|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 116/2024/DS-PT Ngày: 12/11/2024 V/v tranh chấp liên quan đến yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền
Các thẩm phán:
Bà Võ Thị Trầm
Ông Võ Đình phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 58/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024 về việc “Đòi lại quyền sử dụng đất, yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/QĐ-PT ngày 16 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 124/2024/QĐ-PT ngày 31/10/2024, giữa:
- Nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1960; nơi cư trú: Thôn T, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm: 1991; nơi cư trú: Thôn T, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Bị đơn:
- Bà Bo Bo Thị S, sinh năm: 1971; nơi cư trú: Thôn G, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Ông Bo Bo S1, sinh năm: 1974; nơi cư trú: Thôn G, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1966; nơi cư trú: Thôn T, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm: 1998; nơi cư trú: Thôn T, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Ông Bo Bo N, sinh năm: 1978; nơi cư trú: Thôn T, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Bà Bo Bo Thị T1, sinh năm: 1981; nơi cư trú: Thôn G, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Bà Bo Bo Thị M, sinh năm: 1983; nơi cư trú: Thôn G, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Bà Bo Thị Á, sinh năm: 1987; nơi cư trú: Thôn G, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Ông Bo Bo T2, sinh năm: 1989; nơi cư trú: Thôn S, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Bà Bo Bo Thị L1, sinh năm: 1992; nơi cư trú: Thôn G, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Ông Bo Bo T3, sinh năm: 1976; nơi cư trú: Thôn G, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Bo Bo Thị S, ông Bo Bo S1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các ông, bà Bo Bo N, Bo Bo T, Bo Bo Thị M, Bo Thị Á, Bo Bo T, Bo Bo Thị L1, Bo Bo T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh H, bà Nguyễn Thị Thanh T và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Nguồn gốc đất đang tranh chấp là do ông Nguyễn Thanh H và bà Nguyễn Thị L khai hoang. Sau đó, ông Nguyễn Thanh H và bà Nguyễn Thị L kê khai, đăng ký và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01044 ngày 22/01/2014 đối với thửa đất số 198, tờ bản đồ số 02, diện tích 4114,0m² và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH10850 ngày 20/11/2015 đối với thửa đất số 274, tờ bản đồ số 47, diện tích 2192,3m², cùng địa chỉ: Thôn G (trước đây là thôn T), xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vào năm 2022, ông H, bà L tặng cho hai con gái là bà Nguyễn Thị Thanh H1 và bà Nguyễn Thị Thanh T thửa đất số 274, tờ bản đồ số 47; sau đó, bà Nguyễn Thị Thanh H1 và bà Nguyễn Thị Thanh T đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 041481, DE 041480, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS10246 ngày 21/4/2022 đứng tên 02 bà đồng sử dụng.
Gia đình ông Cao V (sinh năm 1942, chết năm 2008) và bà Bo Bo Thị L2 (sinh năm 1946, chết năm 2023) không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh họ có khai hoang và kê khai đăng ký đối với hai thửa đất nêu trên. Do họ có 01 rẫy lớn phía trên không có đường đi nên họ cố tình tranh chấp để lấy đường đi lên rẫy, nguyên đơn không cho thì họ đến chiếm đất, phá hàng rào của nguyên đơn, không cho nguyên đơn sử dụng đất. Thực tế, những người con của ông Cao V và bà Bo Bo Thị L2 đều đã có gia đình, sinh sống tại mảnh đất khác và đều có rẫy canh tác ở vị trí khác.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Nguyễn Thanh H đề nghị được hỗ trợ cho các ông, bà Bo Bo Thị S, Bo Bo S, Bo Bo T, Bo Bo N, Bo Bo T, Bo Bo Thị M, Bo Thị Á, Bo Bo T và Bo Bo Thị L1 150.000.000 đồng để họ có thể mở đường vào rẫy ở vị trí khác mà không xâm phạm đất của gia đình nguyên đơn.
Nguyên đơn đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với các nội dung sau: Xác định thửa đất số 198, tờ bản đồ số 02 và thửa đất số 274, tờ bản đồ số 47 nêu trên là của gia đình nguyên đơn và những người có quyền lợi liên quan là bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị Thanh H1 đúng theo các Giấy chứng nhận đã cấp; buộc bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải trả lại toàn bộ diện tích đất trên cho nguyên đơn. Buộc các ông, bà Bo Bo Thị S, Bo Bo S, Bo Bo T, Bo Bo N, Bo Bo T, Bo Bo Thị M, Bo Thị Á, Bo Bo T và Bo Bo Thị L1 chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với quyền sử dụng đất của nguyên đơn đối với thửa đất số 198, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: Thôn G (trước đây là thôn T), xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa, diện tích 4114,0m² và thửa đất số 274, tờ bản đồ số 47, địa chỉ: Thôn G, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa, diện tích 2192,3m².
Về án phí và chi phí tố tụng: Do bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khó khăn nên ông Nguyễn Thanh H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đã quyết toán xong với Tòa án, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Nguyễn Thanh H tự nguyện chịu tiền án phí trên số tiền hỗ trợ (150.000.000 đồng), ông H xin được miễn án phí do ông là người cao tuổi. Bà Nguyễn Thị Thanh T tự nguyện chịu toàn bộ án phí còn lại của vụ án.
Bị đơn ông Bo Bo S1, bà Bo Bo Thị S và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bo Bo T3, ông Bo Bo N, bà Bo Bo Thị T1, bà Bo Bo Thị M, bà Bo Thị Á, ông Bo Bo T2 và bà Bo Bo Thị L1 trình bày:
Thửa đất số 198, tờ bản đồ số 02 và thửa đất số 274, tờ bản đồ số 47 mà nguyên đơn tranh chấp có nguồn gốc là của bố mẹ các ông, bà là Cao V (sinh năm 1942, chết năm 2008) và bà Bo Bo Thị L2 (sinh năm 1946, chết năm 2023) khai hoang từ năm 1974 nhưng không đăng ký với chính quyền địa phương. Sau đó, ông Nguyễn Thanh H đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2014. Các ông, bà phản đối thì UBND xã C có giải quyết, tuy nhiên, toàn bộ giấy tờ liên quan đến 2 thửa đất trên đã bị thất lạc.
Các ông, bà đều đã lập gia đình và sinh sống ở một vùng đất khác tại thôn G, xã C, gần 02 thửa đất tranh chấp. Tại chỗ 02 thửa đất đang tranh chấp, ông Nguyễn Thanh H đã xúc trộm đất đi bán nên chỉ còn đá sỏi, không canh tác, trồng trọt được gì. Các ông, bà làm rẫy ở các thửa đất khác của gia đình mình. Khi đi làm rẫy, các ông, bà phải đi qua hai thửa đất đang tranh chấp, ngoài lối đi này, còn lối đi bên hông chùa nhưng khó đi và xa đất rẫy phía trên.
Thông thường, theo tập quán canh tác, sau khi làm rẫy ở vùng đất một thời gian thì đất bị cằn cỗi nên các ông, bà đi tới vùng đất khác để làm rẫy. Khi nào đất màu mỡ trở lại thì các ông, bà quay lại tiếp tục canh tác, trồng trọt. Quá trình du canh như thế, các ông, bà không đăng ký với địa phương về việc sử dụng đất và cũng không rào, cắm mốc ranh đất nên không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ông Cao V và bà Bo Bo Thị L2 có tất cả 09 người con gồm: Bo Bo Thị S, Bo Bo S, Bo Bo T, Bo Bo N, Bo Bo T, Bo Bo Thị M, Bo Thị Á, Bo Bo T và Bo Bo Thị L1. Các ông, bà sinh sống và làm rẫy ở thôn G, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa, thỉnh thoảng có đi lao động ở xa. Khi còn sống, cha mẹ các ông, bà ở cùng gia đình bà Bo Bo Thị S.
Các ông, bà không có bất kỳ tài liệu chứng cứ nào chứng minh nguồn gốc đất trên là của mình nhưng thực tế đó là đất của gia đình các ông, bà từ trước đến nay. Vì vậy, khi ông H rào đất thì các ông, bà đã ra tháo dỡ và không cho ông H rào đất hay làm gì trên đất. Sau đó, UBND xã C đã mời các bên lên hòa giải nhưng không thành nên ông H khởi kiện. Các ông, bà đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 03 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Xác định thửa đất số 198, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: Thôn G (trước đây là thôn T), xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa, diện tích 4114,0m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 477685, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH01044 ngày 22/01/2014 thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Thanh H và bà Nguyễn Thị L; xác định thửa đất số 274, tờ bản đồ số 47, địa chỉ: Thôn G, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa, diện tích 2192,3m² theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DE 041481, DE 041480, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS10246 ngày 21/4/2022 thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị Thanh T và bà Nguyễn Thị Thanh H1. Buộc các ông, bà: Bo Bo Thị S, Bo Bo S, Bo Bo T, Bo Bo N, Bo Bo T, Bo Bo Thị M, Bo Thị Á, Bo Bo T, Bo Bo Thị L1 phải trả lại toàn bộ diện tích đất trên cho ông Nguyễn Thanh H, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị Thanh H1 và bà Nguyễn Thị Thanh T. Diện tích, vị trí đất được thể hiện tại các Mảnh trích đo địa chính số 439-2023 và Mảnh trích đo địa chính số 440-2023 ngày 29/12/2023 của Chi nhánh văn phòng Đ tại thành phố C (kèm theo bản án).
- Buộc các ông, bà: Bo Bo Thị S, Bo Bo S, Bo Bo T, Bo Bo N, Bo Bo T, Bo Bo Thị M, Bo Thị Á, Bo Bo T, Bo Bo Thị L1 chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thanh H, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị Thanh H1 và bà Nguyễn Thị Thanh T đối với thửa đất số 198, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: Thôn G (trước đây là thôn T), xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa, diện tích 4114,0m² và thửa đất số 274, tờ bản đồ số 47, địa chỉ: Thôn G, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa, diện tích 2192,3m². Diện tích, vị trí đất được thể hiện tại các Mảnh trích đo địa chính số 439-2023 và Mảnh trích đo địa chính số 440-2023 ngày 29/12/2023 của Chi nhánh văn phòng Đ tại thành phố C (kèm theo bản án).
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Thanh H về việc hỗ trợ các ông, bà: Bo Bo Thị S, Bo Bo S, Bo Bo T, Bo Bo N, Bo Bo T, Bo Bo Thị M, Bo Thị Á, Bo Bo T, Bo Bo Thị L1 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 06/02/2024, bị đơn bà Bo Bo Thị S, ông Bo Bo S1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Bo Bo Thị T1, bà Bo Bo Thị M, bà Bo Thị Á, ông Bo Bo T2, bà Bo Bo Thị L1, ông Bo Bo N và ông Bo Bo T3 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, những người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, cho rằng đất là của cha mẹ họ khai hoang từ trước giải phóng, sau đó, để lại cho họ tiếp tục canh tác; gia đình nguyên đơn chỉ có một phần đất ở giáp đường nên việc nguyên đơn chiếm dụng đất của họ ở phía trên núi và năm 2018, rào đất, chắn lối đi lên khu rẫy phía trên của họ là không đúng; đất là của họ nên họ có quyền phá rào mở lối đi.
Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh H1 vắng mặt nhưng có đơn trình bày đề nghị Tòa án giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu: Tòa án đã thực hiện đúng các qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Hồ sơ đất đai thể hiện nguồn gốc đất đang tranh chấp là do ông Nguyễn Thanh H và bà Nguyễn Thị L khai hoang và sử dụng từ trước năm 1993 đến nay. Sau đó, ông Nguyễn Thanh H và bà Nguyễn Thị L kê khai, đăng ký và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 477685, số vào sổ cấp GCN: CH01044 ngày 22/01/2014 cho thửa đất số 198, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: Thôn G (trước đây là thôn T), xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 424674, số vào sổ cấp GCN: CH10850 ngày 20/11/2015 cho thửa đất số 274, tờ bản đồ số 47, địa chỉ: Thôn G, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Sau đó, ông H, bà L đã tặng cho hai con gái là bà Nguyễn Thị Thanh H1 và bà Nguyễn Thị Thanh T thửa đất số 274, tờ bản đồ số 47 và bà H1, bà T đã được cấp các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DE 041481, DE 041480, số vào sổ cấp GCN: CS10246 ngày 21/4/2022 đối với thửa đất 247 này. Như vậy, 02 thửa đất trên thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Thanh H, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị Thanh H1 và bà Nguyễn Thị Thanh T.
[2] Các ông, bà: Bo Bo Thị S, Bo Bo S, Bo Bo T, Bo Bo N, Bo Bo T, Bo Bo Thị M, Bo Thị Á, Bo Bo Tỉnh, Bo Bo Thị L1 không có chứng cứ nào chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp của mình đối với 02 thửa đất trên. Việc các ông, bà tự ý tháo dỡ hàng rào của nguyên đơn, chặt phá cây trên đất để mở lối đi qua đất của nguyên đơn là hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất của nguyên đơn.
[3] Vì vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc các ông, bà trên chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất của nguyên đơn là có căn cứ; kháng cáo của các ông, bà trên không được chấp nhận.
[4] Mặc dù nguyên đơn khởi kiện với yêu cầu buộc bị đơn trả lại quyền sử dụng đất và chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất của mình nhưng qua trình bày của nguyên đơn tại Đơn khởi kiện và trong suốt quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm thì đất nguyên đơn vẫn trực tiếp quản lý, sử dụng, không bị ai lấn chiếm; gia đình bị đơn chỉ có hành vi phá hàng rào trụ bê tông, kẽm gai rào 02 thửa đất để lấy lối đi lên rẫy, bị đơn không chiếm đất nhưng mỗi lần nguyên đơn đến rào lại thì bị ngăn cản và nguyên đơn yêu cầu gia đình bị đơn chấm dứt hành vi cản trở này. Phía bị đơn cũng không có đơn tranh chấp quyền sử dụng đất với nguyên đơn mà chỉ nêu ý kiến trình bày là đất của mình nên có quyền phá rào đi qua đất. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm xét thấy cần điều chỉnh lại quan hệ tranh chấp và phần tuyên của bản án sơ thẩm cho đúng là tranh chấp liên quan đến yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất và chỉ tuyên buộc bị đơn chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật này.
[5] Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm buộc nguyên đơn phải chịu án phí đối với số tiền nguyên đơn tự nguyện hỗ trợ cho gia đình bị đơn là không đúng, Tòa án cấp phúc thẩm sửa lại cho đúng.
[6] Về án phí: Miễn án phí sơ thẩm và phúc thẩm cho bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo theo qui định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 169 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Sửa một phần bản án sơ thẩm.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc các ông, bà: Bo Bo Thị S, Bo Bo S, Bo Bo T, Bo Bo N, Bo Bo T, Bo Bo Thị M, Bo Thị Á, Bo Bo T, Bo Bo Thị L1 chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thanh H, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị Thanh H1 và bà Nguyễn Thị Thanh T đối với thửa đất số 198, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: Thôn G (trước đây là thôn T), xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa đã được Ủy ban nhân dân thành phố C Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 477685, số vào sổ cấp GCN: CH01044 ngày 22/01/2014 cho ông Nguyễn Thanh H và bà Nguyễn Thị L và đối với thửa đất số 274, tờ bản đồ số 47, địa chỉ: Thôn G, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa đã được Ủy ban nhân dân thành phố C Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DE 041481, DE 041480, số vào sổ cấp GCN: CS10246 ngày 21/4/2022 cho bà Nguyễn Thị Thanh T và bà Nguyễn Thị Thanh H1.
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Thanh H về việc hỗ trợ cho các ông, bà: Bo Bo Thị S, Bo Bo S, Bo Bo T, Bo Bo N, Bo Bo T, Bo Bo Thị M, Bo Thị Á, Bo Bo T, Bo Bo Thị L1 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), trong đó, phần của mỗi người bằng nhau.
- Án phí:
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Thanh T 300.000 đồng tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004520 ngày 13/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh.
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn Thanh H 300.000 đồng tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002588 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh.
- Miễn án phí cho các ông, bà: Bo Bo Thị S, Bo Bo S, Bo Bo T, Bo Bo Thị L1, Bo Bo N, Bo Bo T, Bo Bo Thị M, Bo Thị Á và Bo Bo T2.
- Trả lại cho các ông, bà: B, Bo Bo S, Bo Bo T, Bo Bo N, Bo Bo T, Bo Bo Thị M, Bo Thị Á, Bo Bo T2, Bo Bo Thị L1, mỗi người 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp lần lượt theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004614, 0004615, 0004616, 0004617, 0004618, 0004619, 0004620, 0004621, 0004622 cùng ngày 14/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh.
Qui định chung:
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án và bản án có hiệu lực thi hành, nếu người phải thi hành án không thi hành án thì còn phải trả lãi theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - TAND TP. Cam Ranh; - Chi cục THADS TP. Cam Ranh; - Lưu: VP, Tòa DS, hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hiền |
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - TAND thành phố Cam Ranh; - Chi cục THADS thành phố Cam Ranh; - Lưu VP, hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hiền |
Bản án số 116/2024/DS-PT ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp liên quan đến yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất
- Số bản án: 116/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp liên quan đến yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp liên quan đến yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sử dụng đất
