|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1155/2024/HS-PT Ngày: 12 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh
Các Thẩm phán:
Ông Cao Văn Tám
Bà Bùi Thị Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 779/2024/TLPT-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Đàm Cẩm T, Giang Ngọc M do có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo với Bản án hình sự sơ thẩm số 343/2024/HS-ST ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
- Giang Ngọc M; giới tính: Nữ; sinh ngày 02/11/1975, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: Số B đường N, Phường F, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở trước khi bị bắt: Số G đường P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: không; con ông Giang Đ (đã chết) và bà Trần Thị T1, sinh năm 1952; gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo có chồng là Đàm Cẩm T, sinh năm 1973 (là bị cáo chung trong vụ án) và có con là Đàm Tấn P, sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/01/2022 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H (có mặt).
- Đàm Cẩm T; giới tính: Nam; sinh ngày 24/8/1973, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: Số I đường T, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở trước khi bị bắt: Số B đường N, Phường F, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: không; trình độ học vấn: Không biết đọc, không biết viết, nhưng biết ký và ghi họ tên; nghề nghiệp: không; con ông Đàm K (đã chết) và bà Trần T2 (đã chết); bị cáo có vợ là Giang Ngọc M, sinh năm 1975 (là bị cáo chung trong vụ án) và có con là Đàm Tấn P, sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 16/01/2022 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo T, bị cáo M: Ông Tô Bá T3, Luật sư thuộc Công ty L1, Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
* Bị hại:
- Bà Nguyễn Thị Bạch P1; Hộ khẩu thường trú và trú tại: Số B Xóm C, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa)
- Ông Nguyễn Minh T4, sinh năm 1961; Trú tại: A ấp A, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa)
- Bà Liên Bích H, sinh năm 1969; Trú tại: A Lầu A, H, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa)
- Ông Trần Văn K1, sinh năm 1940 và bà Đặng Thị Tú U, sinh năm 1947; Cùng trú tại: Ấp K, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt tại phiên tòa)
- Ông Nguyễn Bá P2, sinh năm 1982; Hộ khẩu thường trú: B4/97 ấp B, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Trú tại: Nhà số E, đường số D, KDC T, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa)
- Bà Lê Thị Mỹ L, sinh năm 1979; Trú tại: H H, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa)
- Bà Lê Thị Ú, sinh năm 1985; Trú tại: A C, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa)
- Ông Dương Quang K2, sinh năm 1961; Trú tại: C A, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa)
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962; Trú tại: D H, Phường 1, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa)
- Ông Nguyễn Thanh N1, sinh năm 1962; Trú tại: Số G H, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa)
- Bà Trần Thị Lệ C, sinh năm 1960,Hộ khẩu thường trú: 2 D, Phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Trú tại: A T, Phường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt tại phiên tòa)
(Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Hoàng S, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, không bị kháng nghị nên không triệu tập.)
Người kháng cáo: Bị cáo Đàm Cẩm T, Giang Ngọc M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vợ chồng Giang Ngọc M và Đàm Cẩm T, có mối quan hệ quen biết với Nguyễn Hoàng S. Trong năm 2016 và năm 2017, M và T thỏa thuận với S làm giả 10 Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, do Ủy ban nhân dân Quận H2, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cùng ngày 18/10/2004 và 01 Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất ghi ngày 07/11/2008 của Chi Cục thuế Q, Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ số G đường P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh và 01 Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, địa chỉ số B, tầng C, đường P, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, do Ủy ban nhân nhân Thành phố H cấp ngày 18/10/2001, ghi tên T và M là chủ sở hữu, giá 20 triệu đồng/01 bộ, để sử dụng thế chấp vay tiền, M và T thỏa thuận S sẽ được hưởng 10% trên tổng số tiền chiếm đoạt được của người mà S giới thiệu để cho vay tiền nên S đồng ý và thuê đối tượng tên H1 (chưa rõ lai lịch) làm giả, H1 chia cho S 02 triệu đồng/01 bộ giấy tờ giả. Sau khi có số giấy tờ giả trên T, M và S đã sử dụng đem đi thế chấp cho nhiều người để vay tiền, nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:
- Vụ thứ nhất: Ngày 26/7/2016, Nguyễn Hoàng S giới thiệu cho Đàm Cẩm T và Giang Ngọc M sử dụng Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất giả (địa chỉ số G đường P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh), thế chấp vay 300 triệu đồng của bà Nguyễn Thị Bạch P1, thời hạn 02 năm, bằng thủ đoạn ký Hợp đồng nhận đặt cọc hứa mua, hứa bán nhà; lập Vi bằng giao nhận tiền số 789/2016/VB-TPLQ5 ngày 26/7/2016, tại Văn phòng T6; giao giấy tờ nhà đất giả cho bà P1 và ký Hợp đồng thuê lại nhà giá 12 triệu đồng/01tháng (tương đương lãi vay phải trả là 4%/tháng), bà P1 tin tưởng nên đưa cho T và M 300 triệu đồng, M chia cho S 30 triệu đồng. Sau đó, T và M trả cho bà P1 21 tháng tiền thuê nhà là 252 triệu đồng, rồi bỏ trốn. Sau khi phát hiện bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bà P1 viết đơn tố cáo, giao nộp giấy tờ nhà đất giả và các tài liệu liên quan, để phục vụ điều tra.
Như vậy, số tiền mà T và M đã chiếm đoạt được của bà P1 là 08 triệu đồng và bà P1 yêu cầu bồi thường thiệt hại. nhưng các bị cáo chưa hoàn trả.
- Vụ thứ hai: Ngày 08/02/2017, thông qua Hồ Văn D giới thiệu, Đàm Cẩm T và Giang Ngọc M sử dụng Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất giả (địa chỉ số G đường P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh), thế chấp vay 300 triệu đồng của ông Nguyễn Minh T4, thời hạn 02 năm, bằng thủ đoạn ký Hợp đồng vay tiền công chứng số 02424 ngày 08/02/2017, tại Phòng C3, Quận E; giao giấy tờ nhà đất giả cho ông T4, ký Hợp đồng cầm nhà và ký Hợp đồng thuê lại nhà giá 09 triệu đồng/01 tháng (tương đương lãi vay phải trả là 3%/01 tháng), ông T4 tin tưởng nên đưa cho T và M 300 triệu đồng, M chia cho D 30 triệu đồng. Sau đó T và M trả cho ông T4 14 tháng tiền thuê nhà là 126 triệu đồng, rồi bỏ trốn. Sau khi phát hiện bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ông T4 viết đơn tố cáo và giao nộp giấy tờ nhà đất giả và các tài liệu liên quan, để phục vụ điều tra.
Như vậy, số tiền mà T và M đã chiếm đoạt được của ông T4 là 174 triệu đồng. Ông T4 yêu cầu bồi thường 174 triệu đồng, nhưng các bị cáo chưa hoàn trả.
- Vụ thứ ba: Ngày 27/3/2017, thông qua Nguyễn Thị Ú1 (chưa rõ lai lịch) giới thiệu, Giang Ngọc M sử dụng Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất giả (địa chỉ số G đường P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh), thế chấp vay 400 triệu đồng của bà Liên Bích H, thời hạn 02 năm, bằng thủ đoạn ký Hợp đồng vay tiền công chứng số 06734 ngày 27/3/2017, tại Phòng C3, Quận E; giao giấy tờ nhà đất giả cho bà H, ký Hợp đồng cầm nhà và giới thiệu bà Trần Thị D1 (chưa rõ lai lịch) ký Hợp đồng thuê lại nhà giá 10 triệu đồng/01 tháng (tương đương lãi vay phải trả là 2,5%/01 tháng), nhưng M là người trả tiền thuê nhà, bà H tin tưởng nên đưa cho M 400 triệu đồng, M chia cho Ú1 10 triệu đồng. Sau đó, M trả cho bà H 01 tháng tiền thuê nhà là 10 triệu đồng, rồi bỏ trốn. Sau khi phát hiện bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bà H viết đơn tố cáo và giao nộp giấy tờ nhà đất giả và các tài liệu liên quan, để phục vụ điều tra. Đối với vụ này Đàm Cẩm T không biết và không tham cùng với M.
Như vậy, số tiền mà M đã chiếm đoạt được của bà H là 390 triệu đồng. Bà H yêu cầu bồi thường 390 triệu đồng, nhưng M chưa hoàn trả.
- Vụ thứ tư: Ngày 03/5/2017, Nguyễn Hoàng S giới thiệu Đàm Cẩm T, Giang Ngọc M sử dụng Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất giả (địa chỉ số G đường P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh), thế chấp vay 200 triệu đồng của ông Trần Văn K1, thời thời hạn 02 năm, bằng thủ đoạn ký Hợp đồng vay tiền công chứng số 10414 ngày 03/5/2017, tại Phòng C3, Quận E; giao giấy tờ nhà đất giả cho ông K1 và giới thiệu bà Trần Thị D1 (không rõ lai lịch) ký Hợp đồng thuê lại nhà giá 08 triệu đồng/01 tháng (tương lãi suất vay phải trả là 4%/01 tháng), nhưng M là người trả tiền thuê nhà, ông K1 tin tưởng nên đưa cho T và M 200 triệu đồng, M chia cho S 20 triệu đồng. Sau đó, T và M trả cho ông K1 11 tháng tiền thuê nhà là 88 triệu đồng, rồi bỏ trốn. Sau khi phát hiện bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ông K1 viết đơn tố cáo, giao nộp giấy tờ nhà đất giả và các tài liệu liên quan, để phục vụ điều tra.
Như vậy, số tiền mà T và M đã chiếm đoạt được của ông K1 là 112 triệu đồng. Ông K1 yêu cầu bồi thường 200 triệu đồng, nhưng các bị cáo chưa hoàn trả.
- Vụ thứ năm: Ngày 27/6/2017, thông qua Hồ Văn D giới thiệu, Đàm Cẩm T và Giang Ngọc M sử dụng Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất giả (địa chỉ số G đường P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh), thế chấp vay 350 triệu đồng của ông Nguyễn Bá P2, thời hạn 01 năm, bằng hình thủ đoạn ký Hợp đồng vay tiền công chứng số 15847 ngày 27/06/2017, tại Phòng C3, Quận E; giao giấy tờ nhà đất giả cho ông P2, ký Hợp đồng cầm nhà và ký Hợp đồng thuê lại nhà giá 12 triệu đồng/01 tháng (tương đương lãi vay phải trả là 3,43%/01 tháng, ông P2 tin tưởng nên đưa cho T và M 350 triệu đồng, M chia cho D 35 triệu đồng. Sau đó T và M trả cho ông P2 05 tháng tiền thuê nhà là 60 triệu đồng, rồi bỏ trốn. Sau khi phát hiện đã bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ông P2 viết đơn tố cáo và giao nộp giấy tờ nhà đất giả và các tài liệu liên quan, để phục vụ điều tra.
Như vậy, số tiền mà T và M đã chiếm đoạt được của ông P2 là 290 triệu đồng. Ông P2 yêu cầu bồi thường 290 triệu đồng, nhưng các bị cáo chưa hoàn trả.
- Vụ thứ sáu: Ngày 15/8/2017, thông qua người tên Kim C1 và Nguyễn Thị Ú1 (chưa rõ lai lịch) giới thiệu, Đàm Cẩm T và Giang Ngọc M sử dụng Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất giả (địa chỉ số G đường P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh), thế chấp vay 500 triệu đồng của bà Lê Thị Mỹ L, thời hạn 01 năm, bằng thủ đoạn ký Hợp đồng vay tiền công chứng số 20169 ngày 15/8/2017, tại Phòng C3, Quận E; giao giấy tờ nhà đất giả cho bà L, ký Hợp đồng cầm nhà và ký Hợp đồng thuê lại nhà giá 10 triệu đồng/01 tháng (tương đương lãi vay phải trả là 02%/01 tháng), bà L tin tưởng nên đưa cho T và M 500 triệu đồng, M chia cho Kim C1 và Ú1 50 triệu đồng. Sau đó, T và M trả cho bà L 08 tháng tiền thuê nhà là 80 triệu đồng, rồi bỏ trốn.
Sau khi phát hiện đã bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bà L viết đơn tố cáo, giao nộp giấy tờ nhà đất giả và các tài liệu liên quan, để phục vụ điều tra.
Như vậy, số tiền mà T và M đã chiếm đoạt được của bà L là 420 triệu đồng. Bà L yêu cầu bồi thường 420 triệu đồng, nhưng các bị cáo chưa hoàn trả
- Vụ thứ bảy: Ngày 25/9/2017, Nguyễn Hoàng S và Đoàn Văn D2 (chưa rõ lai lịch) giới thiệu, Đàm Cẩm T và Giang Ngọc M sử dụng Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất giả (địa chỉ số G đường P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh), thế chấp vay 300 triệu đồng của bà Lê Thị Ú, thời hạn 01 năm, bằng thủ đoạn ký Hợp đồng vay tiền công chứng số 23397 ngày 25/9/2017, tại Phòng C3, Quận E; giao giấy tờ nhà đất giả cho bà Ú, ký Hợp đồng cầm nhà và ký Hợp đồng thuê lại nhà giá 15 triệu đồng/01 tháng (tương đương lãi vay phải trả là 5%/01 tháng), trừ trước 02 tháng tiền lãi là 30 triệu đồng, bà bà Ú tin tưởng nên đưa cho T và M 270 triệu đồng (trừ trước 02 tháng tiền nhà là 30 triệu đồng), M chia cho S 27 triệu đồng. Sau đó, T và M trả thêm cho bà Ú 01 tháng tiền thuê nhà là 15 triệu đồng, rồi bỏ trốn. Sau khi phát hiện đã bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bà Ú viết đơn tố cáo, giao nộp giấy tờ nhà đất giả và các tài liệu liên quan, để phục vụ điều tra.
Như vậy, số tiền mà T và M đã chiếm đoạt được của bà Ú là 255 triệu đồng. Bà Ú yêu cầu bồi thường 255 triệu đồng, nhưng các bị cáo chưa hoàn trả.
- Vụ thứ tám: Ngày 23/10/2017, Nguyễn Hoàng S giới thiệu Đàm Cẩm T và Giang Ngọc M sử dụng Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở giả (địa chỉ số G đường P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh), thế chấp vay 200 triệu đồng của ông Dương Quang K2, thời hạn 02 năm, bằng thủ đoạn ký Hợp đồng vay tiền công chứng số 25739 ngày 23/10/2017, tại Phòng C3, Quận E; giao giấy tờ nhà đất giả cho ông K2, ký Hợp đồng cầm nhà và ký Hợp đồng thuê lại nhà giá 10 triệu đồng/01 tháng (tương đương lãi vay phải trả là 5%/01 tháng), ông K2 tin tưởng nên đưa cho T và M 200 triệu đồng, M chia cho S 20 triệu đồng.
Ngày 24/10/2017, S giới thiệu T và M sử dụng Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất giả (địa chỉ số B, lầu C, đường P, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh), thế chấp vay 200 triệu đồng của ông K2, thời hạn 01 năm, bằng thủ đoạn ký Hợp đồng vay tiền công chứng số 25926 ngày 24/10/2017, tại Phòng C3, Quận E; giao giấy tờ nhà đất giả cho ông K2, ký Hợp đồng thuê lại nhà giá 10 triệu đồng/01 tháng (tương đương lãi vay phải trả là 5%/01 tháng), ông K2 tin tưởng nên đưa cho T và M 200 triệu đồng, M chia cho S 20 triệu đồng.
Trên cơ sở Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất giả (địa chỉ số G đường P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh) đã thế chấp cho ông K2 vào ngày 23/10/2017, đến ngày 24/12/2017, S giới thiệu T và M tiếp tục thế chấp vay 200 triệu đồng của ông K2, thời hạn 01 năm, bằng thủ đoạn ký Hợp đồng vay tiền công chứng số 31647 ngày 23/12/2017, tại Phòng C3, Quận E; ký Hợp đồng cầm nhà và ký Hợp đồng thuê lại nhà giá 10 triệu đồng/01 tháng (tương đương lãi vay phải trả là 5%/01 tháng, ông K2 tin tưởng nên tiếp tục đưa cho T và M 200 triệu đồng, M chia cho S 20 triệu đồng. Sau đó, T và M trả cho ông K2 02 tháng tiền thuê nhà là 60 triệu đồng, rồi bỏ trốn. Sau khi phát hiện đã bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ông K2 viết đơn tố cáo và giao nộp giấy tờ nhà đất giả và các tài liệu liên quan, để phục vụ điều tra.
Như vậy, số tiền mà T và M đã chiếm đoạt được của ông K2 trong cả 03 lần vay là 540 triệu đồng. Ông K2 yêu cầu bồi thường 540 triệu đồng, nhưng các bị cáo chưa hoàn trả.
- Vụ thứ chín: Ngày 10/11/2017, thông qua Hồ Văn D giới thiệu, Đàm Cẩm T và Giang Ngọc M sử dụng Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất giả (địa chỉ số G đường P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh), thế chấp vay 300 triệu đồng của bà Nguyễn Thị N, thời hạn 01 năm, bằng thủ đoạn ký Hợp đồng vay tiền công chứng số 27508 ngày 10/11/2017, tại Phòng C3, Quận E; giao giấy tờ nhà đất giả và Thông báo lệ phí trước bạ nhà đất giả cho bà N, ký Hợp đồng cầm nhà và ký Hợp đồng thuê lại nhà giá 14 triệu đồng/01 tháng (tương đương lãi vay phải trả là 4,67%/01 tháng), bà N tin tưởng nên đưa cho T và M 300 triệu đồng, M chia cho D 45 triệu đồng. Sau đó, T và M đưa 01 tháng tiền cọc thuê nhà và trả cho bà N 03 tháng tiền thuê nhà là 56 triệu đồng, rồi bỏ trốn. Sau khi phát hiện đã bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên bà N viết đơn tố cáo, giao nộp giấy tờ nhà đất giả và các tài liệu liên quan, để phục vụ điều tra.
Như vậy, số tiền mà T và M đã chiếm đoạt được của bà N là 244 triệu đồng. Bà N yêu cầu bồi thường 244 triệu đồng, nhưng các bị cáo chưa hoàn trả.
- Vụ thứ mười: Ngày 07/12/2017, Nguyễn Hoàng S giới thiệu Đàm Cẩm T và Giang Ngọc M sử dụng Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất giả (địa chỉ số G đường P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh), thế chấp vay 200 triệu đồng của ông Nguyễn Thanh N1, thời hạn 01 năm, bằng thủ đoạn ký Hợp đồng vay tiền công chứng số 30046 ngày 07/12/2017, tại Phòng C3, Quận E; giao giấy tờ nhà đất giả cho ông N1, ký Hợp đồng cầm nhà và ký Hợp đồng thuê lại nhà giá 10 triệu đồng/01 tháng (tương đương lãi vay phải trả là 5%/01 tháng), ông N1 tin tưởng nên đưa cho T và M 200 triệu đồng, M chia cho S 20 triệu đồng. Sau đó, T và M trả cho ông N1 04 tháng tiền thuê nhà là 40 triệu đồng, rồi bỏ trốn. Sau khi phát hiện đã bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên ông N1 viết đơn tố cáo, giao nộp giấy tờ nhà đất giả và các tài liệu liên quan, để phục vụ điều tra.
Như vậy, số tiền mà T và M đã chiếm đoạt được của ông N1 là 160 triệu đồng. Ông N1 yêu cầu bồi thường 200 triệu đồng, nhưng các bị cáo chưa hoàn trả.
- Vụ thứ mười một: Ngày 19/12/2017, thông qua Nguyễn Vũ Thu T5 giới thiệu, Đàm Cẩm T và Giang Ngọc M sử dụng Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất giả (địa chỉ số G đường P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh) thế chấp vay 300 triệu đồng của bà Trần Thị Lệ C, thời hạn 01 năm, bằng thủ đoạn ký Hợp đồng vay tiền công chứng số 31102 ngày 19/12/2017, tại Phòng C3, Quận E; giao giấy tờ nhà đất giả cho bà C, ký Hợp đồng cầm nhà và ký Hợp đồng thuê lại nhà giá 10 triệu đồng/01 tháng (tương đương lãi vay phải trả lãi vay phải trả là 3,33%/01 tháng), trừ trước 04 tháng tiền thuê nhà là 40 triệu đồng, bà C tin tưởng nên đưa cho T và M 260 triệu đồng, M chia cho T5 26 triệu đồng. Sau đó, T và M không tiếp tục trả tiền lãi mà bỏ trốn. Sau khi phát hiện đã bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bà C viết đơn tố cáo và giao nộp giấy tờ nhà đất giả và các tài liệu liên quan, để phục vụ điều tra.
Như vậy, số tiền mà T và M đã chiếm đoạt được của bà C là 260 triệu đồng. Bà C yêu cầu bồi thường 260 triệu đồng, nhưng các bị cáo chưa hoàn trả.
Kết luận giám định số 807/KLGĐ-TT ngày 21/6/2018 của Phòng K4 Công an Thành phố H, đối với 03 Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở giả cùng đề ngày 18/10/2004 và 01 Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất đề ngày 07/11/2008, địa chỉ số G đường P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (do các ông, bà Lê Thị Mỹ L, Nguyễn Thị N, Nguyễn Minh T4 giao nộp), xác định:
“Bản in “Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở” tài liệu cần giám định ký hiệu A1 được làm giả bằng phương pháp in phun màu. Hình dấu tròn có nội dung “ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN H2, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” trên tài liệu cần giám định ký hiệu Al so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên tài liệu làm mẫu so sánh không do cùng một con dấu đóng ra;
Bản in, hình dấu, chữ ký trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2, A3 được làm giả bằng phương pháp in phun màu;
Hình dấu tròn dưới mục “Thủ trưởng cơ quan thuế” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A4 được làm giả bằng phương pháp in phun màu”.
Kết luận giám định số 1179/KLGĐ-TT ngày 18/9/2018 của Phòng K4 Công an Thành phố H, đối với 05 Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cùng đề ngày 18/10/2004, địa chỉ số G đường P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh và 01 Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đề ngày 26/6/2001, địa chỉ số B tầng C, đường P, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (do các ông, bà Nguyễn Thị Bạch P1, Trần Văn K1, Nguyễn Bá P2, Dương Quang K2, Trần Thị Lệ C giao nộp), xác định:
Bản in, hình dấu tròn, chữ ký trên “Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở” tài liệu cần giám định ký hiệu A1 được làm giả bằng phương pháp in phun màu;
Bản in trên “Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở” tài liệu cần giám định ký hiệu A2 được làm giả bằng phương pháp in phun màu. Hình dấu tròn có nội dung “ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN H2, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 so với hình dấu tròn có cùng nội dung làm mẫu so sánh không do cùng một con dấu đóng ra;
Bản in, hình dấu tròn, chữ ký trên 03 “Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở” tài liệu cần giám định ký hiệu A4, A5, A6 được làm giả bằng phương pháp in phun màu;
Bản in, hình dấu tròn, chữ ký trên “Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở” đề tên Giang Ngọc M, đề ngày 26/6/2001 tài liệu cần giám định ký hiệu A3 được làm giả bằng phương pháp in phun màu.
Kết luận giám định số 1277/KLGĐ-TT ngày 02/10/2018 của Phòng K4 Công an Thành phố H, đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đề ngày 18/10/2004, địa chỉ số G đường P, Phường D, Quận H, Thành phố H (do ông Nguyễn Thanh N1 giao nộp), xác định “Được làm giả bằng phương pháp in phun màu”
Kết luận giám định số 5489/KLGĐ-KTHS ngày 07/06/2023 của Phòng K4 Công an Thành phố H, đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đề ngày 28/10/2004, địa chỉ số G đường P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh và Hợp đồng vay tiền, Hợp đồng cho thuê nhà, Hợp đồng cầm cố nhà ở (do bà Lê Thị Ú giao nộp), xác định:
“Tài liệu cần giám định ký hiệu Al được làm giả bằng phương pháp in phun màu;
Chữ ký, chữ viết họ tên Giang Ngọc M trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2, A4 so với chữ ký, chữ viết của Giang Ngọc M trên tài liệu mẫu so sánh do cùng một người ký, viết ra;
Chữ ký, chữ viết họ tên Đàm Cẩm T trên tài liệu cần giám định ký hiệu A3, A4 so với chữ ký, chữ viết của Đàm Cẩm T trên tài liệu mẫu so sánh do cùng một người ký, viết ra”.
Kết luận giám định số 808/KLGĐ-TT ngày 27/6/2018 của Phòng K4 Công an Thành phố H, đối với 02 Hợp đồng vay tiền, 02 Hợp đồng thuê nhà, 01 Hợp đồng cầm cố tài sản và 01 Hợp đồng cố nhà (do ông Nguyễn Minh T4 và bà Nguyễn Thị N giao nộp), xác định “Chữ viết họ tên Giang Ngọc M trên 06 tài liệu cần giám định ký hiệu từ Al đến A6 so với chữ viết họ tên Giang Ngọc M trên tài liệu mẫu so sánh do cùng một người viết ra; chữ viết họ tên Đàm Cẩm T trên 04 tài liệu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A4 so với chữ viết họ tên Đàm Cẩm T trên tài liệu mẫu so sánh do cùng một người viết ra”.
Kết luận giám định số 1194/KLGĐ-TT ngày 06/11/2018 của Phòng K4 Công an Thành phố H, đối với các Hợp đồng vay tiền, Hợp đồng cầm cố tài sản, Hợp đồng thuê nhà, Vi bằng ... (tổng cộng 23 tài liệu, do các ông, bà Nguyễn Thị Bạch P1, Trần Văn K1, Nguyễn Bá P2, Lê Thị Mỹ L, Dương Quang K2, Trần Thị Lệ C giao nộp), xác định:
“Chữ ký, chữ viết họ và tên “Đàm Cẩm Thắng” dưới các mục “Người tham gia vi bằng”, “Bên A”, “Bên B”, “Đại diện bên A”, “Bên thuê nhà, “Đại diện bên B”, “Bên cho thuê nhà” trên 14 tài liệu cần giám định ký hiệu từ Al đến A3, A5 đến A7, A12 đến A14, A16, A18, A20, A21, A23 so với chữ ký, chữ viết họ và tên “Đàm Cẩm T” trên tài liệu dùng làm mẫu so sánh do cùng một người ký và viết ra;
Chữ ký, chữ viết họ và tên “Giang Ngọc M” dưới các mục “Người tham gia vi bằng”, “Bên A”, “Bên B”, “Đại diện bên A”, “Bên thuê nhà, “Đại diện bên B”, “Bên cho thuê nhà” trên 21 tài liệu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A4, A6 đến A12, A14 đến A23 so với chữ ký, chữ viết họ và tên “Giang Ngọc M” trên tài liệu dùng làm mẫu so sánh do cùng một người ký và viết ra;
Hai dấu vân tay đứng tên “Đàm Cẩm Thắng” dưới các mục “Người tham gia vi bằng”, “Bên A”, “Bên B”, “Đại diện bên A”, “Bên thuê nhà, “Đại diện bên B”, “Bên cho thuê nhà” trên 09 tài liệu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A3, A12, A16, A18, A20, A21, A23 so với dấu vân tay của Đàm Cẩm T trên tài liệu dùng làm mẫu so sánh là dấu vân tay của cùng một người;
Hai dấu vân tay đừng tên “Giang Ngọc M” dưới các mục “Người tham gia vi bằng”, “Bên A”, “Bên B”, “Đại diện bên A”, “Bên thuê nhà, “Đại diện bên B”, “Bên cho thuê nhà” trên 12 tài liệu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A3, A11, A15, A16, từ A18 đến A23 so với dấu vân tay của Giang Ngọc M trên tài liệu dùng làm mẫu so sánh là dấu vân tay của cùng một người”.
Kết luận giám định số 1293/KLGĐ-TT ngày 06/11/2018 của Phòng K4 Công an Thành phố H, đối với Hợp đồng vay tiền, Hợp đồng cố nhà và Hợp đồng thuê nhà (do ông Nguyễn Thanh N1 giao nộp), xác định:
“Chữ ký, chữ viết họ và tên “Đàm Cẩm T” và 02 dấu vân tay dưới các mục “Đại diện bên A”, “Bên B” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A3 so với chữ ký, chữ viết họ và tên “Đàm Cẩm T”, dấu vân tay trên tài liệu dùng làm mẫu so sánh do cùng một người ký và viết ra;
Chữ ký, chữ viết họ và tên “Giang Ngọc M” và 02 dấu vân tay dưới các mục “Bên cho thuê nhà”, “Bên B” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2, A3 so với chữ ký, chữ viết họ và tên “Giang Ngọc M”, dấu vân tay trên tài liệu dùng làm mẫu so sánh do cùng một người ký và viết ra”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Giang Ngọc M, Đàm Cẩm T và Nguyễn Hoàng S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Ngoài ra, các bị cáo T và M còn khai đã trả trực tiếp bằng tiền mặt cho ông Nguyễn Bá P2 144.000.000 đồng tiền lãi và 74.000.000 đồng tiền gốc, trả cho cho bà Lê Thị Mỹ L 90.000.000 đồng tiền lãi, trả cho bà Nguyễn Thị N 70.000.000 đồng tiền lãi, trả cho ông Nguyễn Thanh N1 50.000.000 đồng tiền lãi, trả cho bà Trần Thị Lệ C 50.000.000 đồng tiền lãi; trả cho bà Lê Thị Ú 105.000.000 đồng tiền lãi và 70.000.000 đồng tiền gốc, trả cho ông Nguyễn Quang K3 410.000.000 đồng tiền lãi, nhưng do M và T không có tài liệu để chứng minh cho việc đã trả số tiền trên, nên không có căn cứ để xem xét. Bị cáo S còn khai được đối tượng làm giấy tờ giả giấy tờ tên H1 chia 02 triệu đồng/01 bộ giấy tờ nhà đất giả, tổng cộng 11 bộ, S thu lợi 22 triệu đồng; bị cáo S còn giới thiệu M và T sử dụng giấy tờ nhà đất giả thế chấp vay tiền của các ông, bà Nguyễn Thị Bạch P1, Nguyễn Thanh N1, Lê Thị Ú, Trần Văn K1, Dương Quang K2, nên S được M và T chia số tiền môi giới là 157.000.000 đồng.
* Vật chứng thu giữ: 10 (mười) Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, cùng ghi ngày 18/10/2004; 01 Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất giả, ghi ngày 07/11/2008; 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, ghi ngày 18/10/2001 và các tài liệu có liên quan, do những người bị hại giao nộp (đã giám định), lưu hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 109/CT-VKS-P2 ngày 09/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Đàm Cẩm T, Giang Ngọc M, Nguyễn Hoàng S, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 343/2024/HS-ST ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:
1/ Về hình phạt:
1.1/ - Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 139 của Bộ luật hình sự năm 1999, đã được sửa đổi bổ sung năm 2009; căn cứ các điểm b, g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đàm Cẩm T 14 (Mười bốn) năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 341; các điểm b, g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đàm Cẩm T 04 (bốn) năm tù, về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đàm Cẩm T phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 18 (Mười tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/01/2022.
1.2/ - Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 139 của Bộ luật hình sự năm 1999, đã được sửa đổi bổ sung năm 2009; căn cứ các điểm b, g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Giang Ngọc M 15 (Mười lăm) năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 341; các điểm b, g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Giang Ngọc M 05 (Năm) năm tù, về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Giang Ngọc M phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/01/2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt và tội danh đối với bị cáo S, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 12 tháng 7 năm 2024, bị cáo Đàm Cẩm T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 16 tháng 7 năm 2024, bị cáo Giang Ngọc M có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo T và bị cáo M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt.
- Người bào chữa cho các bị cáo trình bày:
Vai trò của bị cáo T là giúp sức, có hợp đồng vay bị cáo không ký tại phòng công chứng mà ký tại nhà, bị cáo không biết chữ nên không đọc, có 03 hợp đồng vay bị cáo không ký. Bị cáo Minh giữ vai trò chủ yếu, nhận tiền và chỉ cho S.
Tại phiên tòa bị hại là bà C thỏa thuận chỉ nhận bồi thường 30 triệu đồng và không yêu cầu bồi thường số tiền còn lại, các bị cáo đã bồi thường, đề nghị Tòa án ghi nhận bị cáo đã bồi thường xong cho bà C và xem xét tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, trong đó bị cáo T giảm nhẹ hình phạt cả tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết kháng cáo: Các bị cáo phạm tội nhiều lần, trong thời gian dài và có tính chất chuyên nghiệp. Cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ, vai trò của từng bị cáo và tuyên phạt mức hình phạt đối với bị cáo T, bị cáo N2 là có căn cứ, tương xứng tính chất mức độ của hành vi phạm tội. Tại phiên tòa bị cáo và người bào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo không biết chữ nên không biết bị cáo N2 làm giấy tờ giả nhà đất không phải là nhà của mình, nhưng bị cáo và M cùng là vợ chồng, sống chung, ăn tiêu chung, tài sản không có sao cho vay và thế chấp để chiếm đoạt tiền của nhiều người bị hại được, nên bị cáo buộc phải biết và cùng chịu trách nhiệm. Tại phiên tòa các bị cáo bồi thường cho bị hại là bà C theo thỏa thuận nên ghi nhận và xét bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ, đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo M, bị cáo T giảm 01 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bị cáo Đàm Cẩm T, Giang Ngọc M có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: Bị cáo Đàm Cẩm T, Giang Ngọc M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt:
Để chiếm đoạt tài sản của người khác, trong khoảng thời gian từ ngày 26/7/2016 đến ngày 24/12/2017, vợ chồng Giang Ngọc M và Đàm Cẩm T, có mối quan hệ quen biết với Nguyễn Hoàng S. Trong năm 2016 và năm 2017, M và T thỏa thuận với S làm giả 10 Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, do Ủy ban nhân dân Quận H2, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cùng ngày 18/10/2004 và 01 Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất ghi ngày 07/11/2008 của Chi Cục thuế Q, Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ số G đường P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh và 01 Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, địa chỉ số B, tầng C, đường P, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, do Ủy ban nhân nhân Thành phố H cấp ngày 18/10/2001, ghi tên T và M là chủ sở hữu, giá 20 triệu đồng/01 bộ, để sử dụng thế chấp vay tiền, bằng thủ đoạn gian dối là ký Hợp đồng nhận đặt cọc hứa mua, hứa bán nhà hoặc ký Hợp đồng vay tiền tại phòng công chứng, rồi giao giấy tờ nhà đất giả làm tin, hoặc T và M ký Hợp đồng cầm nhà, bán nhà, rồi ký Hợp đồng thuê lại nhà trên nhằm mục đích để cho người cho vay tiền, mua nhà, nhận thế chấp nhà tin tưởng giao tiền. Sau đó, T và M đã chiếm đoạt được của các ông, bà Nguyễn Thị Bạch P1 08 triệu đồng, Nguyễn Minh T4 174 triệu đồng, Trần Văn K1 112 triệu đồng, Nguyễn Bá P2 290 triệu đồng, Lê Thị Mỹ L 420 triệu đồng, Lê Thị Ú 255 triệu đồng, Nguyễn Thị N 244 triệu đồng, Nguyễn Thanh N1 160 triệu đồng, Trần Thị Lệ C 260 triệu đồng, Dương Quang K2 540 triệu đồng và bà Liên Bích H 390 triệu đồng. Tổng cộng chiếm đoạt của 11 người với số tiền theo các hợp đồng là 3.243.000.000 đồng.
Đối với Nguyễn Hoàng S, ngoài hành vi thuê đối tượng tên H1 (chưa rõ lai lịch) làm giấy tờ nhà đất giả để hưởng lợi 22 triệu đồng, S còn là người giới thiệu, giúp sức cho Đàm Cẩm T và Giang Ngọc M ký Hợp đồng vay tiền của các ông, bà Nguyễn Thị Bạch P1, Nguyễn Thanh N1, Lê Thị Ú, Trần Văn K1 và Dương Quang K2, để giúp cho Đàm Cẩm T và Giang Ngọc M chiếm đoạt tổng cộng 1.075.000.000 đồng, trong đó Nguyễn Hoàng S được Đàm Cẩm T và Giang Ngọc Minh C2 số tiền 157.000.000 triệu đồng.
Hành vi của các bị cáo Đàm Cẩm T, Giang Ngọc M dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của 11 bị hại với số tiền tổng cộng 3.243.000.000 đồng, đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 139 của Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009.
Ngoài hành vi này, các bị cáo Đàm Cẩm T, Giang Ngọc M còn có hành vi sử dụng tài liệu giả là 10 (mười) Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở và 01 (một) Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất ghi ngày 07/11/2008, cùng 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, ghi ngày 18/10/2001, để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nêu trên, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, đã phạm vào tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 267 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, xét nguyên tắc có lợi cho các bị cáo, nên Hội đồng xét xử áp dụng Nghị Quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội, thì tội danh của các bị cáo Đàm Cẩm T, Giang Ngọc M và Nguyễn Hoàng S được áp dụng tại điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo Đàm Cẩm T, Giang Ngọc M đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, đồng thời đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm vào hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước về con dấu, tài liệu; ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương.
Các bị cáo Đàm Cẩm T, Giang Ngọc M phạm tội nhiều lần; có tính chất chuyên nghiệp; nên cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm b, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng.
Cấp sơ thẩm đã xem xét, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; hoàn cảnh gia đình khó khăn, cả hai bị cáo đều là vợ chồng trong vụ án và gia đình có nhiều người thân có công với cách mạng; nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội thì bị cáo Ngọc giữ vai trò chính trong vụ án và thực hành tích cực; bị cáo T là người giúp sức tích cực bởi lẽ nếu không có bị cáo T là chồng cùng ký vào giấy vay tiền, thế chấp tài sản là giấy tờ giả thì không thể chiếm đoạt được tiền của những người bị hại, có một số vụ bị cáo không ký ở phòng công chứng mà ký ở nhà hoặc không tham gia trực tiếp nhưng số tiền chiếm đoạt được cùng ăn tiêu, sinh hoạt chung, coi đó là nghề để sinh sống trong thời gian dài, chưa khắc phục bồi thường cho các bị hại. Do đó, bị cáo T cùng chịu trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự với bị cáo N2 như cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng.
Đối chiếu tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt cả hai tội danh đối với các bị cáo và mức hình phạt của bị cáo T thấp hơn bị cáo N2 là phù hợp.
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ đã bồi thường xong cho bị hại là bà Trần Thị Lệ C, nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và giảm hình phạt cho mỗi bị cáo một năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa là có căn cứ.
[3] Chấp nhận một phần đề nghị của luật sư bào chữa cho các bị cáo như nhận định của Hội đồng xét xử.
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa các bị cáo và người bị hại bà Trần Thị Lệ C, đã bồi thường xong về dân sự.
[6] Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đàm Cẩm T, bị cáo Giang Ngọc M.
Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 343/2024/HS-ST ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139 của Bộ luật Hình sự năm 1999, đã được sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm b, g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58; Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
2.1. Xử phạt: Bị cáo Giang Ngọc M 14 (Mười bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; 05 (Năm) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Buộc bị cáo Giang Ngọc M phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 19 (Mười chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/01/2022.
2.2. Xử phạt: Bị cáo Đàm Cẩm T 13 (Mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; 04 (B) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Buộc bị cáo Đàm Cẩm T phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 17 (Mười bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/01/2022.
3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa các bị cáo và người bị hại bà Trần Thị Lệ C, đã bồi thường xong về dân sự.
4. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo T, bị cáo M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án là ngày 12/12/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh |
Bản án số 1155/2024/HS-PT ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (phúc thẩm)
- Số bản án: 1155/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa án
