Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2023/HS-ST

Ngày 29-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Cương

Ông Bùi Thế Vịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tiến hành mở phiên tòa công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 113/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ninh Khánh D; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh năm 1981;

Nơi cư trú và HKTT: Thôn R, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không;

Trình độ văn hóa: 09/12; Họ và tên bố: Ninh Thiên N, sinh năm 1936; (Đã chết) Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1944; Gia đình có 05 anh em, bản thân là thứ năm; H và tên vợ: Dương Thị H1, sinh năm 1986; (Đã ly hôn); Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2011.

Nhân thân: Năm 2016, bị Công an xã T, huyện L xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản. D đã nộp phạt 1.000.000 đồng.

- Năm 2018, bị Công an xã T, huyện L xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản.

Tiền án:

- Bản án số 53/2019/HSST ngày 09/7/2019 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tài sản trộm cắp trị giá là 900.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/11/2019. Chấp hành xong án phí ngày 08/10/2019.

- Bản án số 68/2020/HSST ngày 25/8/2020 của TAND huyện Lạng Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (trị giá tài sản bị trộm cắp 600.000 đồng), chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2021, chấp hành xong án phí ngày 20/11/2020.

- Bản án số 15/2022/HSST ngày 18/02/2022 bị TAND thành phố Bắc Giang xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/9/2022, chấp hành xong án phí ngày 29/6/2022.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2023. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Anh Lương Thanh T1, sinh năm 1993 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

  3. Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1985 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Khu đô thị M - K, phường Đ, Quận H, thành phố Hà Nội;

  5. Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1975 (vắng mặt)
  6. Địa chỉ: Thôn Đ, xã D, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Trần Thị N1, sinh năm 1966 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn Lục Liễu Dưới, xã Hợp Đức, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang

  3. Anh Hoàng Viết C, sinh năm 1985 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

  5. Đàm Thị C1, sinh năm 1964 (vắng mặt)
  6. Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ninh Khánh D, sinh năm 1981 ở thôn R, xã Đ, huyện LHoàng Viết C, sinh năm 1985 ở thôn N, xã T, huyện L quen biết nhau và đều là đối tượng nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp ổn định. Từ ngày 23/8/2023 đến ngày 24/8/2023, Ninh Khánh DHoàng Viết C đã cùng nhau thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 23/8/2023, Hoàng Viết C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM, biển kiểm soát 98M1 - 124.02 của mẹ ruột là bà Đàm Thị C1, sinh năm 1964 ở thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đến nhà Ninh Khánh D mục đích để rủ đi trộm cắp tài sản cùng thì D đồng ý. Khoảng 09 giờ 20 phút cùng ngày, CD nhìn thấy con gà chọi nhốt trong chuồng tại vườn nhà anh Lương Thanh T1, sinh năm 1993, ở thôn Đ, xã D, huyện L. Sau đó, C dừng xe để D xuống đi bộ vào vườn nhà anh T1, thấy không có người trông coi nên D đi thẳng đến khu vực chuồng gà dùng hai tay bắt trộm 01 (một) con gà chọi, màu lông tía rồi ôm chạy ra ngoài đường nơi C đợi sẵn. Sau đó, DC mang đến chợ M thuộc địa bàn thị trấn C, huyện T gặp một người phụ nữ (khoảng 50 tuổi, không quen biết, không rõ địa chỉ cụ thể) đang đứng ở ngã tư gần chợ. D hỏi người phụ nữ này: “Chị mua gà không?” thì người phụ nữ bảo: “Có”. D hỏi mua được giá bao nhiêu thì người phụ nữ đó bảo mua giá 120.000đ/kg, D đồng ý bán và cân con gà được 3,5kg, người phụ nữ trả cho D 420.000 đồng (Bốn trăm hai mươi nghìn đồng). Số tiền trên DC cùng nhau tiêu xài hết.

Vụ thứ hai: Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 24/8/2023, D đang điều khiển xe đạp đi chơi ở thôn T, xã T thì gặp C đi xe mô tô về hướng xã Đ, huyện L. C rủ D đi trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài. D đồng ý rồi đi xe đạp về nhà và lên xe máy của C, C chở D xuống khu vực Chợ N, xã T để xem nhà nào sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi đang đi đến khu dân cư mới Chợ Năm thì C thấy có hai khuôn đổ bê tông bằng sắt của anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1985, trú tại: Khu đô thị M - K, Đ, H, Hà Nội để ở rìa đường, C bảo D: “Có hai hộp sắt đổ bê tông kìa” rồi C dừng xe lại và bảo D: “Xuống lấy đi”. Thấy xung quang không có người đi lại nên D xuống xe bê hai bộ khuôn đổ bê tông lên yên xe mô tô rồi ngồi xe sau ôm hai khuôn đó. C chở D đến cửa hàng thu mua sắt vụn “Cô N1” do bà Trần Thị N1, sinh năm 1966 ở thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Giang để bán. Tại đây, bà N1 cân hai bộ khuôn đổ bê tông được 43kg, với giá 7.000đồng/1kg, bà trả cho DC 300.000 đồng. Số tiền này DC cùng nhau tiêu xài hết.

Vụ thứ ba: Sau khi tiêu xài hết tiền bán khuôn đổ bê tông, khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 24/8/2023, C tiếp tục điều khiển xe mô tô chở D xuống khu vực xã D để xem nhà nào sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi đi qua nhà anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1975 ở thôn Đ, xã D, D nhìn thấy trong nhà anh B có hai khung sắt hình chữ nhật được hàn bằng các thanh sắt dùng để chắn cửa chuồng lợn ở gần cổng. D bảo C: “Đỗ xe lại để vào lấy sắt”, C điều khiển xe đi qua cổng một đoạn rồi đỗ lại. D quan sát xung quanh không có người, cổng không khoá, không có then cài nên đã mở cổng đi vào khu vực chuồng lợn nhà anh B dùng hai tay bê một khung sắt ra đặt ở ngoài cổng, rồi tiếp tục đi vào bê thêm một khung sắt nữa ra ngoài cổng. D bê hai khung sắt đó ra chỗ C đang đợi để lên yên xe rồi C tiếp tục chở D đến cửa hàng thu mua sắt vụn “Cô N1” để bán. Bà Nguyệt cân hai khung sắt trên được 30kg, với giá 7.000 đồng/1kg, bà trả cho DC 210.000 đồng và C xin thêm 10.000 đồng nữa để đổ xăng bà N1 đồng ý. Số tiền này DC đã tiêu xài hết.

Ngày 23/8/2023, anh Lương Thanh T1 đơn trình báo gửi Công an xã D về việc gia đình anh bị kẻ gian trộm cắp 01 con gà chọi. Ngày 24/8/2023, anh Nguyễn Văn B có đơn trình báo gửi Công an xã D về việc gia đình anh bị kẻ gian trộm cắp 02 song sắt chắn chuồng lợn. Ngày 25/8/2023, anh Nguyễn Tuấn A có đơn trình báo gửi Công an xã T về việc anh bị mất 02 khuôn đổ bê tông bằng sắt. Cùng ngày, Ninh Khánh D đến Công an xã D đầu thú về hành vi trộm cắp như đã nêu trên.

Cùng ngày 25/8/2023, Cơ quan điều tra cho D, C xác định địa điểm trộm cắp và địa điểm tiêu thụ tài sản. Kết quả, D, C xác định đúng các địa điểm trộm cắp và tiêu thụ tài sản.

Ngày 25/8/2023, bà Trần Thị N1 giao nộp cho Cơ quan điều tra 02 bộ khuôn đúc bê tông bằng sắt, kích thước (107x42x32x23)cm, tổng khối lượng 43kg, cũ đã qua sử dụng. Hoàng Viết C tự nguyện giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, biển kiểm soát 98M1-124.02 xe cũ đã qua sử dụng. Ngày 30/8/2023, bà Đàm Thị C1 giao nộp 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 005916 của xe mô tô biển kiểm soát 98M1-124.02, chủ xe Đàm Thị C1.

Ngày 29/8/2023, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho D xem lại dữ liệu camera trích xuất tại gia đình anh Lương Thanh T1. Kết quả, D xác định người ôm con gà mặc áo trắng quần xanh trong đoạn vi deo là D còn người đi xe mô tô ở ngoài là C.

Tại Kết luận định giá tài sản tài sản số số 74/KL-HĐĐGTS ngày 29/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện L, kết luận:

“Giá 01 (một) con gà trống chọi, nặng 3,5kg, tại thời điểm ngày 23/8/2023 có giá là 490.000 đồng (Bốn trăm chín mươi nghìn đồng).

Giá 02 (hai) bộ khuôn đúc bê tông bằng sắt, kích thước (107 x 42 x 32 x 23)cm, tổng khối lượng 43kg, cũ đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 24/8/2023 có giá là 344.000 đồng (Ba trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).

Giá 02 (hai) khung kim loại được hàn bởi các thanh sắt dùng để chắn của chuồng lợn, tổng khối lượng 30kg, tại thời điểm ngày 24/8/2023 có giá là 240.000 đồng (Hai trăm bốn mươi nghìn đồng).

Tổng giá trị các tài sản cần định giá là: 1.074.000 đồng (Một triệu không trăm bẩy mươi tư nghìn đồng).”

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Ninh Khánh D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số 116/CT-VKS ngày 08/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Ninh Khánh D về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đính chính một phần nội dung Cáo trạng về tình tiết tăng nặng đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.

4

Xử phạt Ninh Khánh D từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 25/8/2023.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý tiền án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Nhất trí với lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát; bị cáo không tranh luận, không bào chữa cho mình; Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai lưu tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra tại phiên tòa.

[2] Về căn cứ xác định hành vi của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phù hợp với tang vật thu giữ được về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Ninh Khánh D đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xoá án tích. Trong khoảng thời gian từ ngày 23/8/2023 đến ngày 24/8/2023, D đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên đại bàn huyện L, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 23/8/2023, D trộm cắp 01 (một) con gà trống chọi, nặng 3,5kg trị giá 490.000 đồng của gia đình anh Lương Thanh T1, sinh năm 1993, ở thôn Đ, xã D, huyện L.

Vụ thứ hai: Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 24/8/2023, tại khu dân cư mới Chợ Năm thuộc thôn T, xã T, huyện L, D trộm cắp 02 (hai) bộ khuôn đúc bê tông bằng sắt, kích thước (107 x 42 x 32 x 23)cm, tổng khối lượng 43kg, trị giá 344.000 của anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1985, trú tại: Khu đô thị M - K, Đ, H, Hà Nội.

Vụ thứ ba: Khoảng 11 giờ, ngày 24/8/2023, D trộm cắp 02 (hai) khung kim loại dùng để chắn chuồng lợn, tổng khối lượng 30kg, trị giá 240.000 đồng của gia đình anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1975 ở thôn Đ, xã D, huyện L.

Tổng giá trị tài sản D trộm cắp là: 1.074.000 đồng (Một triệu không trăm bẩy mươi tư nghìn đồng).

Hành vi của Ninh Khánh D đủ yếu tố cấu thành của tội trộm cắp tài sản, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Việc bị cáo bị truy tố, xét xử với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo lợi dụng sơ hở của người khác để trộm cắp tài sản nhằm phục vụ cho bản thân. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nêu trên. Do đó cần phải xử lý về hình sự để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Ninh Khánh D phạm tội nhiều lần thuộc tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã ra đầu thú, nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Từ những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo nêu trên. HĐXX xét thấy bị cáo nhân thân xấu đã có tiền án về “Tội trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo là người khó giao dục cải tạo nên bắt bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian cần thiết để giáo dục chung và phòng ngừa riêng.

Về hình phạt bổ sung bằng tiền: Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng, gia đình thuộc hộ nghèo, nên HĐXX miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo, để bị cáo yên tâm cải tạo sớm có điều kiện trở về làm ăn lương thiện.

6

Do bị cáo đang bị tạm giam nên HĐXX Quyết định tạm giam bị cáo theo quy định tại Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự để đảm bảo thi hành án.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh Lương Thanh T1, anh Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Tuấn A và bà Trần Thị N1 không yêu cầu DC phải bồi thường thiệt hại gì nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về vật chứng: Đối với xe mô tô nhãn hiệu SYM, biển kiểm soát 98M1-124.02 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 005916 là của bà Đàm Thị C1, bà C1 không biết việc C sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi trộm cắp tài sản. 02 bộ khuôn đúc bê tông bằng sắt, kích thước (107 x 42 x 32 x 23)cm, tổng khối lượng 43kg, cũ đã qua sử dụng là tài sản của anh Hoàng Tuấn A1. Ngày 31/8/2023, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Đàm Thị C1 và anh Hoàng Tuấn A1 các tài sản trên, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với 01 con gà trống chọi DC trộm cắp của gia đình anh Lương Thanh T1, DC đều không biết tên tuổi, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng của người phụ nữ đã mua nên không thu hồi được; 02 khung kim loại DC trộm cắp của gia đình anh Nguyễn Văn B đã bán cho bà Trần Thị N1, bà N1 đã bán 02 khung kim loại trên cho một người qua đường không quen biết, không nhớ đặc điểm, không biết tên tuổi, địa chỉ nên không thu hồi được, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Đối với các nội dung khác có liên quan trong vụ án: Đối với bà Trần Thị N1, khi CD đến bán tài sản trộm cắp, bà N1 không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có nên không có căn xử lý đối với bà N1 về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác trộm cắp mà có. HĐXX xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với Hoàng Viết C đã cùng Ninh Khánh D thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, C chưa có tiền án, tiền sự gì về hành vi chiếm đoạt tài sản, giá trị tài sản trộm cắp là 1.074.000 đồng. Ngày 23/9/2023, Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 150/QĐ-XP, xử phạt Hoàng Viết C 2.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản HĐXX xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 12; Điều 14; Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Ninh Khánh D vì thuộc đối tượng hộ nghèo.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[10] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xử lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo về tội danh, điều khoản, phân tích về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, xử lý án phí phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt Ninh Khánh D 10 ( mười ) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 25/8/2023.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Điều 12; Điều 14, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Ninh Khánh D.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • -TAND, VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -VKSND, CA, Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • -Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • -Cổng TTĐT Tòa án;
  • -Bị cáo;
  • -UBND nơi bị cáo cư trú;
  • -Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Quỳnh Hoa

8

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 115/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BC Quyet
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger