TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1158/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13-9-2024. V/v Tranh chấp Ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Ngọc
- Bà Nguyễn Phước Trinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 883/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024 về “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 541/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hồng V, sinh năm 1985. (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: A N, khu phố A, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Trương Quốc V1, sinh năm 1975. (Xin vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ C, ấp G, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Trần Thị Hồng V có đơn xin vắng mặt có bản tự khai trình bày như sau:
Tôi và anh Trương Quốc V1 là vợ chồng, tự nguyện đăng ký kết hôn và được UBND phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận số 13/2020, cấp ngày 24 tháng 02 năm 2020.
Sau khi kết hôn tôi và chồng tôi có được hạnh phúc sau đó đời sống vợ chồng không hòa hợp, tuy hai vợ chồng sống chung với nhau nhưng cả hai không có tiếng nói chung, luôn bất đồng quan điểm sống, không còn quan tâm đến nhau nữa và chúng tôi không có được hạnh phúc nếu như tiếp tục chung sống với nhau. Hiện tại, tôi và chồng tôi đã ly thân với nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, tôi làm đơn này yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho tôi được ly hôn với chồng tôi là anh Trương Quốc V1
- Về con chung: Tôi và chồng tôi có với nhau một (01) con chung tên Trương Donald K (nam), sinh ngày: 10/6/2023.
Khi ly hôn, tôi (Trần Thị Hồng V) kính mong Quý Tòa xem xét, giải quyết nguyện vọng cho tôi là người trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục con chung tên nêu trên.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Tôi không yêu cầu chồng tôi là ông Trương Quốc V1 cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Không có nợ chung.
- Bị đơn ông Trương Quốc V1 có bản tự khai ngày 22/8/2024 trình bày:
Tôi và bà Trần Thị Hồng V là vợ chồng, tự nguyện đăng ký kết hôn và được A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận số 13/2020, cấp ngày 24 tháng 02 năm 2020.
Vợ chồng sống hạnh phúc không được bao lâu thì chúng tôi xảy ra mâu thuẫn, không hòa hợp nên tôi đồng ý ly hôn với bà Trần Thị Hồng V.
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi đồng ý ly hôn với bà Trần Thị Hồng V.
- Về con chung: Tôi và bà V có với nhau 01 (một) con chung tên Trương Donald K (nam), sinh ngày: 10/6/2023, tôi đồng ý giao con chung có tên nêu trên cho vợ tôi là Trần Thị Hồng V là người trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Tôi không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Không có nợ chung.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà V tự nguyện chịu, tôi đồng ý
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Quan hệ tranh chấp giữa ông Trương Quốc V1 và bà Trần Thị Hồng V là “Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình”; bị đơn trong vụ án là ông Trương Quốc V1 hiện cư trú tại huyện C, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã tiến hành hòa giải giữa các đương sự nhưng không thành, bà Trần Thị Hồng V và ông Trương Quốc V1 xin vắng mặt. Tòa án phải đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 203, Điều 220, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân:
Quan hệ vợ chồng giữa ông Trương Quốc V1 và bà Trần Thị Hồng V có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận số 13/2020, cấp ngày 24 tháng 02 năm 2020. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Bà V trình bày sau khi kết hôn bà và ông V1 sống hạnh phúc được thời gian đầu sau đó đời sống vợ chồng không hòa hợp, tuy hai vợ chồng sống chung với nhau nhưng cả hai không có tiếng nói chung, luôn bất đồng quan điểm sống, không còn quan tâm đến nhau nữa và chúng tôi không có được hạnh phúc nếu như tiếp tục chung sống với nhau. Hiện tại, bà V và ông V1 đã ly thân với nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà V làm đơn này yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà.
Hội đồng xét xử xét thấy, dù Tòa án đã tổ chức hòa giải giữa bà V và ông V1 để tìm kiếm phương án tháo gỡ những mâu thuẫn nhưng không thành. Tình cảm vợ chồng không thể hàng gắn, bà V và ông V1 đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng phải vun đắp trên cơ sở tự nguyện, chia sẻ, yêu thương lẫn nhau nhưng đời sống vợ chồng của ông V1 hiện nay thường xuyên cãi vã, không còn yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà V.
[4] Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Trương Donald K (nam), sinh ngày: 10/6/2023. Bà Trần Thị Hồng V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục con chung. Bà V không yêu cầu ông Trương Quốc V1 cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu K hiện đang chung sống với mẹ là bà V. Do đó, để ổn định tâm sinh lý của trẻ, Hội đồng xét xử giao cháu K cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng và ông V1 không cấp dưỡng nuôi con chung.
[5] Về tài sản chung: Bà V và ông V2 xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà V và ông V1 xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[7] Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:
Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Về án phí Hôn nhân sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) bà V tự nguyện chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Hồng V là được ly hôn với ông Trương Quốc V1.
Giấy chứng nhận kết hôn số: 13/2020 cấp ngày 24 tháng 02 năm 2020 của Ủy ban nhân dân Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: 01 (một) con chung tên Trương Donald K (nam), sinh ngày: 10/6/2023.
Ông Trương Quốc V1 đồng ý giao 01 (một) con chung cho bà Trần Thị Hồng V trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi 01 (một) con chung trưởng thành. Ông Trương Quốc V1 không cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Vì lợi ích của con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết một hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định mức cấp dưỡng nuôi con.
- Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) bà Trần Thị Hồng V phải chịu, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0015805 ngày 05/8/2024 của Chi Cục thi hành án Dân sự huyện Củ Chi. Bà V đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Nguyên đơn và Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hồng Ngọc |
Bản án số 1158/2024/HNGĐ-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1158/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Hồng V ly hôn Trương Quốc V
