TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 115/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25/9/2024 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đại Minh và bà Lê Thị Đông Nguyệt
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hưng- Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 241/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 về việc tranh chấp “Ly hôn”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 86/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Thanh N, sinh năm 1995
- Bị đơn: Anh Lê Bích H, sinh năm 1990
Đều ở tại: G N, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên
Chị N có mặt, anh H vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Phan Thị Thanh N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi với anh H tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T và được Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 09/5/2017. Từ lúc kết hôn đến nay, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng nguyên nhân là anh H thường xuyên say xỉn, khi về nhà thì gây sự hăm dọa và nhiều lần đánh đập tôi trước mặt các con. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hạnh phúc. Tôi cảm thấy giữa hai vợ chồng không còn tình cảm và không thể sống chung với nhau được. Nay tôi yêu cầu Tòa án cho tôi được ly hôn với anh H.
Về con chung: Vợ chồng chúng tôi có 02 con chung: cháu Lê Phan Minh H1, sinh ngày 19/01/2018 và cháu Lê Kim Xuân T, sinh ngày 17/02/2022. Sau khi ly hôn, tôi sẽ trực tiếp nuôi cháu T; anh H sẽ trực tiếp nuôi cháu H1 và các bên không phải cấp dưỡng nuôi con.
Nợ chung và tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đã tiến hành hòa giải nhưng không được.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với bị đơn anh H; được trực tiếp nuôi 02 con chung và yêu cầu bị đơn anh H cấp dưỡng nuôi 02 cháu với mức 3.000.000 đồng/tháng/02 cháu; nợ chung và tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng; việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát cùng cấp và người tham gia tố tụng đúng theo quy định. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định về quyền, nghĩa vụ và nội quy phiên tòa. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng đều vắng mặt nên phải gánh chịu hậu quả pháp lý do vắng mặt và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của nguyên đơn chị N; giao 02 con chung cho chị N trực tiếp nuôi sau ly hôn; bị đơn anh H phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật; tài sản chung và nợ chung do không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết. Nguyên đơn chị N và bị đơn anh H phải chịu án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh H vắng mặt đến lần thứ hai nhưng không có lý do mặc dù đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[2] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị N:
Tại phiên tòa, chị N trình bày lý do yêu cầu ly hôn là vì bị anh H bạo lực gia đình, thường xuyên đánh chị N dẫn đến gia đình không hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài.
Tại biên bản xác minh ngày 29/8/2024, ông Nguyễn Văn C- Khu phố trưởng khu phố A phường P cung cấp: “Khu phố chỉ nắm được thông tin vợ chồng anh H chị N thuê nguyên căn nhà ông Huỳnh Trọng N1 tại G N, phường P để sinh sống và mở tiệm làm móng và tóc; còn tình trạng hôn nhân mâu thuẫn như thế nào thì khu phố không nắm được”.
Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng nhưng bị đơn anh H vẫn không có mặt, cho thấy bị đơn anh H cố ý bỏ mặc cho hôn nhân của mình và bị đơn anh H phải gánh chịu hậu quả pháp lý từ việc vắng mặt của mình.
Hội đồng xét xử có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân của chị N anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị N.
[3] Về con chung: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị N đề nghị trực tiếp nuôi cả hai cháu sau khi ly hôn. Xét, hiện nay cháu H1 (06 tuổi) và cháu T (03 tuổi) đang ở với chị N, do chị N trực tiếp chăm sóc nên rất cần sự yêu thương chăm sóc của người mẹ. Mặt khác, bị đơn anh H liên tục vắng mặt mặc dù đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng. Do đó Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị N, giao 02 con chung cho chị N trực tiếp nuôi sau khi ly hôn.
[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng và mức cấp dưỡng:
[4.1] Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Bị đơn anh H không trực tiếp nuôi con nên phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
[4.2] Tại phiên tòa, nguyên đơn chị N yêu cầu anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với mức 3.000.000 đồng/tháng/02 cháu vì mức thu nhập của anh H từ 7.000.000 đồng/tháng đến 8.000.000 đồng/tháng. Khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”. Xét, việc chị N nêu anh H mức thu nhập của anh H khoảng từ 7.000.000 đồng/tháng đến 8.000.000 đồng/tháng nhưng không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh trong khi đó tại Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2024 của Chính phủ quy định về mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với thành phố T (vùng III) là 3.860.000 đồng/tháng. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ buộc bị đơn anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với mức 2.000.000 đồng/cháu.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nguyên đơn chị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và bị đơn anh H phải chịu 300.000 đồng.
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 91, khoản 4 Điều 147, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Phan Thị Thanh N về việc yêu cầu ly hôn với anh Lê Bích H. Chị Phan Thị Thanh N được ly hôn với anh Lê Bích H.
- Về con chung: giao cháu Lê Phan Minh H1, sinh ngày 19/01/2018 và cháu Lê Kim Xuân T, sinh ngày 17/02/2022 cho nguyên đơn chị Phan Thị Thanh N trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Buộc bị đơn anh Lê Bích H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi một (01) con chung, mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng/cháu; thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật; nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt trong các trường hợp được quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình
- Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Buộc nguyên đơn chị Phan Thị Thanh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đã nộp đủ tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002631 ngày 18/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa nên không phải nộp thêm. Buộc bị đơn anh Lê Bích H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Minh Tâm |
Bản án số 115/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về ly hôn
- Số bản án: 115/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
