|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 116/2024/DS - PT
Ngày 25 - 9 - 2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy
Các thẩm phán: Bà Hoàng Thị Nguyệt
Bà Lê Thị Tố Như
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:
Ông Nguyễn Văn Chùy – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2024/TLPT-DS ngày 09 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 35A/2024/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 77/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1969, có mặt.
Ông Mã Thế H, sinh năm 1965, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H: Bà Lê Thị L, sinh năm 1969.
Địa chỉ: Phố V, thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
-
Bị đơn: Ông Nguyễn Công C (tức Nguyễn Văn C1), sinh năm 1963, có mặt.
Chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, Thanh Hóa.
Nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố số 8, Đ, M, N, Thành phố Hà Nội.
-
Người làm chứng: Anh Lê Văn H1, sinh năm: 1978, vắng mặt.
Địa chỉ: Khu M, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 04/12/2023 và đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 10/5/2024, quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị L trình bày:
Do mối quan hệ quen biết nên vào ngày 26/11/2019, vợ chồng bà Lê Thị L có cho ông Nguyễn Công C là Giám đốc Công ty CP T1 vay số tiền là 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng) với mục đích đảo sổ Ngân hàng. Sau khi hai bên thống nhất thì ông C có viết giấy vay tiền ngày 26/11/2019, thời hạn vay đến ngày 15/12/2019, lãi xuất khi cho vay hai bên tự thỏa thuận miệng. Quá trình vay nợ do ông C không trả nợ theo đúng như thời hạn trong giấy vay nên gia đình bà L đã nhiều lần đến đòi nợ tại Công ty, lần cuối cùng ông C có viết cho bà một giấy hẹn trả nợ vào ngày 20/10/2021, với nội dung đến ngày 30/10/2021 sẽ trả 10.000.000đ, từ tháng 11/2021 mỗi tháng trả 20.000.000đ và sẽ trả tiền nợ gốc cho bà L dự kiến trong tháng 02/2022 dương lịch. Từ thời điểm vay đến nay ông C chưa trả cho gia đình bà một đồng tiền gốc nào, mặc dù hai bên có thỏa thuận trả lãi miệng hàng tháng theo lãi xuất là 2%/tháng. Nhưng việc ông C có trả lãi cho bà L đến thời điểm nào và trả bao nhiêu tiền lãi thì do thời gian đã lâu nên bà L không nhớ rõ.
Do ông Nguyễn Công C Giám đốc Công ty vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo giấy hẹn nên gia đình bà L đề nghị buộc Công ty CP T1 trả nợ số tiền gốc và tiền lãi từ ngày khất nợ đến ngày xét xử.
Quá trình giải quyết, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, buộc ông C và ông Lê Văn H1 là người thừa kế tại giấy vay tiền ngày 26/11/2019 phải có trách nhiệm trả cho gia đình bà L số tiền nợ gốc là 300.000.000đ và tiền lãi với lãi suất 1,5%/tháng, kể từ ngày 20/10/2021 (là thời điểm ông C viết giấy hẹn trả nợ) đến thời điểm xét xử là 32 tháng x 1,5%/ tháng x 300.000.000 đồng =144.000.000 đồng. Tổng cộng 444.000.000 đồng và tiếp tục trả lãi từ ngày tiếp theo của ngày xét xử cho đến khi trả hết nợ
*Bị đơn ông Nguyễn Công C trình bày:
Vào năm 2019, do tình hình dịch COVID19 kéo dài ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty CP T1, nên ông là người đại diện cho Công ty đã phải đi vay tiền lãi ngoài để duy trì hoạt động sản xuất và đảo sổ Ngân hàng. Trong năm 2019 Công ty CP T1 đã nhiều lần vay tiền của vợ chồng bà Lê Thị L, tại thị trấn B, huyện H, trong đó có khoản nợ 300.000.000đ vào ngày 26/11/2019 mà ông C là đại diện Công ty CP T1 đứng ra vay và ký nhận nợ với tư cách là người vay. Việc vay nợ hai bên có viết giấy vay, thỏa thuận thời hạn trả và lãi xuất là 6%/tháng bằng 72%/năm, nhưng chỉ thỏa thuận miệng và hàng tháng được bộ phận kế toán Công ty theo dõi chuyển trả lãi trực tiếp và đến nhà đưa tiền lãi qua cửa sổ ngoài vào nhà cho bà L, không được tiếp xúc đưa trực tiếp nên không có bằng chứng ký nhận tiền lãi. Sau khi vay tiền ông đã cùng ông H1 - Phó Giám đốc Công ty người cùng đi với ông đã nhập số tiền vay của gia đình bà L vào quỹ của Công ty, có hóa đơn phiếu thu số 0766 ngày 26/11/2019, hàng tháng việc trả lãi được kê theo dõi vào bảng kê theo dõi nợ của Công ty do kế toán lập. Qúa trình vay nợ do Công ty G nên không trả được tiền gốc, còn tiền lãi thì Công ty đã trả từ tháng 12/2019 đến hết tháng 12/2020 là 13 tháng với tổng số tiền lãi là 234.000.000đ. Từ tháng 01/2021 Công ty không trả được tiền lãi nên vào ngày 20/10/2021 ông C đã thay mặt Công ty viết giấy hẹn trả nợ đối với tất cả các khoản
nợ Công ty đang nợ của bà Lê Thị L, trong đó có khoản vay 300.000.000đ trong vụ án này.
Nay bà Lê Thị L yêu cầu ông và ông Lê Văn H1 phải trả số tiền nợ gốc là 300.000.000đ và lãi suất kể từ ngày 20/10/2021 với tư cách cá nhân. Quan điểm của ông C không thống nhất. Ông cho rằng khi đi vay là vay cho Công ty để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh và đảo số Ngân hàng bà L biết việc ông vay cho công ty nên mới cho vay, nhưng viết giấy vay theo mẫu giấy của gia đình bà L đưa ra, số tiền vay ông đã cùng ông H1, ông T lái xe chứng kiến về nhập quỹ Công ty, có thủ quỹ, kế toán lập phiếu. Nên ông là đại diện cho Công Ty CP T1 mà ông là Giám đốc đứng ra vay khoản tiền trên chứ không phải là khoản vay cá nhân của ông và ông H1. Vì vậy, Công ty sẽ có trách nhiệm trả khoản nợ trên cho bà L với phương án trả nợ dần hàng tháng là 15.000.000đ vào ngày 26 hàng tháng, thời gian trả nợ kể từ tháng 5/2024 cho đến khi trả hết nợ. Còn việc anh Lê Văn H1 là Phó giám đốc Công ty và anh T là lái xe đi cùng ông đến nhà bà L vào ngày 26/11/2019 để chứng kiến việc ông vay tiền cho Công ty, mặc dù anh H1 có ký vào giấy vay ở phần người thừa kế trả tiền là ký theo yêu cầu của bà L, nên bà L cho rằng người ký vay tiền phải có cả Giám đốc và Phó giám đốc. Tuy nhiên anh H1 không có trách nhiệm gì trong việc vay tiền, mà chính ông là người thay mặt Công ty CP T1 trực tiếp nhận khoản tiền trên về cho Công ty nên Công ty có trách nhiệm trả.
Về tiền lãi suất như bà L trình bày, nếu bà L không thừa nhận mức lãi suất mà Công ty đã thanh toán trả cho bà từ tháng 12/2019 đến hết tháng 12/2020 là 13 tháng với tổng số tiền lãi là 234.000.000đ, thì Công ty không đồng ý với mức lãi suất mà nguyên đơn yêu cầu, vì lãi suất thỏa thuận miệng là 6% nhưng bà L không thừa nhận là lãi suất cao vượt quá quy định của pháp luật về tiền lãi, còn khi viết giấy vay thì trong giấy không đề cập đến lãi suất cụ thể. Quá trình giải quyết, bà L lúc thì yêu cầu lãi suất 2% lúc thì 1.5% chứng tỏ không thể hiện mức lãi cụ thể nên không có căn cứ lãi suất như bà L đề nghị tại phiên tòa là 1,5%/ tháng. Nay ông đề nghị Tòa án không chấp nhận mức lãi suất 1,5%/ tháng như bà L yêu cầu mà ông đề nghị, tiền lãi suất của khoản vay trên tính theo quy định của pháp luật là 10%/năm, thời gian tính lãi kể từ ngày 20/10/2021 đến nay.
*Người làm chứng là ông Lê Văn H1 trình bày: Ngày 26/11/2019, ông Lê Văn H1 và ông C, Giám đốc Công Ty CP T1 đến nhà bà L để vay tiền cho Công ty, ông có ký vào phần giấy vay với tư cách là người thừa kế nhưng khoản tiền vay trên là vay cho Công ty, nên ông H1 không chịu trách nhiệm.
Tại Bản án số 35A/2024/DS-ST ngày 27/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều 280, Điều 357, Điều 463, khoản 4 Điều 466, khoản 2 Điều 468 và khoản 2 Điều 470 của Bộ luật Dân sự 2015.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn Công ty CP T1, mà người đại diện theo pháp luật của Công ty phải có nghĩa vụ trả nợ cho vợ chồng bà Lê Thị L. Tổng số tiền 380.712.239 đồng (ba trăm tám mươi triệu bảy trăm mười hai nghìn hai trăm ba chín đồng) và tiếp tục chịu lãi suất chậm trả trên số tiền nợ gốc theo khoản 2 Điều 468 của BLDS kể từ sau ngày xét xử cho đến khi trả xong khoản nợ.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty CP T1 không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì vợ chồng bà L có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan Thi hành án để thi hành, ngoài số tiền phải thi hành Công ty CP T1 còn phải chịu lãi suất chậm trả trên số tiền nợ gốc tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Về án phí dân sự có giá ngạch: Buộc Công ty CP T1 phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là: 19.023.287 đồng (mười chín triệu không trăm hai mươi ba nghìn hai trăm tám mươi bảy đồng). Bà Lê Thi L1 và ông Mã Thế H phải liên đới chịu án phí đối với phần yêu cầu tính lãi không được chấp nhận tương ứng với số tiền là 63.287.671 đồng, nghĩa vụ nộp án phí là 3.164.383 đồng, số tiền này được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp là 10.295.000 đồng theo biên lai số 0003179 ngày 18/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc, vợ chồng bà L1 còn được nhận lại số tiền 7.130.617 đồng án phí.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
* Ngày 10/7/2024, nguyên đơn là bà Lê Thị L kháng cáo, với nội dung:
- - Buộc ông Nguyễn Công C phải trả cho gia đình bà Lê Thị L số tiền đã tuyên theo Bản án sơ thẩm là 379.680.000 đồng.
- - Trường hợp ông C không thực hiện trả nợ thì ông Lê Văn H1 phải có trách nhiệm kế thừa việc trả nợ theo đúng giấy vay tiền đã ký ngày 26/11/2019.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, rút 1 phần nội dung đơn kháng cáo, theo đó bà L rút yêu cầu ông Lê Văn H1 phải có trách nhiệm kế thừa việc trả nợ theo giấy vay tiền đã ký ngày 26/11/2019. Bà L và ông Chính thống N xác định ông C là bị đơn và ông C có trách nhiệm trả nợ cho vợ chồng bà L, ông H. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về phương thức trả nợ và số tiền lãi nên đề nghị HĐXX xử theo quy định của pháp luật.
- - Ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa: Quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm tuân theo quy định của BLTTDS. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308; khoản 2 Điều 148 của BLTTDS; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Sửa bản án dân sự sơ thẩm về xác định tư cách đương sự sửa bị đơn từ Công ty CP T1 sang bị đơn là ông Nguyễn Văn C1, án phí, lãi suất. Bà Lê Thị L không phải chịu tiền án phí phúc thẩm dân sự.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, nghe lời trình bày của các đương sự và ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn là bà Lê Thị L kháng cáo trong thời hạn quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
-
Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn:
-
Buộc ông Nguyễn Công C phải trả cho gia đình bà Lê Thị L số tiền đã tuyên theo Bản án sơ thẩm là 379.680.000 đồng.
Bản án sơ thẩm xác định bị đơn là Công ty cổ phần T1. Các tài liệu trong hồ sơ gồm Phiếu thu ngày 26/11/2019 của Công ty cổ phần T1, Chi tiết công nợ phải trả (BL 37, 38, 40) do Công ty cổ phần T1 lập, không có xác nhận của vợ chồng bà L và bà L cũng không thừa nhận. Các phiếu chi năm 2020 của Công ty cổ phần T1 do ông C xuất trình tại giai đoạn phúc thẩm thể hiện người nhận tiền là Nguyễn Văn H2, có chữ ký H2. Tuy nhiên, ông C thừa nhận không phải chữ ký của ông H2, ông H2 chồng bà L là Mã Thế H chứ không phải Nguyễn Văn H2 như trong phiếu chi. Tại phiên toà phúc thẩm, bà L và ông C thoả thuận xác định ông C là bị đơn và có trách nhiệm trả số tiền trên. Do đó, chấp nhận kháng cáo của bà L, xác định bị đơn trong vụ án là ông Nguyễn Văn C1.
- Nguyên đơn rút 1 phần nội dung đơn kháng cáo, theo đó bà L rút yêu cầu ông Lê Văn H1 phải có trách nhiệm kế thừa việc trả nợ theo giấy vay tiền đã ký ngày 26/11/2019. Xét việc rút 1 phần nội dung kháng cáo của bà L là tự nguyên, phù hợp pháp luật nên HĐXX đình chỉ 1 phần vụ án; căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 289 BLTTDS. Do ông H1 không có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án nên xác định ông Lê Văn H1 tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người làm chứng là phù hợp pháp luật.
-
Buộc ông Nguyễn Công C phải trả cho gia đình bà Lê Thị L số tiền đã tuyên theo Bản án sơ thẩm là 379.680.000 đồng.
-
Về thời hạn tính lãi: Thời hạn tính lãi tính từ ngày 20/10/2021 đến ngày 27/6/2024 Tòa án cấp sơ thẩm tính là 982 ngày là không chính xác. Căn cứ Điều 146 và Điều 147 BLDS năm 2015 thì thời hạn, tính từ ngày 20/10/2021 đến ngày 27/6/2024 là 02 năm 08 tháng 07 ngày = 977 ngày. Do Tòa án tính sai thời hạn tính lãi, nên tiền lãi Tòa án cấp sơ thẩm tính cũng không chính xác, dẫn đến việc tính án phí giá ngạch cho đương sự cũng không chính xác. Theo quy định của pháp luật thì xác định tiền lãi và án phí giá ngạch sơ thẩm trong vụ án, như sau: Tiền lãi bị đơn phải trả cho nguyên đơn: 300.000.000 đồng x 10%/365 ngày x 977 ngày = 80.301.369 đồng; Tổng số tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn: 380.301.369 đồng (tiền gốc 300.000.000 đồng, tiền lãi 80.301.369 đồng).
Tiền lãi nguyên đơn yêu cầu không được Tòa án chấp nhận là 63.698.631 đồng.
Về án phí sơ thẩm: Do xác định bị đơn là ông Nguyễn Văn C1 nên buộc ông C1 phải chịu án phí dân sự giá ngạch là 19.015.068 đồng đồng; bà Lê Thị L và ông Mã Thế H phải liên đới chịu án phí đối với phần yêu cầu không được Tòa án chập nhận tương ứng với số tiền 63.698.631 đồng với án phí là 3.184.932 đồng. Tuy nhiên, ông C1 là người cao tuổi và ông C1 có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí DSST cho ông C1; căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Từ phân tích trên, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Sửa quyết định Bản án sơ thẩm về xác định tư cách đương sự, lãi suất và án phí dân sự sơ thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên bà Lê Thị L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Căn cứ khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào Điểm c khoản 1 Điều 289; Khoản 2 Điều 308; Điều 309; Khoản 2 Điều 148 của BLTTDS.
-
Chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị L, sửa quyết định bản án Dân sự sơ thẩm số 35A/2024/DS-ST ngày 27/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa về xác định tư cách đương sự, khoản tiền lãi và án phí dân sự có giá ngạch.
- - Căn cứ vào các Điều 280; Điều 357; Điều 463; khoản 4 Điều 466; khoản 2 Điều 468; khoản 2 Điều 470 của Bộ luật Dân sự 2015. Điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 4 Điều 26; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xử:
- - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Văn C1 (tức Nguyễn Công C) phải trả cho bà Lê Thị L, ông Mã Thế H số tiền gốc 300.000.000 đồng, tiền lãi 80.301.369 đồng, tổng gốc và lãi là 380.301.369 đồng (ba trăm tám mươi triệu ba trăm linh một nghìn ba trăm sáu mươi chín đồng).
- Kể từ ngày bà Lê Thị L, ông Mã Thế H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Văn C1 (tức Nguyễn Công C) chưa thi hành hoặc thi hành không đầy đủ khoản tiền trên thì hàng tháng ông C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
-
Án phí:
- - Về án phí dân sự: Ông Nguyễn Văn C1 không phải chịu án phí dân sự có giá ngạch.
- Bà Lê Thị L và ông Mã Thế H phải chịu 3.184.932 đồng án phí dân sự có giá ngạch, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp 10.295.000 đồng theo biên lai số 0003179 ngày 18/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc; bà L được nhận lại số tiền 7.111.068 đồng.
- - Án phí DSPT: Bà Lê Thị L không phải chịu án phí DSPT; Trả lại cho bà Lê Thị L tiền tạm ứng kháng cáo phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 3314 ngày 16/7/2024 của Chi cục THADS huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thủy |
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM CÁC THẨM PHÁN Lê Thị Tố Như Hoàng Thị Nguyệt |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thủy |
Bản án số 116/2024/DS - PT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 116/2024/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
