Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HS-ST

Ngày: 24-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Đào

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Hồng Thanh
  2. Bà Lê Ngọc Lan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tiến Danh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Như T, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 128/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn số 2024/HSST-QĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

PHẠM VĂN LÀNH

(tên gọi khác: không có), sinh năm 1975, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không có nghề nghiệp ổn định; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Văn N, sinh năm 1939 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1941; Gia đình bị cáo có 07 chị em, bị cáo là con thứ 6 trong gia đình; có vợ Trần Thu V, sinh năm 1981, bị cáo có 02 đều sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1972; Nơi cư trú: khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1941; Nơi cư trú: khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn L và ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1972, trú tại: tổ A, khu phố R, phường B, thành phố L có mối quan hệ anh em họ hàng với nhau (ông Đ là anh họ của bị cáo L).

1

Vào chiều ngày 13/10/2023, ông Đ mang theo rượu đến nhà bị cáo L để uống. Đến khoảng 21 giờ 40 cùng ngày thì ông Đ và bị cáo L xảy ra tranh cãi do đã uống nhiều rượu, mất kiểm soát trong lời nói, cho rằng L là vai em nhưng cãi lại mình nên ông Đ dùng tay đấm vào đầu L một cái, L hỏi sao lại đánh tôi thì ông Đ nói “đánh cho mày chết luôn”, đồng thời tiếp tục vỗ vào cổ khiến L ngã xuống nền nhà. Bức xúc vì bị ông Đ đánh nên khi ngã xuống Lành đã lấy được con dao làm bếp dài 30 cm (cán gỗ, lưỡi sắt) để trên nền nhà, gần chỗ bị cáo đang ngồi uống rượu chém ông Đ nhiều nhát gây thương tích ở vùng đầu, cung mày, gò má, cằm và quanh mắt phải. Thấy ông Đ bị thương chảy nhiều máu, ngã gục xuống nền nhà thì L không đánh nữa và gọi người thân đến đưa ông Đ đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ1. Sau đó, bà Nguyễn Thị H (mẹ ruột của L) đã bảo người nhà trình báo sự việc cho Công an phường B biết để xử lý.

Theo Giấy chứng nhận thương tích số 1840/CN- BV ngày 06/12/2023, của Bệnh viện Đ1, thể hiện ông Nguyễn Văn Đ vào viện lúc 22 giờ 22 phút ngày 13/10/2023, ra viện lúc 14 giờ ngày 20/10/2023, có những thương tích sau :

  • 01 vết thương đỉnh kích thước 03 cm x 01cm x 01 cm.
  • 02 vết thương cung mày phải kích thước 06cm x 0,5cm x 0,5 cm.
  • 02 vết thương gò má phải kích thước 04cm x 0,2cm x 0,1cm và kích thước 04cm x 0,2cm x 0,1 cm
  • 01 vết thương má – cằm phải kích thước 05 cm x 0,5cm x 0,7 cm.
  • Sưng nề quanh mắt phải kích thước 04cm x 02cm .

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1145/ KLTTCT-TTPYĐN, của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận: tỷ lệ thương tật của ông Nguyễn Văn Đ như sau:

  • Sẹo vùng đỉnh kích thước 03 x 0,2 cm. Tỷ lệ : 01%.
  • Sẹo vết thương vùng cung mày phải đến bên phải tháp mũi kích thước 6,5 x 0,2cm. Tỷ lệ : 06%.
  • Sẹo gò má phải kích thước 1,5 x 0,2cm. Tỷ lệ 03%.
  • Vết biến đổi sắc tố da dưới gò má phải. Tỷ lệ 01 %.
  • Sẹo vết thương vùng má cằm phải ( từ cành ngang phải lên vùng cằm phải đến bên phải) kích thước 5,8 x 0,2cm. Tỷ lệ : 06%.
  • Chấn động não đã điều trị ổn định. Tỷ lệ 02%

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT- BYT ngày 28/08/2019, Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn Đ - 1972 tại thời điểm giám định là 18% ( Mười tám phần trăm), áp dụng theo phương pháp cộng thông tư Vật gây thương tích là vật sắc nhọn.

Vật gây thương tích đầu mặt: vật sắc .

Vật gây chấn thương mắt phải: vật tày.

2

Trong quá trình điều tra, bị cáo L đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, nguyên nhân dẫn đến vụ án bị hại cũng có 01 phần lỗi, được người bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt.

Vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã thu giữ 01 con dao cán gỗ, lưỡi kim loại, dài 30cm, hiện đang tạm giữ để phục vụ công tác xét xử.

Về phần dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo L đã tác động gia đình bồi thường tiền thuốc men, viện phí cho ông Đ số tiền 10.000.000đ, ông Đ đã nhận đủ tiền và không yêu cầu Phạm Văn L bồi thường thêm, nên không xem xét.

Tại Bản Cáo trạng số 113/CT-VKS-LK ngày 26-6-2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo Phạm Văn L về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố và không tham gia tranh luận về tội danh, khung hình phạt.

Bị hại ông Nguyễn Văn Đ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh phát biểu quan điểm luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Phạm Văn L phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao cán gỗ, lưỡi kim loại, dài 30cm.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng như sau: Lúc bị cáo phạm tội do bị cáo đã uống rượu quá nhiều nên không kiềm chế được hành vi, bình thường giữa bị cáo và bị hại rất hòa thuận, không có mâu thuẫn gì, bị cáo rất ân hận về hành vi của mình, sau khi bị cáo bị tai nạn giao thông vào năm 2017 sức khỏe của bị cáo giảm sút nên bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo L khai nhận:

Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 13/10/2023, tại tổ A, khu phố R, phường B, thành phố L, do xảy ra mâu thuẫn trong lúc ăn uống, không kiềm chế được cảm xúc nên bị cáo Phạm Văn L đã dùng dao (dài khoảng 30cm) chém nhiều nhát vào vùng mặt của ông Nguyễn Văn Đ gây tổn thương cơ thể cho ông Đ là 18%. Hành vi bị cáo dùng dao lưỡi kim loại là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 18% đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

[3] Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do không kiềm chế được cảm xúc nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi của bị cáo gây ra.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường cho bị hại; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; bị cáo từng bị tai nạn giao thông nên hiện nay sức khỏe giảm sút, sống phụ thuộc vào gia đình; nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội cũng có một phần lỗi của bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Vì vậy, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, mà cho bị cáo được hưởng án treo, có thời gian thử thách cũng đảm bảo tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và cũng không ảnh hướng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường tiền thuốc, tiền viện phí cho bị hại, bị hại đã nhận đủ tiền và không yêu cầu gì thêm nên không xét.

[8] Về vật chứng: 01 con dao cán gỗ, lưỡi kim loại, dài 30cm là hung khí bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án, nên phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[10] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đề xuất mức hình phạt phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 khoản Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn L phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Phạm Văn L cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp bị cáo L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Tịch thu tiêu hủy 01 con dao cán gỗ, lưỡi kim loại, dài 30cm.

    (Vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/7/2024).

  3. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND thành phố Long Khánh;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TPLK;
  • - CQTHAHS Công an thành phố Long Khánh;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Đào

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 115/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger