|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1154/2024/DS-ST
Ngày: 24/6/2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thị Lan Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Nhơn
2. Bà Hồ Thị Lang
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu Hà là Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Giang – Kiểm sát viên
Ngày 24/6/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 0616/2021/TLST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2021 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 199/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 178/2024/QĐST-DS ngày 24/5/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á
Địa chỉ trụ sở: D N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Xuân M (giấy ủy quyền số 2094/UQ-QLN.22 ngày 21/9/2022).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Minh N
Địa chỉ: 1 V, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN
[1]. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản tại Tòa án, đại diện nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á (sau đây gọi tắt là Ngân hàng trình bày: A có cấp tín dụng cho bà Nguyễn Thị Minh N căn cứ theo hợp đồng tín dụng trả góp số TSN.CN.01160910 ngày 16/9/2010 (số tài khoản vay 86139669), chi tiết như sau:
Số tiền cho vay 100.000.000 đồng, phương thức giải ngân là chuyển khoản toàn bộ số tiền vay vào tài khoản tiền gửi thanh toán số 86139669 của bà N tại A, thời hạn cho vay 36 tháng kể từ ngày 16/9/2010 đến 16/9/2013, mục đích vay tiêu dùng, phương thức cho vay là từng lần, lãi suất trong hạn 0.97%/tháng, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn.
Ngày 27/12/2011, A ra thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ số nợ vay còn lại chưa thanh toán của hợp đồng tín dụng trả góp số TSN.CN.01160910 do bà N đã bị phạm hợp đồng tín dụng về nghĩa vụ trả nợ.
Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Minh N phải thanh toán số tiền nợ tính đến ngày 14/8/2023 là 198.412.840 đồng, trong đó, vốn gốc là 63.886.000 đồng, lãi trong hạn là 3.233.333 đồng, lãi quá hạn là 130.693.507 đồng, phạt vi phạm/trễ kỳ là 600.000 đồng và bà N phải chịu tiền lãi quá hạn phát sinh kể từ ngày 15/8/2023 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng trả góp số TSN.CN.01160910.
[2]. Bị đơn là bà Nguyễn Thị Minh N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không đến Tòa án, không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của ông đối với yêu cầu của nguyên đơn.
[3]. Tại phiên tòa: Nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn phải thanh toán số tiền nợ tính đến ngày 24/6/2024 là 208.173.024 đồng, trong đó, vốn gốc là 63.886.000 đồng, lãi trong hạn là 3.233.333 đồng, lãi quá hạn là 140.453.690 đồng, phạt vi phạm/trễ kỳ là 600.000 đồng và bị đơn phải chịu tiền lãi quá hạn phát sinh kể từ ngày 15/8/2023 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng trả góp số TSN.CN.01160910.
[4]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa phát biểu: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, ngoại trừ việc vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng cụ thể xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án, xác định vụ kiện thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thực hiện đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181, Điều 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý cho đến nay, nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2005, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, có cơ sở xác định đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2]. Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn là bà Nguyễn Thị Minh N đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[3]. Về các yêu cầu của đương sự:
Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán ngay tổng số tiền nợ tính đến ngày 24/6/2024 là 208.173.024 đồng, trong đó, vốn gốc là 63.886.000 đồng, lãi trong hạn là 3.233.333 đồng, lãi quá hạn là 140.453.690 đồng, phạt vi phạm/trễ kỳ là 600.000 đồng và bị đơn phải chịu tiền lãi quá hạn phát sinh kể từ ngày 15/8/2023 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng trả góp số TSN.CN.01160910 ngày 16/9/2010, Hội đồng xét xử thấy:
Căn cứ hợp đồng tín dụng trả góp số TSN.CN.01160910 ngày 16/9/2010 có cơ sở xác định nguyên đơn có cho bị đơn vay số tiền 100.000.000 đồng, phương thức giải ngân là chuyển khoản toàn bộ số tiền vay vào tài khoản tiền gửi thanh toán số 86139669 của bị đơn tại A, thời hạn cho vay 36 tháng kể từ ngày 16/9/2010 đến 16/9/2013, mục đích vay tiêu dùng, phương thức cho vay là từng lần, lãi suất trong hạn 0.97%/tháng, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn. hợp đồng tín dụng trả góp số TSN.CN.01160910 ngày 16/9/2010 đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo quy định tại Điều 122, Điều 405 Bộ luật dân sự 2015. Do đó, các bên tham gia hợp đồng phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết.
Căn cứ bảng sao kê, đến ngày 17/10/2011, bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền là 48.724.000 đồng (trong đó vốn gốc là 36.114.000 đồng và lãi là 12.610.000 đồng) và kể từ đó đến nay bị đơn đã không thanh toán thêm bất cứ khoản nợ nào cho nguyên đơn. Ngày 27/12/2011, nguyên đơn đã ra thông báo thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn đối với khoản vay của bị đơn. Việc bị đơn không thanh toán nợ cho nguyên đơn là vi phạm Điều 5 của Hợp đồng. Tính đến ngày 24/6/2024, bị đơn còn nợ Ngân hàng vốn gốc là 63.886.000 đồng, lãi trong hạn là 3.233.333 đồng, lãi quá hạn là 140.453.690 đồng, phạt vi phạm/trễ kỳ là 600.000 đồng.
Căn cứ Điều 474 Bộ luật Dân sự 2005; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 1 Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N1 hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N1 được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005; yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Buộc bị đơn phải trả nguyên đơn tổng số tiền nợ tính đến ngày 24/6/2024 là 208.173.024 đồng, trong đó, vốn gốc là 63.886.000 đồng, lãi trong hạn là 3.233.333 đồng, lãi quá hạn là 140.453.690 đồng, phạt vi phạm/trễ kỳ là 600.000 đồng, trả làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật và bị đơn còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 25/6/2024 cho đến khi trả dứt nợ theo theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng trả góp số TSN.CN.01160910 ngày 16/9/2010.
[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 10.408.651 đồng.
Hoàn tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 21, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 203, Điều 227, Điều 271, Điều 273, Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 122, Điều 405, Điều 471, Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005;
Căn cứ vào Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án năm 2008;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP Á.
Buộc bà Nguyễn Thị Minh N phải trả cho Ngân hàng TMCP Á số tiền còn nợ tính đến ngày 24/6/2024 là 208.173.024 đồng, trong đó, vốn gốc là 63.886.000 đồng, lãi trong hạn là 3.233.333 đồng, lãi quá hạn là 140.453.690 đồng, phạt vi phạm/trễ kỳ là 600.000 đồng, trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày 25/6/2024 cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị Minh N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng trả góp số TSN.CN.01160910 ngày 16/9/2010.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Minh N phải chịu là 10.408.651 đồng.
Hoàn cho Ngân hàng TMCP Á số tiền tạm ứng án phí 4.239.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số AA/2019/0089622 ngày 20/4/2021 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP Á có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bà Nguyễn Thị Minh N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Vương Thị Lan Phương |
Bản án số 1154/2024/DS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 1154/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu trả gốc, lãi
