|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1150/2024/HS-PT Ngày: 11-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Vương Minh Tâm |
| Các Thẩm phán: | Ông Phạm Văn Công |
| Bà Trần Thị Hòa Hiệp |
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đỗ Hồng Quân, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Hà, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 874/2024/TLPT – HS ngày 26 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo Lê Văn P, do có kháng cáo của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1130/2024/QĐPT-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024.
Bị cáo có kháng cáo:
Lê Văn P, sinh năm 1998. Nơi thường trú: ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: Nhà trọ Nguyễn Ngọc T, địa chỉ số A, đường L, Khu phố I, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Tùng L, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1973; vợ là bà Đoàn Thị Kim T1, sinh năm 2003, một người con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/01/2024 đến ngày 23/01/2024 tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L cho đến nay (có mặt).
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thị Yến N, Luật sư thuộc Hãng luật R, Đoàn luật sư T2 (có mặt).
Bị hại: Lê Hoàng P1, sinh năm 1991 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại có kháng cáo: Bà Nguyễn Hồng Y, sinh năm 1967; Địa chỉ: Ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1973; Địa chỉ: ấp H, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người làm chứng:
- Lê Hoàng H, sinh năm 1995; Địa chỉ: Ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
- Đoàn Thị Kim T1, sinh năm 2003; Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
- Hồ Ngọc P2, sinh năm 1958; Địa chỉ: 1, đường L, Khu phố I, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn P và vợ tên Đoàn Thị Kim T1, sinh ngày 14/3/2003, nơi thường trú: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp đến thuê phòng số 2 nhà trọ Nguyễn Ngọc T, địa chỉ: số A, đường L, Khu phố I, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An để ở đi làm công nhân. Ngày 16/01/2024, Pháp và T1 xảy ra mâu thuẫn cự cãi về chuyện tiền bạc, T1 không đồng ý ở chung với P nữa nên P thuê phòng số 7 của nhà trọ Nguyễn Ngọc T để ở riêng. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20/01/2024, P đi nhậu với bạn về đến phòng trọ số 2 của T1, kêu T1 mở cửa để P nói chuyện với T1 nhưng T1 không mở cửa. Khi đó, P nói với T1 “ra ngoài đi anh nói chuyện, anh không hại gì em đâu”. Thời điểm này, Lê Hoàng P1, sinh năm 1991, nơi thường trú: Ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp là anh bà con của T1, đang ở tại phòng trọ số 1 nghe tiếng của Pháp nên P1 đi ra hỏi P “mày làm gì vậy”, P trả lời “em qua nói chuyện với T1”. P1 nói “mày muốn gì thì nói đi khuya rồi để người ta ngủ”. Nghe vậy, Pháp tức giận vì P1 xen vào chuyện của vợ chồng P nên P chạy về phòng trọ lấy một con dao Thái Lan (có đặc điểm dài 21cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 11cm, cán dao bằng nhựa màu vàng dài 10cm, mũi dao nhọn) mà P đã mượn của T1 trước đó vào ngày 19/01/2024 để gọt trái cây. P cầm con dao trong tay phải và giấu tay cầm dao ra phía sau lưng, rồi đi đến phòng trọ số 1 của P1. Khi đó, P1 đang đứng trước cửa phòng trọ, Pháp đi đến đứng đối diện và cách P1 khoảng 01 mét, P1 hỏi Pháp “muốn gì”, P nói “muốn nói chuyện với vợ tôi mà tại sao không cho”. P1 hỏi Pháp “muốn sao”. Lúc này, P dùng con dao đang cầm trong tay phải, đâm thẳng vào ngực trái của P1 một cái. Sau khi bị đâm, P1 quay lưng đi vào phòng trọ thì P tiếp tục đi theo dùng dao đâm một cái nữa vào lưng của P1 làm cho phần cán dao và lưỡi dao bị gãy tách rời ra. P1 té ngã xuống nền gạch bên trong phòng trọ số 1 còn P vứt bỏ cán dao tại hiện trường tiếp tục lấy 1 cái búa ở phòng của P1 định đánh P1 tiếp nhưng thấy P1 té ngã máu ra nhiều nên Pháp không đánh nữa. Khi đó, Lê Hoàng H, sinh năm 1995, nơi thường trú: Ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, đang thuê ở tại phòng trọ số C (H là em ruột của P1) nhìn thấy P cầm dao đâm P1 nên H la lên “anh hai bị đâm rồi”. P tiếp tục cầm cái búa quay
sang rượt đuổi H. H bỏ chạy vào phòng trọ số 3 đóng cửa lại. Lúc này, P dùng búa đang cầm trên tay đánh một cái vào cánh cửa phòng trọ số 3 làm cho thủng một lỗ nhỏ, rồi P cầm búa đi về phòng trọ của mình vứt bỏ cái búa xuống nền gạch. Pháp lấy xe mô tô hiệu Vairo biển số 66F2-058.41, chạy ra gặp ông Hồ Ngọc P2, sinh năm 1958 là chủ nhà trọ Nguyễn Ngọc T, P nói “đã đâm chết người rồi”. Sau đó, P điều khiển xe đi đến Công an xã M, huyện B đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Riêng Lê Hoàng P1 đã tử vong tại hiện trường.
* Tại Kết luận giám định tử thi số: 77 ngày 19/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh L đối với Lê Hoàng P1, sinh năm 1991, nơi thường trú: Tổ A, Ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp như sau:
1. Các kết quả chính
- Vết thương vùng ngực trái:
- + Vết thương hở vùng hạ đòn trái, kích thước (3,0x0,5)cm, sâu 11cm.
- + Bầm tụ máu dưới da vùng cơ ngực lớn bên trái.
- + Xuyên thủng bờ trên xương sườn số 02.
- + Bầm tụ máu mặt dưới xương ức.
- + Thủng thấu màng ngoài tim và cung động mạch chủ.
- Vết thương vùng lưng:
- + Vùng cột sống có vết thương hở, kích thước (1,5x0,5)cm, sau 4,5cm.
- + Bầm tụ máu cơ bán gai ngực, chạm xương đốt sống thắt lưng, không thủng ngực.
2. Kết luận:
Nguyên nhân chết: Mất máu cấp do bị vết thương hở vùng ngực trái thấu ngực đứt, thủng màng ngoài tim và cung động mạch chủ.
* Tại Kết luận giám định độc chất số 46 ngày 26/01/2024 của Trung tâm pháp y Thành phố H đối với Lê Văn P, sinh năm 1998, nơi thường trú: ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang như sau: Nồng độ ethanol trong máu toàn phần: 91,97mg/100ml.
* Tại Kết luận giám định số: 1120 ngày 28/02/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh như sau: Trên lưỡi dao cong vênh và cán dao bằng nhựa màu vàng gửi giám định có dính máu người. Phân tích (ADN) từ dấu vết máu này được một kiểu gen nam giới hoàn chỉnh và trùng với kiểu gen tử thi Lê Hoàng P1.
Tại Bản Cáo trạng số 31/CT-VKSLA-P2 ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An truy tố bị cáo Lê Văn P về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã quyết định:
- 1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn P phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 40; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn P hình phạt “Tử hình”.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Văn P để đảm bảo cho việc thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, nghĩa vụ thi hành án dân sự, áp dụng luật thi hành án dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng.
Ngày 19/8/2024, đại diện hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Hồng Y kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ngày 20/8/2024, bị cáo Lê Văn P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Văn P vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy việc kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xét xử.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Về tội danh, luật sư không tranh luận. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, áp dụng khoan hồng của pháp luật để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Văn P, đại diện hợp pháp của bị hại làm trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tố tụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhưng vắng mặt không có lý do. Việc vắng mặt của đại diện hợp pháp của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xét xử vắng mặt đại diện hợp pháp của bị hại.
[3] Về nội dung kháng cáo:
[3.1] Về tội danh:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Văn P thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ căn cứ để kết luận:
Xuất phát từ mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng giữa bị cáo Lê Văn P và Đoàn Thị Kim T1 nên khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20/01/2024, sau khi uống rượu cùng với bạn xong, Pháp đi về nhà trọ Nguyễn Ngọc T, địa chỉ: số A, đường L, Khu phố I, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An đến phòng trọ số 2 của T1, kêu T1 mở cửa để P nói chuyện nhưng T1 không mở cửa. Khi đó, Lê Hoàng P1 là anh bà con của T1, đang ở phòng trọ số 1 đi ra kêu Pháp có nói gì thì nói đi rồi về phòng để cho mọi người ngủ. Bị cáo cho là P1 xen vào chuyện riêng của bị cáo nên bị cáo về phòng trọ lấy một con dao Thái Lan dài 21cm mũi nhọn cầm trên tay phải đến trước phòng trọ của P1 đâm một cái vào ngực trái của P1. Sau khi bị đâm P1 quay lưng đi vào phòng trọ, bị cáo đi theo đâm tiếp 1 cái vào lưng P1 làm gãy dao, P3 ngã quỵ xuống đất bị cáo tiếp tục lấy 1 cái búa ở phòng trọ của P1 định đánh P1 tiếp nhưng thấy P1 chảy nhiều máu đã bất tỉnh nên không đánh nữa. Lúc này anh Lê Hoàng H là em của P1 đang ở phòng trọ của mình nhìn thấy bị cáo đâm P1 có la lên thì bị cáo cầm búa quay sang đuổi đánh H. H chạy vào phòng trọ đóng cửa lại, bị cáo dùng búa đập vào cửa phòng trọ của H một cái, sau đó đi về phòng trọ của mình bỏ búa ở đó và lấy xe đi đến Công an đầu thú về hành vi giết người của mình. Hậu quả là P1 tử vong tại hiện trường do bị vết thương hở vùng ngực trái thấu ngực đứt, thủng màng ngoài tim và cung động mạch chủ gây mất máu cấp.
Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Giết người”, có tính chất côn đồ theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
[2.2] Về hình phạt:
Xuất phát từ việc bị hại Lê Hoàng P1 nhắc nhở bị cáo trời đã tối có nói gì thì nói đi rồi về phòng để cho mọi người ngủ, bị cáo cho là P1 xen vào chuyện riêng của bị cáo nên về phòng trọ lấy một con dao Thái Lan là hung khí nguy hiểm, quay lại tấn công, đâm nhiều nhát vào bị hại P1, hậu quả làm bị hại P1 tử vong.
Hành vi của bị cáo thể hiện tính hung hăng, quyết liệt, ý chí phạm tội đến cùng. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm e khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Sau khi phạm tội, bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, vận động người thân bồi thường khắc phục 1 phần hậu quả, bị cáo đầu thú, gia đình bị cáo khó khăn, có bà nội là người có công với nước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng cho bị cáo. Xét thấy, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, có tình tiết tăng nặng, thể hiện tính hung hăng, côn đồ, xem thường pháp luật, xem thường tính mạng con người, cố tình thực hiện tội phạm đến cùng, dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng không còn khả năng cải tạo, giáo dục. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo mức hình phạt cao nhất, loại bỏ bị cáo ra khỏi đời sống xã hội bằng hình phạt “Tử hình” là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Lê Văn P, đại diện hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Hồng Y kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhưng không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó Hội đồng xét xử không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[4] Từ các phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo của bị cáo Lê Văn P, đại diện bị hại bà Nguyễn Hồng Y là không có căn cứ để chấp nhận. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà. Ý kiến bào chữa của vị luật sư bào chữa cho bị cáo không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn P, đại diện bị hại bà Nguyễn Hồng Y.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- [1] Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn P phạm tội “Giết người”.
- [2] Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 40; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn P hình phạt “Tử hình”.
- [3] Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Văn P để đảm bảo cho việc thi hành án.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Văn P phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
[6] Trong thời hạn 07 (bảy) ngày, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo Lê Văn P có quyền làm đơn xin Chủ tịch N1 ân giảm hình phạt tử hình.
[7] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Minh Tâm |
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Phạm Văn Công |
Trần Thị Hòa Hiệp |
Vương Minh Tâm |
Bản án số 1150/2024/HS-PT ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự phúc thẩm (giết người)
- Số bản án: 1150/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm (Giết người)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Pháp
