|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 115/2024/HS-ST
Ngày 23-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Tấn Chỉnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Từ Văn Ân; ông Đặng Hữu Tú.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Nhật Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Tự P, sinh năm 1984; tại: Đ, Quảng Nam; nơi thường trú: Khối phố T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Lê Tự K, sinh năm 1947 và bà Trần Thị N, sinh năm 1956; gia đình bị cáo có 04 người con, bị cáo là con thứ 04; bị cáo có vợ Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm 1985, có 03 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2013.
Tiền sự: Không.
Tiền án:
- - Ngày 29-3-2019, bị Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Ngày 30-9-2021, bị Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam xử phạt 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Nhân thân: Ngày 18-6-2021, bị Công an thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03-4-2024, chuyển tạm giam từ ngày 12-4-2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Bị hại: Bà Võ Thị T, sinh năm 1989, trú tại: Thôn B, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm 1985, trú tại: Khối phố T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 02-4-2024, Lê Tự P điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen, biển kiểm soát: 92 D1-812.14 đi từ xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng về gần đến cầu B thuộc thôn B, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam thì quay đầu xe đi ngược ra lại tìm quán uống nước. Khi đến gần nhà thờ tộc P1 (đối diện đường ray xe lửa thuộc thôn B, xã Đ) thì P dừng xe lại và đi bộ vào nhà chị Võ Thị T. Khi P vào trong thì thấy cửa sắt giữa nhà mở cửa, không có người, P đi tiếp sang phòng bên phải theo hướng từ ngoài nhìn vào thì có anh Lâm Quang T1 (là chồng chị T) nằm ngủ trên nền nhà, phía bên trái anh T1 có 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A50s để trên nền nhà, P nảy sinh ý định trộm cắp nên P bỏ dép ở ngoài, lén lút đi vào dùng tay phải trộm lấy điện thoại di động nói trên bỏ vào trong túi quần bên phải rồi đi ra ngoài. Ngay lúc này, chị Võ Thị T từ phía nhà sau đi lên thấy P cầm điện thoại giống điện thoại của chị T nên hô hoán thì P đi nhanh ra ngoài để điều khiển xe mô tô tẩu thoát. Chị T chạy theo dùng tay nắm lấy tay áo P giữ lại và giằng co qua lại với P, P ngồi lên xe rồi dùng chân đạp vào đùi chị T để tẩu thoát, lúc này chị T vẫn cầm tay dắt phía sau xe kéo lại thì P điều khiển xe tăng ga làm chị T té ngã xuống đường bê tông. P điều khiển xe mô tô tẩu thoát về hướng thôn B - thôn H, xã Đ rồi về nhà tại khối phố T, phường Đ, thị xã Đ. Khi về nhà, P cất giấu điện thoại di động vừa trộm cắp được trên máy phát điện ở nhà dưới, phía trên có ván gỗ đè lên điện thoại vừa trộm cắp. Ngày 03-4-2024, khi Cơ quan Công an đến làm việc, Lê Tự P đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Kết luận định giá tài sản số 39/HĐ.ĐG ngày 11-4-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thị xã Đ xác định: 01 ĐTDĐ hiệu Samsung A50S, bộ nhớ trong 64 GB, số kiểu máy: SM-A507FN/DS, số seri: R58M05GTYDD (mua cũ vào tháng 11/2023 với giá 3.500.000 đồng) trị giá 2.100.000 (Hai triệu, một trăm nghìn) đồng.
Vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ và xử lý các vật chứng sau: 01 xe mô tô hiệu Exciter, màu đỏ đen, BKS 92D1-812.14; 01 đôi dép, màu đen, cỡ 42 có chữ AH 002. 01 ĐTDĐ hiệu S A50S, 64 GB, số kiểu máy: SM-A507FN/DS, số seri: R58M05GTYDD, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã trao trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Võ Thị T.
Về dân sự: Chị Võ Thị T đã nhận lại tài sản mà Lê Tự P đã trộm cắp và không có yêu cầu gì thêm về dân sự. Ngày 15-5-2024, chị T có đơn xin bãi nại và giảm nhẹ hình phạt cho Lê Tự P.
Cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Lê Tự P về tội “Trộm cắp tài sản” theo các điểm đ, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Tự P về tội "Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điểm đ, g khoản 2 Điều 173; các điểm s, h khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Tự P từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 03 (Ba) năm tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định được:
Bị cáo Lê Tự P đã tái phạm, chưa được xóa án tích nhưng khoảng 13 giờ ngày 02-4-2024 tại nhà chị Võ Thị T thuộc thôn B, xã Đ, thị xã Đ, Lê Tự P đã lén lút chiếm đoạt của chị T một điện thoại di động hiệu S A50S có trị giá theo kết quả định giá là 2.100.000 (Hai triệu, một trăm nghìn) đồng. Khi bị chị T phát hiện, hô hoán P ra xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen, biển kiểm soát: 92 D1-812.14 tẩu thoát thì bị chị T đuổi theo giằng co giữ P lại, trong lúc giằng co P đã hành hung chị T, dùng chân đạp vào người chị T rồi tăng ga tẩu thoát làm chị T té ngã xuống đường.
Xét kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự hiện hành, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Tự P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với các tình tiết định khung hình phạt “Hành hung để tẩu thoát” và “Tái phạm nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm đ, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn đã truy tố bị cáo Lê Tự P với tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[2.2] Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Tài sản bị chiếm đoạt đã được trả lại cho bị hại. Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có 03 con đang là học sinh, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s, h khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[2.3] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ
5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét, bị cáo không thu lợi bất chính nên không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[2.4] Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng:
[2.4.1] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Thị T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4.2] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 xe mô tô hiệu Exciter, màu đỏ đen, BKS 92D1-812.14, quá trình điều tra xác định bị cáo đứng tên đăng ký xe vào ngày 27-01-2021. Xe mô tô BKS 92D1-812.14 là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên là tài sản chung của bị cáo với vợ là bà Nguyễn Thị Cẩm V1. Quá trình tố tụng xác định bà V1 không biết bị cáo dùng xe để đi thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, bị cáo đã sử dụng xe mô tô hiệu Exciter, màu đỏ đen, BKS 92D1-812.14 làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với xe mô tô nêu trên.
- Trường hợp bà Nguyễn Thị Cẩm V (Vợ bị cáo P) có tranh chấp về quyền sở hữu hoặc yêu cầu bồi thường phần giá trị của tài sản chung mà bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội thì được giải quyết trong vụ án khác.
- - Đối với 01 đôi dép, màu đen, cỡ 42 có chữ AH 002 của bị cáo Lê Tự P không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[2.5] Về án phí: Bị cáo Lê Tự P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điểm đ, g khoản 2 Điều 173; các điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Lê Tự P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Tự P 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 03 tháng 4 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) xe mô tô hiệu Exciter, màu đỏ đen, biển kiểm soát 92D1-812.14.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép, màu đen, cỡ 42 có chữ AH 002.
- (Vật chứng hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23-7-2024).
Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Tự P phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23-8-2024).
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hứa Tấn Chỉnh |
Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 115/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
