Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

———————

Bản án số: 116/2021/HS - ST

Ngày: 16/11/2021

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Tuấn.
2. Bà Nguyễn Thị Xuyến.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Ngân, Thư ký TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Như Hảo, Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 11 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 125/2021/TLST - HS ngày 22 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2021/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đồng Văn C; Sinh ngày 03/3/1979;

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: xóm B, xã L, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 06/12. Bố: Đồng Văn D, đã chết. Mẹ: Nguyễn Thị N, đã chết. Gia đình bị cáo có 11 chị em, bị cáo là con thứ 11. Vợ thứ nhất: Vũ Thị H, sinh năm 1979 (đã chết); Vợ thứ hai: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1982, Công nhân. Có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại bản án số 66 ngày 22/4/1999, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt C 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm về tội “Cố ý gây thương tích”. Tại bản án số 1589 ngày 20/5/1999 của Tòa án phúc thẩm tại Hà Nội xử phạt C 30 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 4 năm.

Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

  • * Người bị hại: Chị Vũ Ngọc L, sinh năm 2003 (Có mặt).
    Trú quán: Xóm B, xã L, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
  • * Người làm chứng: Chị Đồng Thị B, sinh năm 1997; chị Trần Minh T, sinh năm 2006; chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1979 - (Đều có mặt).
    Đều trú quán: Xóm B, xã L, huyện Đại Từ, Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 22/4/2021, Đồng Văn C, một mình điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Sirius, BKS: 20R1-AAAA từ nhà tại xóm B, xã L, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đến Nhà văn hóa đa năng thuộc xóm L, huyện Đại Từ để xem văn nghệ. Tại đây, C điều khiển xe mô tô sang khu vực phía bên trái sân khấu (nhìn từ dưới lên) thì phát hiện thấy có 01 chiếc túi xách bằng vải màu đen của chị Vũ Ngọc L, sinh năm 2003, trú quán: xóm B, xã L, huyện Đại Từ, đang để ở dưới đất, phía trước có 02 người thanh niên đang đứng, mặt hướng lên phía trên sân khấu. Quan sát thấy không có ai để ý nên C đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc túi xách đó, C điều khiển xe mô tô đi đến sát khu vực để chiếc túi xách, rồi ngồi trên xe và dùng chân phải kẹp vào quai túi xách nhấc lên để ở vị trí để đồ của xe mô tô. Sau đó, C điều khiển xe ra khỏi cổng Nhà văn hóa đa năng đi tìm nơi cất giấu. Khi đi đến khu vực chùa Cam Lam thuộc xóm Đ, xã L, huyện Đại Từ, C lấy điện thoại ra gọi cho chị Đồng Thị B, sinh năm 1997, trú quán: xóm B, xã L, huyện Đại Từ (con gái của C) và nhờ chị B ra ngoài đường cầm hộ một số đồ đạc. Khi đi đến khu vực ngã ba đường TL261, đường rẽ vào xóm Gò Lớn, xã L, huyện Đại Từ thì gặp chị B, tại đây, C đưa chiếc túi xách vừa trộm cắp được cho B và nhờ B cất hộ. Lúc này, chị B đã mở túi xách ra thì thấy trong túi xách có 01 chiếc điện thoại di động Iphone và mấy thỏi son nên đã hỏi C, đây là túi xách của ai nhưng C không nói gì và bỏ đi. Chị B mang chiếc túi xách đó về nhà và treo ở giá treo quần áo trong phòng ngủ của chị B.

Ngay sau sự việc xảy ra, chị Vũ Ngọc L đã làm đơn trình báo Công an xã L, huyện Đại Từ đề nghị giải quyết vụ việc. Nhận thấy vụ việc có dấu hiệu của tội phạm, Công an xã L đã chuyển toàn bộ hồ sơ, tài liệu đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đại Từ để điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 23/4/2021, Chị B đã tự giác giao nộp 01 chiếc túi xách bằng vải màu đen nhãn hiệu ZARA (bên trong có: 01 chiếc điện thoại đi dộng nhãn hiệu Iphone 11, loại 64GB, màu trắng; 01 thỏi son nhãn hiệu 3CE; 01 thỏi son nhãn hiệu Black rouoe; 01 thỏi son nhãn hiệu Merzy; 01 nhũ mắt ký hiệu Plaze; 01 bảng phấn mắt nhãn hiệu Dikalu; 01 chuốt mắt Mascara và 01 chiếc chìa khóa xe nhãn hiệu Honda) do C nhờ chị B cất giữ vào ngày 22/4/2021 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đại Từ để phục vụ công tác điều tra giải quyết vụ án.

Quá trình điều tra, Đồng Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của chị Vũ Ngọc L vào ngày 22/4/2021 như nêu trên.

Vật chứng của vụ án gồm:

  • 01 túi xách bằng vải, màu đen, nhãn hiệu ZARA; 01 chiếc điện thoại đi dộng nhãn hiệu Iphone 11, loại 64GB, màu trắng; 01 thỏi son nhãn hiệu 3CE; 01 thỏi son nhãn hiệu Black rouoe; 01 thỏi son nhãn hiệu Merzy; 01 nhũ mắt ký hiệu Plaze; 01 bảng phấn mắt nhãn hiệu Dikalu; 01 chuốt mắt Mascara, đều đã qua sử dụng.

Tại kết luận định giá số 19/KL-HĐDĐGTS ngày 09/5/2021 và số 47/HĐĐG ngày 06/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện Đại Từ kết luận, tại thời điểm tháng 4/2021: Tổng giá trị tài sản là: 13.200.000 đồng. Còn 01 chiếc chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Honda, chị L xác định không còn giá trị sử dụng, chỉ làm vật kỷ niệm. Số vật chứng trên đã được trả lại cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 được niêm phong trong phong bì ký hiệu C1 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đỏ đen, BKS: 20R1-AAAA là tài sản của C. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ.

Về trách nhiệm dân sự: chị Vũ Ngọc L không có yêu cầu, đề nghị gì đối với C.

Tại bản cáo trạng số 120/CT-VKSĐT ngày 20/10/2021, VKS nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Đồng Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an huyện Đại Từ, Điều tra viên; VKS nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2]. Xét hành vi của bị cáo, thấy: Tại phiên tòa bị cáo Đồng Văn C khai nhận. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 22/4/2021 tại Nhà văn hóa đa năng thuộc xóm Đồng Mưa, xã L, huyện Đại Từ, Đồng Văn C đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc túi xách bằng vải của chị Vũ Ngọc L, bên trong có: 01 chiếc điện thoại Iphone 11 64Gb và các tài sản khác. Tổng giá trị tài sản là 13.200.000 đồng.

Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật nhưng khi thấy có sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản bị cáo đã nẩy sinh và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. VKS nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Đồng Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: bị cáo Đồng Văn C 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã L, huyện Đại từ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đồng Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí HSST sung ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Thái Nguyên;

- VKS tỉnh; Sở tư pháp tỉnh;

- Công an, VKS huyện Đại Từ;

- THADS + THAHS Đại Từ;

- Bị cáo; bị hại; UBND xã L;

- Lưu hồ sơ, VT.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Hoàng Văn Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2021/HS - ST ngày 16/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 116/2021/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2021
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đồng Văn C - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger