Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HNGĐ-ST

Ngày 31-7-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Tú Nhi;

2. Bà Hoàng Lệ Chi.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 215/2024/TLST–HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 128/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đình Y, sinh năm 1979. Thường trú: số 195/13, đường Đ, khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Địa chỉ liên hệ: số D, đường T, khu trung tâm hành chính D, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Võ Thị P, sinh năm 1984. Thường trú: số 195/13, đường Đ, khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 5 năm 2024, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Đình Y trình bày:

Ông Nguyễn Đình Y và bà Võ Thị P kết hôn vào năm 2007 có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định theo Giấy chứng nhận kết hôn số 75 vào ngày 05/11/2007. Trong thời kỳ hôn nhân hai vợ chồng có 02 người con chung là cháu Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 08/5/2004 và cháu Nguyễn Thị Bích N, sinh ngày 14/10/2014. Sau khi kết hôn, ông Y và bà P vào Bình Dương lập nghiệp và cùng sống tại địa chỉ số A, đường Đ, khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương và không xảy ra mâu thuẫn. Tuy nhiên, đến năm 2018 vợ chồng bắt đầu mâu thuẫn, sau nhiều lần tìm cách hàn gắn để giữ hạnh phúc gia đình nhưng đều không thành. Thậm chí, hai bên gia đình cũng đã có những hàn gắn, níu giữ hạnh phúc của hai vợ chồng nhưng đều vô nghĩa. Sau hơn 17 năm chung sống, ông Y nhận thấy giữa ông Y và bà P không còn sự tôn trọng lẫn nhau. Tình trạng hôn nhân không còn hòa thuận, hạnh phúc, cuộc sống thường xảy ra mâu thuẫn giữa hai bên và không thể hàn gắn lại được nữa. Hiện nay, ông Y và bà P đã ly thân từ năm 2018. Sau nhiều lần hoà giải nhưng không thành và đồng thời nhận thấy đời sống hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, ông Y khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết :

  1. Về quan hệ hôn nhân: yêu cầu được ly hôn bà Võ Thị P.
  2. Về con chung: Ông Nguyễn Đình Y yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Bích N, sinh ngày 14/10/2014, còn cháu Nguyễn Ngọc B đã đủ tuổi thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà Võ Thị P không phải cấp dưỡng nuôi con.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã triệu tập bị đơn bà Võ Thị P và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa nhận thấy mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Đình Y và bà Võ Thị P là trầm trọng, không hàn gắn đoàn tụ được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đình Y.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Đình Y khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn bà Võ Thị P, sinh năm 1984, thường trú: số A, đường Đ, khu phố B, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên căn cứ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; quan hệ pháp luật là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Đình Y vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; bị đơn bà Võ Thị P vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn ông Nguyễn Đình Y với bị đơn bà Võ Thị P tự nguyện chung sống với nhau và có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định theo Giấy chứng nhận kết hôn số 75, quyển số 01/2007 cấp ngày 05/11/2007 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của ông Y trong thời gian chung sống giữa ông Y và bà P thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không còn sự tôn trọng lẫn nhau, tình trạng hôn nhân không còn hòa thuận, hạnh phúc. Cuộc sống thường xảy ra mâu thuẫn giữa hai bên và không thể hàn gắn lại được. Khi mâu thuẫn vợ chồng xảy ra thì gia đình hai bên cũng đã có những hàn gắn để giữ hạnh phúc của hai vợ chồng nhưng đều không có kết quả. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập bị đơn bà Võ Thị P tham gia tố tụng nhưng bà P vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc bà P vắng mặt không có lý do là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng, nghĩa vụ chứng minh của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Y và bà P là thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, ông Y yêu cầu được ly hôn với bà P là có căn cứ chấp nhận.

[5] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Bích N, sinh ngày 14/10/2014 và cháu Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 08/5/2004 (đã đủ tuổi thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết). Ông Y yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Thị Bích N, không yêu cầu bà Võ Thị P phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay cháu N đang sống chung và được ông Y chăm sóc nuôi dưỡng phát triển bình thường, ông Y có việc làm, có thu nhập đủ điều kiện để nuôi các con phát triển bình thường. Ngoài ra, cháu N đã đủ 07 tuổi có nguyện vọng sống chung với ông Y. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu N cho ông Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[7] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

[8] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đình Y đối với bà Võ Thị P về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

    - Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Đình Y được ly hôn với bà Võ Thị P (Giấy chứng nhận kết hôn số 75, quyển số 01/2007 do Ủy ban nhân dân xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định cấp ngày 05/11/2007).

    - Về con chung: Giao con chung cháu Nguyễn Thị Bích N, sinh ngày 14/10/2014 cho ông Nguyễn Đình Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà Võ Thị P không phải cấp dưỡng nuôi con chung cháu Nguyễn Thị Bích N.

    Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

    - Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

  2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Đình Y phải chịu 300.000 đồng được khấu trừ 300.000 đồng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004914 ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01);
  • - Các đương sự (02);
  • - UBND xã Ân Tín, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định (01);
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 115/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa nguyên đơn ông Nguyễn Đình Y với bị đơn bà Võ Thị P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger