước công dân của bà N vào Giấy mua bán đất ngày 18/9/2019. Phần đất Hình 1, Hình 2 bà N, ông M nhận chuyển nhượng của ông N1 thì năm 2017 ông N1 đã bàn giao cho bà N, ông M; Đến năm 2019 bà N, ông M xây dựng nhà (hiện nay là nhà số H, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp), xây dựng đan trên đất để đi vô nhà sử dụng đến nay.
Trước đây, bà N, ông M không biết về các HĐCN QSDĐ giữa ông N1 với anh T3 và giữa anh T3, chị H1 với anh T. Khoảng năm 2020 – 2021 anh T3 có vô gặp ông N1 yêu cầu giao nhà, đất của ông N1 cho anh T3 vì anh T3 cho rằng ông N1 vay tiền của anh T3 không trả được. Khi đó, bà N, ông M có nói anh T3 làm thủ tục tách phần đất của bà N, ông M để bà N, ông M đứng tên riêng, thì anh T3 đồng ý, nhưng sau đó không thực hiện đến nay.
Hiện có ông M, bà N, anh V, chị D, chị H2, anh G, X, Q đang ở trong nhà. Nhưng phần đất Hình 1, H, nhà, đan xây dựng trên đất là tài sản riêng của ông M, bà N; những người còn lại không có công sức đóng góp gì để tạo lập nhà, đất, tài sản này. Bà Nguyễn Thị T4 trước đây cũng sống chung trong nhà, nhưng đến ngày 01/4/2024 thì bà T4 đã chết.
Nay bà N không đồng ý với toàn bộ yêu cầu của anh T. Bà N yêu cầu tuyên bố vô hiệu một phần các HĐCN QSDĐ giữa ông N1 chuyển nhượng cho anh T3 ngày 07/12/2020 và HĐCN QSDĐ từ anh T3, chị H1 chuyển nhượng cho anh T ngày 11/01/2022 đối với diện tích đất 60m² (Hình 1), thuộc một phần thửa đất số 797 và diện tích đất 122,2m² (Hình 2), thuộc một phần thửa đất 799, theo Sơ đồ đo đạc điều chỉnh ngày 26/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng. Yêu cầu công nhận HĐCN QSDĐ giữa bà N với ông N1 ngày 18/9/2019, công nhận cho bà N, ông M được quản lý, sử dụng phần đất Hình 1, Hình 2, thuộc một phần thửa đất số 797,
799 cùng tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ để bà N, ông M được cấp chung GCN QSDĐ.
Hiện nay, anh T cũng có sử dụng một phần trong phần đất Hình 1, Hình 2 để đi vô thửa đất 797, 799 còn lại của anh T. Bà N, ông M đồng ý để cho anh T sử dụng, không có tranh chấp. Đối với việc ông Lê Phước D1 xây dựng nhà có một phần ô văng lấn chiếm qua khoảng không gian trên một phần của phần đất Hình 2 có diện tích 0,1m² thì bà N không có tranh chấp, không có yêu cầu gì.
Ngoài ra, bà N không có yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông Lâm Văn M có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, có lời khai trước đây trình bày:
Ông M thống nhất với toàn bộ lời trình bày, ý kiến, yêu cầu của bà N. Ngoài ra, không có ý kiến, yêu cầu gì khác.
Các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tô Thanh N1 trình bày:
Thửa đất 797 và 799 có nguồn gốc do ông N1 nhận thừa kế riêng, đến ngày 13/4/2020 ông N1 được cấp đổi GCN QSDĐ thành thửa đất 797 và 799, cùng tờ bản đồ số 3. Trước đây, vào năm 2017 ông N1 có thỏa thuận bằng lời nói chuyển nhượng cho bà N, ông M (bà N là chị ruột của ông N1) phần đất Hình 1 và phần đất Hình 2 với giá tiền tổng cộng là 125.000.000 đồng; trong năm 2017 bà N, ông M đã giao đủ số tiền 125.000.000 đồng cho ông N1 nhận. Đến ngày 18/9/2019 bà N và ông N1 có ký tên trong Giấy mua bán đất (không có công chứng, chứng thực). Phần đất ông N1 chuyển nhượng cho bà N, ông M thì năm 2017 ông N1 đã bàn giao cho bà N, ông M. Đến ngày 18/9/2019 bà N và ông N1 cùng ký tên Giấy mua bán đất (giấy tay không có công chứng, chứng thực) thể hiện chuyển nhượng phần đất Hình 1, Hình 2; Lúc này chưa ghi số chứng minh nhân dân của bà N, ông N1 vô Giấy mua bán đất ngày 18/9/2019, đến khoảng tháng 01/2023 bà N nhờ người khác ghi số chứng minh của ông N1 và số căn cước công dân của bà N vào Giấy mua bán đất ngày 18/9/2019. Đến năm 2019 phần đất Hình 1, Hình 2 bà N, ông M xây dựng nhà (hiện nay là nhà số H, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ), xây dựng đan trên đất để đi vô nhà sử dụng đến nay.
Vào tháng 12/2020 ông N1 có vay tiền của anh T3 số tiền 150.000.000 đồng và đưa anh T3 giữ bản chính GCN QSDĐ các thửa đất 797, 799 và làm HĐCN QSDĐ thửa đất 797, 799 cho anh T3. Đầu năm 2021 ông N1 có vay thêm của anh T3 03 lần với số tiền tổng cộng là 220.000.000 đồng. Sau khi vay tiền của anh T3 thì ông N1 có trả tiền lãi vay cho anh T3 không đầy đủ, chưa trả tiền vốn vay. Do không có khả năng trả nợ cho anh T3, nên ông N1 đồng ý giao nhà, đất của ông N1 cho anh T3 để trừ nợ (không có giao nhà, tài sản và đất của phần đất Hình 1, Hình 2; vì các phần đất này đã bán cho bà N từ năm 2017).
Nay ông N1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh T, đồng ý với toàn bộ yêu cầu của bà N. Vì phần đất Hình 1, Hình 2 ông N1 đã chuyển nhượng cho bà N từ năm 2017 và bà N đã giao đủ tiền cho ông N1, phía bà N đã sử dụng từ năm 2017, xây dựng nhà, xây dựng đan từ năm 2019 sử dụng đến nay.
Đối với các hợp đồng vay tài sản giữa ông N1 với anh T3 trước đây thì ông N1 không có tranh chấp, không có yêu cầu gì. Trường hợp một phần các HĐCN QSDĐ giữa ông N1 chuyển nhượng cho anh T3 và HĐCN QSDĐ từ anh T3, chị H1 chuyển nhượng cho anh T vô hiệu đối với phần đất Hình 1, Hình 2 thì ông N1 không có tranh chấp, không có yêu cầu gì đối với anh T3, chị H1, anh T trong vụ án này. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ kiện khác.
Các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Ngọc T3, chị Bùi Thị H1 là chị Hồ Mỹ S trình bày:
Toàn bộ các thửa đất số 797, 799 có nguồn gốc trước đây là của ông N1 nhận thừa kế. Đầu tháng 12/2020 anh T3 có thỏa thuận với ông N1 là mua nhà của ông N1 và các thửa đất 797, 799 của ông N1 với giá tiền tổng cộng là 800.000.000 đồng. Ngày 07/12/2020 ông N1 ký HĐCN 02 thửa đất này cho anh T3 và anh T3 giao đủ số tiền 800.000.000 đồng cho ông N1 nhận, khi giao nhận tiền không có làm giấy tờ biên nhận. Hợp đồng công chứng ghi số tiền là 65.000.000 đồng để giảm tiền thuế. Không có ký hợp đồng công chứng việc mua bán nhà, do nhà chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà.
Đầu tháng 01/2022 anh T3 có thỏa thuận bán căn nhà mua của ông N1 và thửa đất 797, 799 cho anh T với giá tiền tổng cộng là 1,2 tỷ đồng. Đến ngày 11/01/2022 anh T3 và vợ là chị H1 ký HĐCN 02 thửa đất này lại cho anh T và anh T giao đủ số tiền 1,2 tỷ đồng cho anh T3, chị H1 nhận, khi giao nhận tiền không có làm giấy tờ, biên nhận. HĐCN QSDĐ công chứng ghi số tiền là 150.000.000 đồng để giảm tiền thuế; Không có ký hợp đồng công chứng việc mua bán nhà, do nhà chưa có GCN quyền sở hữu nhà. Ngày 09/02/2022 anh T được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp GCN QSDĐ các thửa đất số 797, 799.
Khi anh T3 nhận chuyển nhượng các thửa đất 797, 799 vào tháng 12/2020 thì trên đất ngoài căn nhà của ông N1 còn có căn nhà của bà N, ông M, nhưng anh T3 không biết nhà của bà N, ông M xây dựng từ thời gian nào. Lúc nhận chuyển nhượng đất anh T3 nghĩ nhà trên đất đều là của ông N1, nên anh T3 không có gặp trao đổi thỏa thuận với phía ông M, bà N, mà chỉ thỏa thuận với ông N1. Khoảng tháng 7 – 8/2021 ông N1 giao căn nhà của ông N1 và một phần các thửa đất 797, 799 cho anh T3. Khi đó ông N1, bà N nói với anh T3 là trước kia ông N1 đã bán cho bà N phần đất Hình 1, Hình 2. Bà N yêu cầu anh T3 tách phần đất H, Hình 2 cho bà N, nhưng anh T3 không đồng ý. Khi anh T3, chị H1 bán nhà, đất lại cho anh T thì có nói có nhà, đan xây dựng của bà N, ông M trên một phần thửa đất 797, 799. Ngày 11/01/2022 anh T3 và chị H1 giao căn nhà mua của ông N1 và một phần các thửa đất 797, 799 cho anh T, còn phần đất Hình 1, Hình 2 chưa giao, do phía bà N không đồng ý di dời để giao đất.
Anh T3, chị H1 đồng ý với toàn bộ yêu cầu của anh T, không đồng ý với yêu cầu của bà N. Trường hợp một phần các HĐCN QSDĐ giữa ông N1 chuyển nhượng cho anh T3 và HĐCN QSDĐ từ anh T3, chị H1 chuyển nhượng cho anh T vô hiệu đối với phần đất Hình 1, Hình 2 thì anh T3, chị H1 không có tranh chấp,
không có yêu cầu gì đối với ông N1, anh T trong vụ án này. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ kiện khác.
Việc ông N1 trình bày trước đây vay tiền của anh T3 chứ không có việc bán nhà, đất cho anh T3 là không đúng. Anh T3 xác định trước đây anh T3 nhận chuyển nhượng nhà đất của ông N1, chứ không có việc cho ông N1 vay tiền nhận thế chấp nhà, đất và nhận nhà, đất để trừ nợ.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lâm Bá V, chị Nguyễn Thị Hồng D, chị Lâm Thị Thúy H2, anh Lâm Văn G (anh V, chị D cũng là đại diện của cháu Lâm Thanh X, Lâm Thị Bảo Q) có đơn yêu cầu giải quyết vụ kiện vắng mặt, có văn bản trình bày ý kiến:
Anh V, chị D, chị H2, anh G thống nhất với toàn bộ lời trình bày, ý kiến, yêu cầu của ông M, bà N. Ngoài ra, không có ý kiến, yêu cầu gì khác.
Luật sư Nguyễn Văn T1 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn anh Phan Nhựt T phát biểu quan điểm tranh luận:
Qua ý kiến phát biểu tranh luận, Luật sư T1 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh T, buộc phía bị đơn ông M, bà N, anh V, chị D, chị H2, anh G, X, Q cùng liên đới giao căn nhà chính cho anh T, anh T đồng ý trả giá trị căn nhà chính cho bà N, ông M theo giá của Hội đồng định giá đã định và buộc phía bị đơn di dời nhà phụ, tài sản trả lại cho anh T phần đất H, Hình 2, anh T không đồng ý trả giá trị hay hỗ trợ di dời.
Đề nghị không chấp nhận các yêu cầu của bà N yêu cầu tuyên bố vô hiệu một phần các HĐCN QSDĐ giữa ông N1 chuyển nhượng cho anh T3 ngày 07/12/2020 và HĐCN QSDĐ từ anh T3, chị H1 chuyển nhượng cho anh T ngày 11/01/2022 đối với phần đất Hình 1, Hình 2. Không công nhận HĐCN QSDĐ giữa bà N với ông N1 ngày 18/9/2019, do Giấy mua bán đất ngày 18/9/2019 bà N giao nộp cho Tòa án thực chất được lập sau ngày 10/5/2021, vì thời điểm ngày 18/9/2019 thì bà N chưa được cấp căn cước công dân, đến ngày 10/5/2021 bà N mới được cấp căn cước công dân. Không công nhận cho bà N, ông M được quản lý, sử dụng phần đất Hình 1, Hình 2.
Luật sư Trần Tấn T2 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Tô Thị N, ông Lâm Văn M phát biểu quan điểm tranh luận:
Qua ý kiến phát biểu tranh luận, Luật sư T2 đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh T và chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà N. Tuyên bố vô hiệu một phần các HĐCN QSDĐ giữa ông N1 chuyển nhượng cho anh T3 ngày 07/12/2020 và HĐCN QSDĐ từ anh T3, chị H1 chuyển nhượng cho anh T ngày 11/01/2022 đối với phần đất Hình 1, Hình 2. Công nhận HĐCN QSDĐ giữa bà N với ông N1 ngày 18/9/2019, công nhận cho bà N, ông M được quản lý, sử dụng phần đất Hình 1, Hình 2.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, cũng như của người tham gia tố tụng.
Về nội dung vụ án: Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của anh T yêu cầu ông M, bà N, anh V, chị D, chị H2, anh G, X, Q cùng liên đới di dời nhà, tài sản trả lại cho anh T diện tích đất 60m² (Hình 1) và diện tích đất 122,2m² (Hình 2), theo Sơ đồ đo đạc điều chỉnh ngày 26/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng.
Chấp nhận yêu cầu của bà N. Tuyên bố vô hiệu một phần các HĐCN QSDĐ giữa ông N1 chuyển nhượng cho anh T3 ngày 07/12/2020 và HĐCN QSDĐ từ anh T3, chị H1 chuyển nhượng cho anh T ngày 11/01/2022 đối với phần đất Hình 1, Hình 2. Công nhận HĐCN QSDĐ giữa bà N với ông N1 ngày 18/9/2019, công nhận cho bà N, ông M được quản lý, sử dụng phần đất Hình 1, Hình 2.
Về án phí và chi phí tố tụng khác đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Các đương sự trong vụ án tranh chấp với nhau về quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Do đó, xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Căn cứ theo quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
Bị đơn ông Lâm Văn M và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lâm Bá V, chị Nguyễn Thị Hồng D, chị Lâm Thị Thúy H2, anh Lâm Văn G (anh V, chị D cũng là đại diện của cháu Lâm Thanh X, Lâm Thị Bảo Q) vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những đương sự này theo quy định.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Các đương sự đều thống nhất diện tích đất 60m² (Hình 1), các mốc M9-M10-M11-M13-M14-M9, thuộc một phần thửa đất số 797 và diện tích đất 122,2m² (Hình 2), các mốc M1-M2-M3-M4-M5-M6-M7-M8-M9-M14-M13-M11-M12-M1, thuộc một phần thửa đất số 799 theo Sơ đồ đo đạc điều chỉnh ngày 26/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng, anh T đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp GCN QSDĐ ngày 09/02/2022. Nhà tại số H và đan xây dựng trên phần đất Hình 1, Hình 2 được bà N, ông M xây dựng từ năm 2019 (trước khi ông N1 chuyển nhượng đất cho anh T3 ngày 07/12/2020) và sử dụng đến nay. Do đó, đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, làm chứng cứ chứng minh trong vụ án.
[2.2] Xét HĐCN QSDĐ (Giấy mua bán đất) không có công chứng, chứng thực ngày 18/9/2019 giữa bà N với ông N1. Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tại Điều 129 Bộ luật dân sự quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức như sau:
“Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:
1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.
2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.”
Tuy HĐCN QSDĐ (Giấy mua bán đất) ngày 18/9/2019 giữa bà N với ông N1 không tuân thủ quy định về hình thức, nhưng phía bà N đã giao đủ số tiền nhận chuyển nhượng 125 triệu đồng cho ông N1 và ông N1 cũng đã bàn giao phần đất Hình 1, Hình 2 cho phía bà N quản lý, sử dụng trước thời điểm ông N1 ký HĐCN cho anh T3. Bà N, ông N1 thống nhất yêu cầu công nhận HĐCN QSDĐ (Giấy mua bán đất) ngày 18/9/2019. Khi anh T3 nhận chuyển nhượng đất của ông N1 ngày 07/12/2020 và khi anh T nh ận chuyển nhượng đất của anh T3, chị H1 ngày 11/01/2022 thì đều biết một phần của thửa đất 797, 799 (phần đất Hình 1, Hình 2) phía bà N, ông M đã xây dựng nhà, xây dựng đan và quản lý, sử dụng từ trước; phần đất Hình 1, Hình 2 này cũng đủ điều kiện về tách thửa đất.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn cho rằng HĐCN QSDĐ (Giấy mua bán đất) ngày 18/9/2019 giữa bà N với ông N1 được lập sau ngày 10/5/2021, vì thời điểm ngày 18/9/2019 bà N chưa được cấp căn cước công dân, đến ngày 10/5/2021 bà N mới được cấp căn cước công dân. Nhưng bà N trình bày số căn cước công dân của bà N, số chứng minh nhân dân của ông N1 vào khoảng tháng 01/2023 được ghi vô Giấy mua bán đất ngày 18/9/2019, còn các nội dung viết tay được viết vào ngày 18/9/2019. Qua xác minh người làm chứng thì Giấy mua bán đất giữa bà N, ông N1 được lập ngày 18/9/2019 và bà N, ông M nhận chuyển nhượng phần đất Hình 1, Hình 2 của ông N1, thực tế bà N, ông M tiến hành xây dựng nhà, xây dựng đan trên đất Hình 1, H sử dụng từ năm 2019 đến nay.
Ngoài ra, các HĐCN QSDĐ giữa ông N1 chuyển nhượng cho anh T3 ngày 07/12/2020 và HĐCN QSDĐ từ anh T3, chị H1 chuyển nhượng cho anh T ngày 11/01/2022 đối với diện tích đất 60m² (Hình 1) và diện tích đất 122,2m² (Hình 2) có đối tượng không thể thực hiện được theo Điều 408 Bộ luật dân sự do đã có nhà, đan xây dựng của bà N, ông M trước khi chuyển nhượng và phía bà N, ông M vẫn đang sử dụng. Do đó, việc bà N yêu cầu tuyên bố vô hiệu một phần các HĐCN
QSDĐ này đối với phần đất Hình 1, Hình 2; Yêu cầu công nhận HĐCN QSDĐ (Giấy mua bán đất) ngày 18/9/2019 giữa bà N với ông N1 có hiệu lực; Yêu cầu công nhận cho bà N, ông M được quản lý, sử dụng phần đất Hình 1, Hình 2 là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật. Nên chấp nhận các yêu cầu này của bà N và không chấp nhận yêu cầu của anh T.
[3] Do công nhận HĐCN QSDĐ (Giấy mua bán đất) ngày 18/9/2019 giữa bà N với ông N1. Tuyên bố vô hiệu một phần các HĐCN QSDĐ giữa ông N1 chuyển nhượng cho anh T3 ngày 07/12/2020 và giữa anh T3, chị H1 chuyển nhượng cho anh T ngày 11/01/2022 đối với diện tích đất 60m² (Hình 1), thuộc một phần thửa đất số 797 và diện tích đất 122,2m² (Hình 2), thuộc một phần thửa đất 799. Nên diện tích đất ông N1 giao cho anh T3, chị H1 và anh T3, chị H1 giao cho anh T ít hơn diện tích trong HĐCN. Nhưng do ông N1, anh T3, chị H1, anh T không có tranh chấp, không có yêu cầu giải quyết trong vụ án này, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, sau này phát sinh tranh chấp, có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
[4] Hiện nay, anh T cũng có sử dụng một phần trong phần đất Hình 1, Hình 2 để đi vô thửa đất 797, 799 còn lại của anh T. Bà N, ông M đồng ý để cho anh T sử dụng, không có tranh chấp. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Người giáp ranh đất có xây dựng một phần ô văng nhà qua khoảng không gian trên phần đất Hình 2 có diện tích 0,1m². Các đương sự trong vụ án không có tranh chấp, không có yêu cầu gì. Nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp QSDĐ của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu tranh chấp HĐCN QSDĐ của bị đơn. Nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm và toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản.
[7] Đối với ý kiến của vị Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là chưa đủ căn cứ để chấp nhận. Có căn cứ chấp nhận ý kiến của vị Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, như đã nhận định trên.
[8] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thống nhất với ý kiến phát biểu về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 157, 165, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 129, 130, 408, 500, 501, 502 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 26, 27, 45, 137 và 236 của Luật đất đai năm 2024;
Căn cứ Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phan Nhựt T.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Tô Thị N.
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (Giấy mua bán đất) ngày 18/9/2019 giữa bà Tô Thị N với ông Tô Thanh N1 có hiệu lực.
- Bà Tô Thị N, ông Lâm Văn M được quyền sử dụng diện tích đất 60m² (Hình 1), gồm các mốc M9-M10-M11-M13-M14-M9 thuộc một phần thửa đất số 797 và diện tích đất 122,2m² (Hình 2) gồm các mốc M1-M2-M3-M4-M5-M6-M7-M8-M9-M14-M13-M11-M12-M1 thuộc một phần thửa đất 799, cùng tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại xã T, thành phố S, tỉnh Đ, theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp điều chỉnh xác nhận của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S ngày 26/4/2024 (Hiện phần đất Hình 1, Hình 2 do bà N, ông M đang sử dụng).
- Tuyên bố vô hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/12/2020 giữa ông Tô Thanh N1 với anh Huỳnh Ngọc T3 và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/01/2022 giữa anh Huỳnh Ngọc T3, chị Bùi Thị H1 với anh Phan Nhựt T, đối với các diện tích thuộc quyền sử dụng của bà Tô Thị N và ông Lâm Văn M (diện tích 60m² thuộc một phần thửa đất số 797 và diện tích đất 122,2m² thuộc một phần thửa đất 799, cùng tờ bản đồ số 3 nêu trên).
- Cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền thu hồi các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 09/02/2022 cho anh Phan Nhựt T, gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa DD 471655, số vào sổ cấp GCN: CS16578 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa DD 471656, số vào sổ cấp GCN: CS16579. Để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Phan Nhựt T, bà Tô Thị N và ông Lâm Văn M theo quy định pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
(Có Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp điều chỉnh xác nhận của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S ngày 26/4/2024 kèm theo).
Anh Phan Nhựt T phải chịu 600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp 3.800.000đồng theo biên lai thu số 0003241 ngày 13/10/2023 và 9.710.000 đồng theo biên lai thu số 0007834 ngày 25/9/2024. Sau khi khấu trừ, anh T được nhận lại 12.910.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.
Bà Tô Thị N được miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, do là người cao tuổi và có đơn yêu cầu miễn nộp.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Anh Phan Nhựt T phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 3.930.370 đồng (đã nộp xong).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Minh Thìn |
Bản án số 116/2024/DS-ST ngày 28/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 116/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
