Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HS-ST

Ngày: 27-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Hiếu Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Hồng Hải;
  2. Ông Nguyễn Văn Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Nam Bắc - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 111/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Hà Thế V (tên gọi khác: B), sinh ngày: 11/11/1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số F N, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: Số B V, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Phụ hồ; Trình độ học vấn: 01/12, con ông: Hà Thế D (sinh năm 1971) và bà: Nguyễn Thị H (sinh năm 1972).

Tiền án: Ngày 19/7/2011 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 88/2011/HSST ngày 19/7/2011, chấp hành án đến ngày 07/01/2012 hết án tha, chưa nộp lại số tiền 3.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.

Tiền sự: Ngày 09/12/2021 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý cai nghiện đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 21 tháng theo Quyết định số 99/QĐ-CSCNBB-TA ngày 09/12/2021.

Nhân thân: Ngày 11/7/2013 bị Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 61/2013/HSST ngày 11/7/2013. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm y án sơ thẩm theo Bản án số 662/2013/HSPT ngày 20/9/2013, chấp hành án đến ngày 26/4/2018 hết án tha, chấp hành xong án phí ngày 13/3/2014.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/5/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Tô Chí H1 (tên gọi khác: Không có), sinh ngày: 18/12/1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B V, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: Số B V, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Tô A S (đã chết) và bà: Trịnh Ngọc L (sinh năm 1958); Hoàn cảnh gia đình: Vợ Nguyễn Thị Thu T (sinh năm 1998), 01 con sinh năm 2023; Tiền sự: Không có.

Tiền án: Ngày 10/9/2013 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 106/2013/HSST ngày 10/9/2013, chấp hành án đến ngày 21/7/2015 hết án tha, chưa thi hành hình phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng.

Nhân thân:

  • Ngày 16/11/2010 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 157/2010/HSST ngày 16/11/2010, chấp hành án đến ngày 16/11/2011 hết án tha, đã chấp hành xong án phí.
  • Ngày 12/7/2017 bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 75/2017/HSST ngày 12/7/2017, chấp hành án đến ngày 10/11/2020 hết án tha, đã chấp hành xong án phí.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/5/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Tiêu Chí N (tên gọi khác: Không có), sinh ngày: 19/12/1998 tại Tp .; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: : I3-24.7 IRIS 3, HaDo Centrosa, số B đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: Số B V, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông Tiêu Lương T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim O (sinh năm 1973); Hoàn cảnh gia đình: Vợ Huỳnh Cẩm T2 (sinh năm 2003), có 01 con sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân: Ngày 10/10/2017 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý cai nghiện đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng theo Quyết định số 105/QĐ-TA ngày 10/10/2017.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/5/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Quách Thị Thanh N1, sinh năm 2000 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số A Â, Phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 01/5/2024, Hà Thế V (tên gọi khác B), gọi điện thoại cho Tô Chí H1 rủ đi cướp giật tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, H1 đồng ý. H1 điều khiển xe môtô biển số: 59U2 – 410.33 qua nhà V và giao xe môtô biển số: 59U2 – 410.33 của H1 cho V điều khiển chở H1 đi qua nhiều tuyến đường trên địa bàn Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm người có tài sản sở hở chiếm đoạt. Khi cả hai đi đến trước số A N, Phường F, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh Vũ nhìn thấy chị Quách Thị Thanh N1 đang dừng xe sử dụng điện thoại Iphone 13; V nói cho H1 biết và quay đầu xe lại chạy áp sát chị N1; H1 ngồi sau dùng tay phải giật chiếc điện thoại của chị N1; V tăng ga xe chở H1 tẩu thoát ra hướng đường N. Xe của chị N1 ngã xuống đường, chị N1 chạy bộ đuổi theo nhưng không kịp. Sau khi được tài sản, cả hai về nhà H1, sau đó V đi về nhà. H1 gọi điện thoại cho Tiêu Chí N, nói cho N biết mới giật được chiếc điện thoại hiệu Iphone 13 và hỏi N có mua không. N đồng ý mua và yêu cầu H1 mang qua nhà của N, tại số B V, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, H1 qua nhà V nói V chở H1 qua nhà N bán điện thoại chiếm đoạt được. V chở H1 đến nhà N và đưa chiếc điện thoại Iphone 13 bán với giá 2.500.000 đồng, N đồng ý và đưa 2.500.000 đồng cho H1. H1 chia cho V số tiền 1.250.000 đồng.

Sau khi bị chiếm đoạt điện thoại, chị Quách Thị Thanh N1 đến Công an P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo. Sự việc được lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q điều tra theo thẩm quyền.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh đã yêu cầu định giá tài sản, Kết luận định giá tài sản số 1221/KL-HĐĐGTS ngày 27/6/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận A kết luận: “01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone 13 màu hồng, hàng chính hãng, phiên bản quốc tế, dung lượng 128GB trị giá 10.800.000 đồng”.

Qua điều tra truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q bắt được Hà Thế V, Tô Chí H1 và Tiêu Chí N.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, các bị cáo Hà Thế V, Tô Chí H1 và Tiêu Chí N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Tiêu Chí N đã nộp lại chiếc điện thoại di động của chị N1 đã mua từ hai bị cáo H1, V. Số tiền chia nhau từ việc bán điện thoại, H1 và V đã tiêu xài hết. Lời khai nhận tội của các bị can phù hợp với camera ghi nhận vụ việc, biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản nhận dạng, biên bản đối chất và các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q thu thập được.

Tài sản, vật chứng thu giữ:

  • 01 điện thoại di động Iphone 14, ProMax, I - là tài sản bị cáo N sử dụng vào việc phạm tội.
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A21s, số imel 351662616407211 - là tài sản bị cáo H1 sử dụng vào việc phạm tội.
  • 01 điện thoại di động realme C11, số imel 869150052526970 - là tài sản bị cáo V sử dụng vào việc phạm tội.
  • 01 áo thun ngắn tay màu cam, 01 quần sọt jean màu đen, 01 đôi dép quai ngang màu trắng – đen là trang phục bị cáo H1 mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
  • 01 áo thun ngắn tay màu đen phía trước có chữ Adidas, 01 quần sọt jean màu đen, 01 nón bảo hiểm màu xám – là trang phục bị cáo Vũ mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.

  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13, màu hồng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả cho chị Quách Thị Thanh N1.
  • 01 xe môtô Wave biển số: 59U2 – 410.33, số máy: JA39E1612377; số khung: 3914LY274001. Qua xác minh do ông Tô Chí H2, cư ngụ: 233/21 đường V, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, là em ruột của bị cáo H1 làm chủ sở hữu. Vào cuối tháng 4/2024, H2 cho Tô Chí H1 mượn xe làm phương tiện đi lại, việc H1 sử dụng xe làm phương tiện phạm tội ông H2 không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý vật chứng trả lại xe cho ông Tô Chí H2.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Quách Thị Thanh N1 không có yêu cầu gì.

Tại bản Cáo trạng số 107/CT-VKSQ10 ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Hà Thế V, Tô Chí H1 về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Truy tố Tiêu Chí N về tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • Các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, bị hại, nêu lên tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tình tiết tăng nặng của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
  • Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Hà Thế V mức án từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; Phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
  • Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Tô Chí H1 mức án từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; Phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Tiêu Chí N mức án từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Hà Thế V, Tô Chí H1, Tiêu Chí N không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật

[2] Tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của các bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 01/5/2024, tại trước số A N, Phường F, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Thế V điều khiển xe môtô biển số: 59U2-410.33 chở Tô Chí H1 ngồi sau, công khai, bất ngờ giật chiếc điện thoại di động Iphone 13 màu hồng, trị giá 10.800.000 đồng của chị Quách Thị Thanh N1, rồi nhanh chóng tuẩn thoát. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội về tội "Cướp giật tài sản" theo Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Trong vụ án này các bị cáo đã sử dụng xe gắn máy là phương tiện thực hiện hành vi cướp giật cho thấy thủ đoạn nguy hiểm khi phạm tội, cho nên các bị cáo phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đối với bị cáo Tiêu Chí N biết rõ chiếc điện thoại là do các bị cáo H1 và V phạm tội mà có nhưng vì mục đích vụ lợi, bị cáo N vẫn đồng ý mua với giá 2.500.000 đồng nên bị cáo Tiêu Chí N bị truy tố và xét xử về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hành vi phạm tội của các bị cáo rất táo bạo, liều lĩnh và xem thường pháp luật. Vì để có tiền tiêu xài nên bị cáo cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác với thủ đoạn nguy hiểm, nhanh chóng và bất ngờ. Xét đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, bị cáo V là người rủ rê, giúp sức chở bị cáo H1 tiếp cận bị hại để thực hiện hành vi phạm tội và tẩu thoát; bị cáo H1 là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an và an toàn xã hội; xâm hại đến tài sản hợp pháp của người bị hại. Do vậy hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương. Ngoài ra áp dụng khoản 5 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt bổ sung bị cáo V và H1 một khoản tiền nộp ngân sách nhà nước.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Hà Thế V, Tô Chí H1 chưa được xoá án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo N có thêm tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tương ứng với từng bị cáo để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Ngoài ra bị cáo Tiêu Chí N phạm tội lần đầu nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Đối với số tiền các bị cáo Hà Thế V và Tô Chí H1 thu lợi bất chính được từ việc bán điện thoại, mỗi người là 1.250.000 đồng. Xét thấy đây là số tiền liên quan đến việc phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính của các bị cáo.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

- Tịch thu, sung nộp ngân sách Nhà nước:

  • 01 điện thoại di động Iphone 14, ProMax, I - là tài sản bị cáo N sử dụng vào việc phạm tội.
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A21s, số imel 351662616407211 - là tài sản bị cáo H1 sử dụng vào việc phạm tội.
  • 01 điện thoại di động realme C11, số imel 869150052526970 - là tài sản bị cáo V sử dụng vào việc phạm tội.

- Tiêu hủy:

  • 01 áo thun ngắn tay màu cam, 01 quần sọt jean màu đen, 01 đôi dép quai ngang màu trắng – đen là trang phục bị cáo H1 mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
  • 01 áo thun ngắn tay màu đen phía trước có chữ Adidas, 01 quần sọt jean màu đen, 01 nón bảo hiểm màu xám – là trang phục bị cáo Vũ mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.

[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm d khoản 2, khoản 5 Điều 171; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Hà Thế V 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/5/2024.

Phạt bổ sung bị cáo Hà Thế V số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.

Xử phạt: Tô Chí H1 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/5/2024.

Phạt bổ sung bị cáo Tô Chí H1 số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; Điều 17; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Tiêu Chí N 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/5/2024.

Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015

Tịch thu, sung nộp ngân sách Nhà nước:

  • 01 điện thoại di động Iphone 14, ProMax, Imel 356703850953612.
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A21s, số imel 351662616407211.
  • 01 điện thoại di động realme C11, số imel 869150052526970.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính của các bị cáo Hà Thế V, Tô Chí H1, mỗi bị cáo là 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng. Các bị cáo có trách nhiệm nộp lại.

Tiêu hủy:

  • 01 áo thun ngắn tay màu cam, 01 quần sọt jean màu đen, 01 đôi dép quai ngang màu trắng – đen.
  • 01 áo thun ngắn tay màu đen phía trước có chữ Adidas, 01 quần sọt jean màu đen, 01 nón bảo hiểm màu xám.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/8/2024)

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Buộc các bị cáo mỗi người phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

2. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM (1)
  • - VKSND Quận 10; (2)
  • - Công an Quận 10; (1)
  • - Chi cục THADS Quận 10; (1)
  • - Người tham gia tố tụng; (4)
  • - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (11)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Hiếu Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 115/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hà Thế Vũ và đồng phạm bị VKSND Q10 truy tố về tội Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger