Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH B


Bản án số: 116 /2021/HNGĐ-ST
Ngày: 31-12-2021
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Đình Đạt và Ông Đỗ Văn Long.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B: Không tham gia phiên toà.

Ngày 31 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 144/2021/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2021 về việc: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2021/QĐXX-ST ngày 09/12/2021 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị N, sinh ngày 05/10/1984 (vắng mặt).
    HKTT: thôn Giạ, xã Thái Đào, huyện Lạng Giang, tỉnh B.
    Nơi ở hiện tại: Số nhà 308, tầng 13, đường Trung Ương, thành phố Đài bắc, huyện Trúc Lâm, Đài Loan.
    Chị N ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Lan, sinh ngày 28/3/1995; CMND số [...] do Công an tỉnh B cấp ngày 16/5/2019; HKTT: tổ dân phố Thượng, thị trấn Tân An, huyện Yên Dũng, tỉnh B nhận và nộp các văn bản tố tụng của Tòa án thay cho chị N (văn bản ủy quyền ngày 16/11/2021 có xác nhận của Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc).
  2. Bị đơn: Anh Bùi Văn T, sinh ngày 18/8/1985 (vắng mặt).
    HKTT: thôn Giạ, xã Thái Đào, huyện Lạng Giang, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai (có xác nhận của xác nhận của Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc), nguyên đơn chị Đặng Thị N trình bày:

Trước khi kết hôn hai anh, chị được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương. Anh chị đăng ký kết hôn ngày 15/09/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Thái Đào, huyện Lạng Giang. Sau khi kết hôn, chị về nhà anh T làm dâu ngay, vợ chồng chung sống hòa thuận. Sau một thời gian chung sống thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian mâu thuẫn, hai vợ chồng nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Hai gia đình có khuyên bảo anh chị về đoàn tụ nhưng anh chị đều xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Năm 2015 chị đi lao động tại Đài Loan. Sau khi đi lao động chị không liên lạc với anh T nữa, không ai quan tâm đến ai, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Bùi Văn T.

Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là cháu Bùi Phi Long, sinh ngày 04/10/2012. Hiện nay cháu đang sinh sống cùng anh T. Sau khi ly hôn chị đề nghị giao con chung cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng chị đồng ý cấp dưỡng theo yêu cầu của anh T.

Về tài sản chung, công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Bùi Văn T trình bày: Thống nhất với lời trình bày của chị N về thời gian kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị N có đơn đề nghị Tòa án xử cho chị N được ly hôn với anh, anh đồng ý ly hôn. Về con chung, anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Phi Long và đề nghị chị N cấp dưỡng 1.500.000 đồng/tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Chị Đặng Thị N và anh Bùi Văn T đều có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án Tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn có một bên đương sự ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh B.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy mâu thuẫn giữa chị N và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị N.

[4]. Về nuôi con chung và cấp dưỡng: Giao cháu Bùi Phi Long cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc chị N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T số tiền 1.500.000 đồng/tháng.

[5]. Về tài sản chung, công nợ: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về hôn nhân: Chị Đặng Thị N được ly hôn anh Bùi Văn T.
  2. Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung:
    • Giao 01 con chung là cháu Bùi Phi Long, sinh ngày 04/10/2012 cho anh Bùi Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
    • Buộc chị Đặng Thị N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Bùi Văn T theo mức 1.500.000 đồng/1 tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 1/2022 đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.
  3. Về án phí: Chị Đặng Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
Nơi nhận:
  • - VKSND tỉnh B;
  • - Cục THADS tỉnh B;
  • - UBND xã Thái Đào, huyện Lạng Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Hoàng Thị Hải Hường
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ


Phạm Thị Tuyết Trinh - Đỗ Văn Long
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA


Hoàng Thị Thu Hiền
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116 /2021/HNGĐ-ST ngày 31/12/2021 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 116 /2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị N, sinh ngày 05/10/1984 (vắng mặt). HKTT: thôn Giạ, xã Thái Đào, huyện Lạng Giang, tỉnh B. Nơi ở hiện tại: Số nhà 308, tầng 13, đường Trung Ương, thành phố Đài bắc, huyện Trúc Lâm, Đài Loan. Chị N ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Lan, sinh ngày 28/3/1995; CMND số 122118003 do Công an tỉnh B cấp ngày 16/5/2019; HKTT: tổ dân phố Thượng, thị trấn Tân An, huyện Yên Dũng, tỉnh B nhận và nộp các văn bản tố tụng của Tòa án thay cho chị N (văn bản ủy quyền ngày 16/11/2021 có xác nhận của Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc). 2. Bị đơn: Anh Bùi Văn T, sinh ngày 18/8/1985 (vắng mặt). HKTT: thôn Giạ, xã Thái Đào, huyện Lạng Giang, tỉnh B.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger