TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 115/2023/HSST
Ngày: 28/11/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Khuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đặng Thị Lan
- Bà Lại Thị Thúy Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 133/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
Phong Ngọc A, sinh năm 1965 tại Đồng Nai; Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ văn hóa (học vấn): không biết chữ; Dân tộc: hoa; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phong Mành C (đã chết) và bà Thòng Senh T, sinh năm 1948 (còn sống); gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình; Họ và tên chồng: V Và Sáng (đã chết) và có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: không có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2023 đến ngày 23/8/2023 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
Nguyễn Thị Giáng H, sinh năm 1981 tại Đồng Nai; Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: ấp Đ, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: làm rẫy; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1956 (đã chết) và bà Tống Thị H1, sinh năm 1956 (còn sống); gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; Họ và tên chồng Trần Đình Đ, sinh năm 1975 (đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: không có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2023 đến ngày 23/8/2023 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
Lê Thị L, sinh năm 1973 tại Long An; Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: làm rẫy; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T1, sinh năm 1931 (còn sống) và bà Nguyễn Thị G1 (đã chết); gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 6 trong gia đình; Họ và tên chồng: Trần Quốc B (đã chết) và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: không có.
Nhân thân: Ngày 22/6/2020, bị Ủy ban nhân dân huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” với số tiền 1.500.000 đồng, ngày 29/6/2020 chấp hành xong
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2023 đến ngày 23/8/2023 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
Hồ Cấm P, sinh năm 1965 tại Đồng Nai; Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: làm rẫy; Trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; Dân tộc: hoa; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Chềnh P1, sinh năm 1929 (đã chết) và bà Giềnh Cẩm M, sinh năm 1930 (còn sống); gia đình có 07 anh em, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình; Họ và tên vợ Dịp Nhục C1, sinh năm 1983 (đã ly hôn) và có 03 người con: lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: không có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/8/2023 đến ngày 23/8/2023 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
* Người làm chứng: anh Huỳnh Hữu T2, sinh năm 1994 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ, ngày 20/8/2023, các bị cáo Phong Ngọc A, Hồ Cấm P, Lê Thị L và Nguyễn Thị Giáng H tổ chức ăn uống tại nhà của bị cáo Ngọc A thuộc ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, thì cả nhóm rủ nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức “Binh xập xám” với số tiền cược mỗi chi là 20.000 đồng. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi các bị cáo A, P, L, H đang đánh bạc thì bị Công an huyện C, tỉnh Đồng Nai bắt quả tang.
Hình thức đánh bạc như sau: Cả nhóm dùng 01 bộ bài tây 52 lá và 01 chén sứ cùng với 02 hạt xí ngầu. Trong đó, bộ bài tây 52 lá được chia thành 04 tụ, mỗi tụ gồm 13 lá bài; còn 01 chén sứ và 02 hạt xí ngầu thì được cả nhóm sử dụng thả xí ngầu đếm mút bốc bài để tránh gian lận trong khi chia bài. Cụ thể: Sau khi chia bài thì người được kinh bài trong ván đó sẽ được thả xí ngầu, khi ra tổng số điểm từ 02 đến 12 điểm thì người thả xí ngầu sẽ đếm hết tổng số điểm đó trên 04 tụ bài, tổng điểm rơi vào tụ nào thì người thả xí ngầu sẽ chọn tụ đó và lần lượt người ngồi bên cạnh sẽ chọn tụ kế tiếp theo từ phải qua trái. Quá trình đánh bạc thì mỗi người được kinh bài 01 lần và xoay tua đều nhau. Sau khi bốc bài thì người tham gia đánh bạc sẽ xếp thành 03 chi khác nhau. Ở chi đầu có 03 lá bài, chi thứ 02 và chi cuối có 05 lá bài. Sắp xếp liên kết sao cho chi cuối mạnh hơn chi thứ 02, chi thứ 02 mạnh hơn chi đầu. Cụ thể như sau:
- Mậu thầu (tàn tàn): Chi mà các lá bài không liên kết nhau. Nếu các bên đều có mậu thầu thì khi so chi, ai có lá bài cao nhất trong chi mậu thầu thì người đó thắng.
- Dách: 01 đôi.
- Thú: 02 đôi.
- Sám cô: Chi mà có 03 lá bài có cùng giá trị.
- Sảnh: Chi gồm 05 lá bài liền kề và không cần đồng chất, đồng màu.
- Thùng: Chi bài gồm 05 lá đồng chất.
- Cù lũ: Chi gồm 03 lá bài có cùng một giá trị và 02 lá bài còn lại là 01 đôi.
- Thùng phá sảnh: Chi gồm 05 lá bài, thứ tự liên tiếp và đồng chất
- Binh lủng: Là trường hợp chi được sắp xếp sai quy luật.
- Mậu binh: Là các trường hợp 03 chi là 03 sảnh, 03 chi là 03 thùng, 13 lá bài mà có tứ quý (04 lá bài giống nhau), 13 lá bài có Thùng phá sảnh, 13 lá bài trong đó có 06 đôi bất kì và 01 lá bài lẻ.
Theo quy định của các con bạc, thì thứ tự từ lớn xuống nhỏ của các kết hợp bài là: Mậu binh, Cù lũ, T3, S, S1 cô, T4, Đ1, Mậu thầu, B1 lủng. Sau khi binh xong thì tất cả 04 người chơi so bài với nhau. Cụ thể từng người sẽ so bài với ba người còn lại trên chiếu bạc. Số tiền thắng cược và thua cược là dựa trên số chi mà người tham gia đánh bạc thắng và thua sau khi so chi với nhau từ đó tính số tiền thắng thua của mỗi người để chung tiền cược. Đây là hình thức nhiều người đánh bạc với nhau.
Quá trình điều tra xác định số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc như sau:
- Bị cáo Phong Ngọc A sử dụng số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc.
- Bị cáo Nguyễn Thị Giáng H sử dụng số tiền 5.000.000 đồng để đánh bạc.
- Bị cáo Lê Thị L sử dụng số tiền khoảng 2.000.000 đồng để đánh bạc (bị cáo không nhớ chính xác số tiền mang theo).
- Bị cáo Hồ Cấm P sử dụng số tiền 1.100.000 đồng để đánh bạc.
* Vật chứng vụ án:
- Số tiền 9.730.000 đồng (trong đó: 8.730.000 đồng là số tiền thu trên chiếu bạc; 1.000.000 đồng là số tiền thu trên người bị cáo P); 02 bộ bài tây 52 lá; 01 chén sứ; 02 hạt xí ngầu; 01 bàn gỗ hình chữ nhật; 01 tấm vải hình chữ nhật màu xanh lá; 04 cái ghế nhựa màu đỏ. Các vật chứng trên liên quan đến việc đánh bạc, hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ.
Tại Cáo trạng số: 127/CT-VKS-CM ngày 03 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ đã truy tố các bị cáo: Phong Ngọc A, Hồ Cấm P, Lê Thị L, Nguyễn Thị Giáng H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay: Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của các bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phong Ngọc A, Hồ Cấm P, Lê Thị L, Nguyễn Thị Giáng H phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tất cả các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, là lao động chính trong gia đình, số tiền đánh bạc không lớn theo quy định tại điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt các bị cáo: Phong Ngọc A; Hồ Cấm P; Lê Thị L; Nguyễn Thị Giáng H từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
- Về biện pháp tư pháp: đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 9.730.000đ (chín triệu bảy trăm ba mươi ngàn) đồng.
- Vật chứng vụ án: đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tây 52 lá; 01 chén sứ; 02 hạt xí ngầu; 01 bàn gỗ hình chữ nhật; 01 tấm vải hình chữ nhật màu xanh lá; 04 cái ghế nhựa màu đỏ là công cụ dùng vào việc phạm tội.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Phần tranh luận các bị cáo trình bày thống nhất với mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị và không có ý kiến tranh luận gì thêm. Phần trình bày lời nói sau cùng các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, các bị cáo Phong Ngọc A, Hồ Cấm P, Lê Thị L, Nguyễn Thị Giáng H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai này phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 22 giờ ngày 20/8/2023, tại nhà của bị cáo Phong Ngọc A thuộc ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai, các bị cáo P, L, H và Ngọc A có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức “Binh xập xám” được thua bằng tiền, thì bị Công an huyện C, tỉnh Đồng Nai bắt quả tang và thu giữ số tiền 9.730.000 đồng.
Các bị cáo P, L, H và A là những người trực tiếp tham gia đánh bạc. Đối với bị cáo Phong Ngọc A sử dụng nhà của mình để các bị cáo khác đánh bạc nhưng do chưa đủ 10 người trở lên hoặc 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc, đồng thời bị cáo A chưa có tiền án, tiền sự về tội “Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc” nên bị cáo A không phải chịu trách nhiệm hình sự về “Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nhưng bị cáo đồng phạm trong với các bị cáo khác về tội “Đánh bạc”. Nên có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Phong Ngọc A, Hồ Cấm P, Lê Thị L, Nguyễn Thị Giáng H phạm tội “ Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng số 127 ngày 03/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo nhận thấy:
Các bị cáo là công dân đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đầy đủ nhận thức và năng lực hành vi dân sự, các bị cáo nhận thức được đánh bạc là tệ nạn xã hội, dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác như phá tán tài sản, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình và làm phát sinh các hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác như giết người, cướp, trộm cắp tài sản.... việc đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn tham gia đánh bạc. Hành vi của các bị cáo đã ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và nếp sống văn minh của xã hội.
Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong vụ án này các bị cáo P, L, H và Anh đánh bạc tự phát, tất cả các bị cáo đều trực tiếp tham gia đánh bạc, sử dụng số tiền để đánh bạc tương đương nhau, trong đó bị cáo A sử dụng 1.500.000 đồng, bị cáo H sử dụng 5.000.000 đồng, bị cáo L sử dụng 2.000.000 đồng, bị cáo P sử dụng 1.100.000 đồng nên vai trò của các bị cáo là ngang nhau và phải chịu mức hình phạt tương đương nhau.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo A không biết chữ nên phần nào hạn chế đến khả năng nhận thức; các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình; bị cáo L hiện đang phải nuôi cha già trên 80 tuổi; số tiền các bị cáo đánh bạc không lớn là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú và việc làm ổn định, có khả năng tự cải tạo. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần phạt tiền cũng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội, cho các bị cáo cơ hội để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, tạo điều kiện cho các bị cáo chăm sóc gia đình.
[7] Về biện pháp tư pháp:
Số tiền 9.730.000 đồng đây là tiền dùng vào việc thực hiện tội phạm nên tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước.
[8] Về xử lý vật chứng: 02 bộ bài tây 52 lá; 01 chén sứ; 02 hạt xí ngầu; 01 bàn gỗ hình chữ nhật; 01 tấm vải hình chữ nhật màu xanh lá; 04 cái ghế nhựa màu đỏ là công cụ dùng vào việc phạm tội, xét thấy không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ về đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và mức án đề nghề nghị phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố các bị cáo Phong Ngọc A, Hồ Cấm P, Lê Thị L, Nguyễn Thị Giáng H phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- + Xử phạt: Bị cáo Phong Ngọc A: 30.000.000đ (ba mươi triệu) đồng.
- + Xử phạt: Bị cáo Hồ Cấm P: 30.000.000đ (ba mươi triệu) đồng.
- + Xử phạt: Bị cáo Lê Thị L: 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu) đồng.
- + Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Giáng H: 35.000.000đ (ba mươi lăm triệu) đồng.
Về biện pháp tư pháp và vật chứng vụ án: căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
- + Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 9.730.000đ (chín triệu bảy trăm ba mươi ngàn) đồng.
- + Tuyên tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài tây 52 lá; 01 chén sứ; 02 hạt xí ngầu; 01 bàn gỗ hình chữ nhật; 01 tấm vải hình chữ nhật màu xanh lá; 04 cái ghế nhựa màu đỏ.
(Các vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/11/2023 và theo Biên lai thu tiền số 0009802 ngày 03/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai).
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ Luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phong Ngọc A, Hồ Cấm P, Lê Thị L, Nguyễn Thị Giáng H mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Khuyên |
Bản án số 115/2023/HSST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 115/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phong Ngọc A và đồng phạm, phạm tội đánh bạc
