|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 115/2024/HS-ST
Ngày 30/07/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tài Hòa, bà Nguyễn Thị Tám.
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 30/7/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 107/2024/TLST-HS ngày 18/06/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST-HS ngày 16/7/2024 đối với:
1. Bị cáo:
1.1 Dương Toàn T, sinh năm 1984; Nơi đăng ký HKTT: Khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Chỗ ở: Khu phố X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn T1 và bà Lê Thị H; Có vợ là Nguyễn Thị L đã ly hôn và có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2009;
Tiền án: Tại Bản án số 70/2021/HS-ST ngày 29/01/2021, Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Dương Toàn T 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. T chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/8/2022.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 45/2013/HSST ngày 21/3/2013, Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt Dương Toàn T 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. T đã chấp hành xong toàn bộ Bản án.
Ngày 02/10/2015, Công an huyện T, tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 78/QĐ-XPHC đối với Dương Toàn T về hành vi “Tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy” hình thức phạt tiền. T đã chấp hành xong Quyết định.
Ngày 06/3/2017, Công an thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 43/XPHC đối với Dương Toàn T về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” hình thức phạt tiền. T đã chấp hành xong Quyết định.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/3/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
1.2. Kiều Thị H1, sinh năm 1994; Nơi đăng ký HKTT: Khu phố C C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Kiều Văn Q và bà Đỗ Thị N; Có chồng là Nguyễn Duy T2 và có 03 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2022;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/3/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
1.3 Trương Thị T3, sinh năm 1991; Nơi đăng ký HKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Chỗ ở: Khu phố N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn T4 và bà Nguyễn Thị N1; Có chồng là Đỗ Minh N2 đã ly hôn và có 01 con sinh năm 2018
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 24/4/2009, Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 17/QĐ đối với Trương Thị T3 về hành vi “Bán dâm” hình thức phạt: “Cảnh cáo”.
Ngày 19/4/2018, Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 69/QĐ-XPHC đối với Trương Thị T3 về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với hình thức phạt tiền. T3 đã chấp hành xong Quyết định.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/3/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
2.Người bào chữa cho bị cáo T3: Ông Đặng Hồng D – Luật sư thuộc Công ty L1, Đoàn luật sư thành phố H; Địa chỉ: Số C đường N, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1 Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1966; Địa chỉ: Khu phố N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
3.2 Anh Ngô Văn G, sinh năm 1986; Địa chỉ: Khu phố N, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 12/3/2024, tại thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Công an xã Đ bắt quả tang Trương Thị T3 có hành vi tàng trữ 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa 06 viên nén hình tròn màu hồng và chất tinh thể màu trắng để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y để giải quyết theo thẩm quyền. T3 khai nhận nguồn gốc số ma túy trên là do T3 mua của Dương Toàn T và Kiều Thị H1 là người giao ma túy cho T3.
Ngày 12/3/2024, Kiều Thị H1 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đầu thú và giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu đồng đã qua sử dụng có số sêri F2FT6K00D41, mặt sau điện thoại đã bị vỡ, bên trong có gắn sim số 0971.460.582.
Cùng ngày 12/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Dương Toàn T. Quá trình bắt giữ, T đã tự nguyện giao nộp: 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa 26 viên nén hình tròn màu hồng, 02 viên nén hình tròn màu xanh; 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1); Số tiền 500.000 đồng (T khai nhận đây là tiền bán ma túy cho T3 mà có), được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu M2.
Thu giữ ở góc gác xép trong phòng trọ của T: 01 cân tiểu ly hình hộp chữ nhật, kích thước (10x05x02)cm màu đỏ trắng, có ghi dòng chữ Marlboro lights; 01 hộp nhựa hình tròn màu xanh bên trong có 01 túi nilon màu tím than, bên trong chứa 05 viên nén hình tròn màu hồng và 02 viên nén hình tròn màu xanh; 07 túi nilon màu trắng bên trong tất cả các túi đều chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 48 viên nén hình tròn màu hồng và 02 viên nén hình tròn màu xanh, được niêm phong vào trong 01 hộp giấy; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s màu bạc, bên trong có gắn sim số 0983.250.984.
Ngày 12/03/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra Lệnh khám xét khẩn nơi ở của Trương Thị T3, thu giữ 01 vỏ hộp bánh màu xanh nhãn hiệu ORION và 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi màu xanh bên trong gắn sim số 0867106540.
Tại bản Kết luận giám định số 718/KL - KTHS ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “06 viên nén hình tròn màu hồng được niêm phong dán kín trong phong bì thư ký hiệu M có khối lượng là 0,5490 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine. Chất tinh thể màu trắng được niêm phong dán kín trong phong bì thư ký hiệu M có khối lượng là 0,1269 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine. 26 viên nén hình tròn màu hồng và 02 viên nén hình tròn màu xanh được niêm phong dán kín trong phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng là 2,6948 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine. Chất tinh thể màu trắng được niêm phong dán kín trong phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng là 0,9791 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine. 53 viên nén hình tròn màu hồng và 04 viên nén hình tròn màu xanh được niêm phong hộp giấy kích thước 12x12x12 cm dán kín gửi giám định có khối lượng là 5,6938 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine. Chất tinh thể màu trắng trong 07 túi nilon màu trắng trong hộp giấy kích thước 12x12x12 cm dán kín gửi giám định có khối lượng là 6,0598 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Tổng khối lượng ma túy là 16,1034 gam Methamphetamine.
Với nội dung trên, bản cáo trạng số 105/CT-VKSYP ngày 18/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Phong để xét xử bị cáo Dương Toàn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Bị cáo Kiều Thị H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Bị cáo Trương Thị T3 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo T3 khai nhận: Bị cáo thường xuyên sử dụng ma túy đá và ma túy ngựa nên ngày 10/3/2024 bị cáo đã mua của Dương Toàn T 06 viên nén hình tròn màu hồng và chất tinh thể màu trắng với giá 2.000.000 đồng. Bị cáo đã dùng điện thoại thông qua nick Facebook "Truong Thi B” gọi vào nick Facebook “Dương Thắng” để mua ma túy. Hai bên trao đổi và thống nhất chuyển trước 1 phần tiền. Vì thế, bị cáo đã mượn điện thoại của bà Nguyễn Thị Đ là mẹ của bạn, hỏi vay tiền từ tài khoản của bà Đ để chuyển khoản 1.500.000 đồng cho T. Khi hỏi vay tiền bị cáo nói để mua quần áo, không nói cho bà Đ biết là mua ma túy. Số tiền này bị cáo đã trả bà Đ. Đến phòng trọ của T ở khu phố X, bị cáo T3 gọi điện cho T thì thấy Kiều Thị H1 là người giao ma túy cho bị cáo và nhận 500.000 đồng tiền mặt bị cáo trả. Ngày 12/3/2024 bị cáo bị bắt quả tang đang tàng trữ số ma túy trên.
Bị cáo Dương Toàn T khai nhận đã liên lạc bán ma túy cho T3 thông qua điện thoại. Do bị cáo không có ở nhà nên đã gọi điện thoại cho Kiều Thị H1 thông qua nick Z “Hương Lú” bảo H1 giao ma túy cho T3 và nhận nốt số tiền còn thiếu 500.000 đồng. Số tiền 1.500.000 đồng T3 đã chuyển khoản cho bị cáo. Số ma túy bị thu giữ tại phòng trọ, bị cáo để bán. Số ma túy bị cáo cất giữ này H1 không biết. Nguồn gốc số ma túy trên là do bị cáo mua của người đàn ông không quen biết ở L, Hà Nội với giá 3.000.000 đồng.
Bị cáo H1 khai nhận bị cáo T gọi điện qua zalo nhờ giao ma túy, bị cáo đồng ý giao ma túy cho bị cáo T3 và nhận 500.000 đồng tiền T3 trả. Số ma túy bị cáo T cất giữ để bán bị cáo không biết và T cũng không nói cho bị cáo biết.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Đ đã cho bị cáo T3 mượn điện thoại Redmi màu xanh gắn sim 0867106540, cho T3 vay 1.500.000 đồng từ tài khoản ngân hàng. Khi vay T3 nói là chuyển khoản mua quần áo và đã trả bà khoản tiền này. Con trai bà là Ngô Văn G mượn điện thoại của bà sử dụng, đến chơi nhà T3, để quên điện thoại ở nhà T3 và đã bị thu giữ. Bà Đ đề nghị được nhận lại chiếc điện thoại này.
Anh Ngô Văn G mượn điện thoại Redmi màu xanh gắn sim 0867106540 của mẹ là bà Nguyễn Thị Đ đến nhà bị cáo T3 chơi, để quên tại nhà T3. Khi Công an khám chỗ ở của T3 đã thu giữ điện thoại này. Đây là tài sản của bà Đ nên đề nghị trả lại cho bà Đ.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Toàn T và Kiều Thị H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tuyên bố bị cáo Trương Thị T3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Toàn T từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/3/2024. Phạt bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Kiều Thị H1 từ 30 đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/3/2024. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Thị T3 từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/3/2024. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định; 01 cân tiểu ly; 01 vỏ hộp bánh màu xanh nhãn hiệu Orion; 03 phong bì đựng que thử nước tiểu; sim điện thoại số [...], 0983.520.xxx và 0971460582.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi màu đen, 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE 6S màu bạc, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu IPHONE 12 PRO MAX màu đồng và số tiền 2.000.000 đồng, trong đó có 500.000 đồng lưu giữ tại kho bạc, 1.500.000 đồng trong tài khoản 105878578345 mở tại Ngân hàng V của bị cáo T. Tiếp tục duy trì lệnh phong tỏa số 484 ngày 01/4/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y để đảm bảo thi hành án.
Trả lại bà Nguyễn Thị Đ 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi màu xanh bên trong gắn số 0867106540.
Lưu trong hồ sơ vụ án 03 DVD ghi âm, ghi hình.
Người bào chữa cho bị cáo T3 trình bày: Đồng ý với truy tố của Viện kiểm sát. Hành vi phạm tội của bị cáo đã rõ, bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình. Bị cáo là lao động chính trong gia đình, có con còn nhỏ đang nhờ bà ngoại chăm sóc nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản người phạm tội ra đầu thú, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 12/3/2024, tại thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Trương Thị T3 đã bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 0,6759 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trương Thị T3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 10/3/2024 tại phòng trọ của Dương Toàn T ở khu phố X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, T3 đã mua của T 2.000.000 đồng số ma túy bị bắt giữ trên. Người giao ma túy cho T3 là Kiều Thị H1. Ngoài ra, T còn cất giấu 15,4275 gam ma túy Methamphetamine để bán. Tổng số ma túy T bán và tàng trữ để bán là 16,1034 gam Methamphetamine. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Dương Toàn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Kiều Thị H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố. Trong vụ án này, giữa bị cáo H1 và bị cáo T không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ nên chỉ là đồng phạm giản đơn.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe con người và là cầu nối của đại dịch HIV. Đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác như giết người, cướp tài sản, trộm cắp nên cần phải xử lý nghiêm các bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo H1 là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo T đã bị xét xử và xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, bị xét xử về tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng. Bị cáo T3 đã bị xử phạt hành chính về hành vi bán dâm và tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội, bị cáo H1 đã đến Công an đầu thú. Bị cáo T3 có ông nội tham gia kháng chiến được tặng huân chương kháng chiến hạng ba. Bị cáo T có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự. Vì vậy, cả ba bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo T bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích, lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo H1 và T3 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới giúp các bị cáo cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T mua bán ma túy với mục đích lợi nhận nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo H1 là người giúp sức cho bị cáo T bán ma túy, không được hưởng lợi nhuận từ T, điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có tài sản chung. Bị cáo T3 tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo H1 và bị cáo T3.
[6] Về xử lý vật chứng:
Mẫu vật còn lại sau giám định là chất cấm lưu hành; 01 cân tiểu ly; 01 vỏ hộp bánh màu xanh nhãn hiệu Orion; 03 phong bì đựng que thử nước tiểu; sim điện thoại số [...], 0983.520.xxx và 0971460582 không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại nhãn hiệu Redmi màu đen, 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE 6S màu bạc, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu IPHONE 12 PRO MAX màu đồng và số tiền 2.000.000 đồng, trong đó có 500.000 đồng lưu giữ tại kho bạc, 1.500.000 đồng trong tài khoản 105878578345 mở tại Ngân hàng V của bị cáo T. (Theo lệnh phong tỏa số 484 ngày 01/4/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y) là phương tiện và tiền các bị cáo dùng để liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
01 điện thoại nhãn hiệu Redmi màu xanh bên trong gắn số 0867106540 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Đ không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bà Đ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Liên quan trong vụ án có người đàn ông bán ma túy cho Dương Toàn T tại khu vực quận L, thành phố Hà Nội. Tuy nhiên T không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với bà Nguyễn Thị Đ là người cho T3 mượn điện thoại và vay tiền chuyển khoản trả tiền mua ma túy cho T nhưng bà Đ không biết việc T3 vay tiền, chuyển khoản trả tiền mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với bà Đ là phù hợp.
Đối với ông Trần Huy T5 là chủ nhà trọ cho T thuê nhà nhưng ông T5 không biết T cất giấu ma túy trong phòng trọ và bán ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với ông T5 là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Dương Toàn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Dương Toàn T 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2024.
Phạt bị cáo 10.000.000 đồng.
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Kiều Thị H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Kiều Thị H1 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2024.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Trương Thị T3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trương Thị T3 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/3/2024.
- Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Quyết định tạm giam các bị cáo T, H1 và T3 mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định; 01 cân tiểu ly; 01 vỏ hộp bánh màu xanh nhãn hiệu Orion; 03 phong bì đựng que thử nước tiểu; sim điện thoại số [...], 0983.520.xxx và 0971460582.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi màu đen, 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE 6S màu bạc, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu IPHONE 12 PRO MAX màu đồng và số tiền 2.000.000 đồng, trong đó có 500.000 đồng lưu giữ tại kho bạc, 1.500.000 đồng trong tài khoản 105878578345 mở tại Ngân hàng V của bị cáo T. (Theo lệnh phong tỏa số 484 ngày 01/4/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y).
Trả lại bà Nguyễn Thị Đ 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi màu xanh bên trong gắn số 0867106540.
Các bị cáo T, H1 và T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Thanh |
Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 115/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Toàn T đồng phạm mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy
