|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 1152/2024/HS-PT Ngày: 11 - 12 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Minh |
| Các Thẩm phán: | Ông Phan Văn Yên |
| Ông Phan Tô Ngọc |
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Hồng Vân, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 892/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Minh N.
Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 408/2024/HS-ST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo kháng cáo:
Phạm Minh N; giới tính: nam; sinh năm: 1985 tại tỉnh KG; nơi đăng ký thường trú: tổ X, ấp TH, xã MT, huyện HĐ, tỉnh KG; chỗ ở: nhà trọ KS, đường SVT, phường CPH, thị xã BC, tỉnh BD; trình độ học vấn: 0/12; nghề nghiệp: không có; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị Mỹ H; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không có.
Bị bắt, tạm giam từ ngày 24/5/2023 (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo do Tòa án chỉ định: Luật sư Nguyễn Thị B thuộc Đoàn luật sư TP HCM (có mặt).
(Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Hồ Văn G không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 10 giờ 15 phút ngày 24/5/2023, tại trước nhà số 1453 đường Tỉnh Lộ 10, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, công an phát hiện Phạm Minh N điều khiển xe gắn máy hiệu Y biển số 69D1-268.26 chở Hồ Văn G có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành kiểm tra, phát hiện các chất ma túy gồm 1.998,74 gram Methamphetamine (để trong cốp xe) và 8.002,08 gram Methamphetamine (để trong ba lô, trên baga xe). N và G khai ma túy của N và G để bán lại cho người khác, nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N và G, cùng vật chứng.
Cùng ngày 24/5/2023, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Minh N tại phòng số 3 nhà trọ KS, đường SVT, phường CPH, thị xã BC, tỉnh BD, thu giữ các chất ma túy gồm 987,04 gram Methamphetamine và 2.850,20 gram MDMA.
Ngày 25/5/2023, khám xét khẩn cấp nơi ở của Hồ Văn G tại ấp H, xã TP1, huyện HN, tỉnh ĐT, thu giữ 993,44 gram ma túy, loại Methamphetamine.
Vật chứng là ma túy thu giữ của Phạm Minh N và Hồ Văn G đã được giám định tại Kết luận giám định số 5623/KL-KTHS ngày 01/06/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an TP HCM.
Tài liệu điều tra xác định, Hồ Văn G và Phạm Minh N có mối quan hệ bạn bè, G quen biết người đàn ông tên A (quốc tịch C, không rõ lai lịch). Vào tháng 01/2023, A thuê G vận chuyển ma túy từ khu vực gần biên giới VN - C, thuộc xã THA, huyện HN, tỉnh ĐT về TP HCM, giao cho người mua ma túy của A, giá 60 triệu đồng/01 chuyến. G đồng ý và rủ N cùng thực hiện. Từ tháng 01/2023 đến trước ngày 14/5/2023, G và N đã 03 lần vận chuyển ma túy cho A, được trả tiền công 200.000.000 đồng, G và N đã chia nhau sử dụng hết. Sau đó, G và N nảy sinh ý định không giao ma túy cho người mua theo chỉ đạo của A mà lấy ma túy của A bán cho người khác, để lấy tiền, cụ thể:
Lúc 02 giờ ngày 14/5/2023, N và G thuê xe ô tô taxi (không xác định được hãng xe, người điều khiển và biển số xe) đi từ khu vực gần nhà của G (ấp GB, xã TP1, huyện HN, tỉnh ĐT) đến khu vực biên giới VN - C, thuộc xã THA, huyện HN, tỉnh ĐT để nhận ma túy, vận chuyển về TP HCM giao cho người mua theo chỉ đạo của A. Tại đây, G núp trong bụi cây để quan sát, trong lúc A đang giao các chất ma túy cho N (gồm 12 gói Methamphetamine, 03 gói MDMA) thì G sử dụng đèn pin rọi về phía A và N, làm cho A hoảng sợ, bỏ lại ma túy, chạy bộ tẩu thoát. Sau khi lấy được ma túy của A, N và G đưa về nhà anh Hồ Văn Q (anh ruột của G) tại ấp X, xã TP1, huyện HN, tỉnh ĐT cất giấu.
Ngày 16/5/2023, N gặp G lấy 01 gói ma túy, loại Methamphetamine (khối lượng 987,04 gram) và 03 gói ma túy, loại MDMA (khối lượng 2.850,20 gram) đưa về chỗ ở của N (phòng số 3 nhà trọ KS, đường SVT, phường CPH, thị xã BC, tỉnh BD) chia thành nhiều gói nhỏ, cất giấu, để bán lại cho người khác.
Ngày 23/5/2023, N nói G lấy 10 gói ma túy Methamphetamine (khối lượng 10.000,82 gram) đưa lên TP HCM để bán; còn lại 01 gói ma túy, loại Methamphetamine (khối lượng 993,44 gram), G cất giấu tại nhà của anh Q (ấp X, xã TP1, huyện HN, tỉnh ĐT), để bán cho người mua. Đến ngày 24/5/2023, N và G đưa ma túy đi bán, thì bị phát hiện cùng vật chứng.
Tại bản cáo trạng số 340/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 10/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Phạm Minh N và Hồ Văn G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 408/2024/HS-ST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
+ Xử phạt: Phạm Minh N tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 24/5/2023, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
+ Buộc bị cáo N nộp phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với Hồ Văn G, xử lý vật chứng, án phí, quyền xin ân giảm án tử hình và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 26/8/2024, bị cáo Phạm Minh N có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Phạm Minh N thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt do bị rủ rê, lôi kéo.
Luật sư Nguyễn Thị B trình bày: Bị cáo do bị rủ rê và do nợ nần nên bị cáo G đã lợi dụng bị cáo, bản thân bị cáo chưa từng bị tiền án tiền sự gì, gia đình có cha là Đảng viên và có nhiều đóng góp cho địa phương, trong gia đình có các anh em là quân nhân, kính mong HĐXX xem xét cho kháng cáo của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Phạm Minh N tử hình và phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Minh N làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Minh N thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo được thẩm tra công khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở để xác định như sau:
[2.1] Ngày 23/5/2023, Phạm Minh N và Hồ Văn G lấy 10 gói ma túy đá loại Methamphetamine, tổng khối lượng 10.000,82 gram từ địa chỉ ấp X, xã TP1, huyện HN, tỉnh ĐT, sau đó cùng điều khiển xe gắn máy biển số 69D1-268.26 lên Thành phố Hồ Chí Minh để bán lại kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang trước nhà số 1453 Tỉnh lộ 10, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Mở rộng điều tra, tiến hành khám xét chỗ ở của N tại phòng số 3 nhà trọ KS, đường SVT, phương CPH, thị xã BC, tỉnh BD phát hiện và thu giữ thêm 987,04 gram Methamphetamine và 2.850,20 gram MDMA. Khám xét chỗ ở của G tại ấp X, xã TP1, huyện HN, tỉnh ĐT thu giữ 993,44 gram Methamphetamine.
Số ma túy bị thu giữ nêu trên đã được giám định, kết quả thể hiện tại Kết luận giám định số 5623/KL-KTHS ngày 01/06/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguồn gốc số ma túy nêu trên, N và G khai chiếm đoạt của đối tượng tên A (quốc tịch C, không rõ lai lịch) rồi chia nhau cất giấu, nhằm bán lại kiếm lời. Như vậy, Phạm Minh N phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng khối lượng các chất ma túy bị thu giữ là 11.981,3g Methamphetamine và 2.850,20g MDMA.
[2.2] Với các hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phạm Minh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến chính sách của nhà nước về đấu tranh phòng ngừa và loại bỏ ma túy ra khỏi cuộc sống xã hội, không những gây mất trật tự trị an, sức khỏe con người, làm lây lan tệ nạn nghiện ngập trong xã hội mà còn gây khó khăn trong việc phòng chống tội phạm về ma túy và các tội phạm, tệ nạn xã hội khác nên cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
[4.1] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, khối lượng ma túy bị cáo mua bán là rất lớn, gấp nhiều lần so với mức khởi điểm quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Bản thân bị cáo biết và pháp luật cũng buộc bị cáo phải biết mọi hành vi mua bán trái phép các chất ma túy đều bị pháp luật nghiêm trị, nhưng vì hám lợi nên bị cáo vẫn bất chấp pháp luật để mua bán ma túy. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Phạm Minh N tử hình và phạt bổ sung bị cáo nộp phạt 10.000.000 đồng là đúng quy định pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên không có cơ sở chấp nhận.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Minh N cũng như đề nghị của người bào chữa, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Phạm Minh N phải chịu theo quy định pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Minh N. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 408/2024/HS-ST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
1. Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Phạm Minh N tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 24/5/2023, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Phạt bổ sung bị cáo Phạm Minh N số tiền 10.000.000 đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.
2. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Phạm Minh N phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bị cáo Phạm Minh N có quyền làm đơn gửi Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xin ân giảm án tử hình trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Minh |
Bản án số 1152/2024/HS-PT ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 1152/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Minh N. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 408/2024/HS-ST ngày 23/8/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
