|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 115/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 23-8-2023
V/v “Tranh chấp về ly hôn; nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Linh;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thanh;
2. Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Minh Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 565/2022/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 11 năm 2022 về việc: "Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/7/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Thái Thị M, sinh năm 1997 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Cư trú: 42, khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Anh Trần M1, sinh năm 1991 (vắng mặt);
Cư trú: Tổ 30, ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Thái Thị M trình bày.
Chị và anh Trần M1 chung sống năm 2016, hôn nhân do tự tìm hiểu quen biết nhau, xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã A ngày 16/5/2016. Sau khi cưới vợ chồng lên Bình Dương làm công nhân, năm 2019 chị về quê cất nhà cho mẹ chồng, do sau đó xích mích với mẹ chồng nên vợ chồng tiếp tục quay lại Bình Dương vào năm 2021. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Anh M1 nhậu về kiếm chuyện chửi và đánh chị nên không thể hàn gắn tình cảm, sống không còn hạnh phúc. Đến tháng 6/2022 chị cùng con bỏ về nhà cha mẹ ruột sống nên vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nhận thấy chị và anh M1 không thể tiếp tục sống chung được nữa, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Thái Thị M yêu cầu được ly hôn với anh Trần M1.
Quá trình chung sống chị và anh M1 có Có 01 con chung tên Trần Thái M2, sinh ngày 16/12/2017; Hiện con chung đang sống chung với chị M, sau khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh M1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Do bận đi làm công nhân ở tỉnh Bình Dương, điều kiện đi tới lui rất khó khăn nên chị xin được vắng mặt tại các phiên xét xử tại Tòa án.
* Đối với bị đơn anh Trần M1: Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến gia đình nhằm tạo điều kiện hòa giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa hai người nhưng anh M1 đều vắng mặt không lý do. Tại Biên bản xác minh ngày 07/7/2023 thể hiện anh Trần M1 có nơi cư trú tại ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; Tòa án không tiến hành lấy được lời khai của anh M1 do anh không có mặt tại nhà vào thời điểm Tòa án đến và không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Thái Thị M.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn: Chị Thái Thị M có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn anh M1: Vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần các văn bản tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, các đương sự cũng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thái Thị M, giải quyết cho chị M được ly hôn với anh Trần M1; về con chung: Tiếp tục giao cháu Thái M2 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, anh M1 không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị M không yêu cầu; về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị M phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Chị Thái Thị M và anh Trần M1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 16 tháng 5 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Nay vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nên chị M yêu cầu ly hôn với anh Trần M1. Anh Trần M1 có hộ khẩu thường trú ở ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ theo quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Về sự có mặt của đương sự: Chị Thái Thị M có đơn xin xét xử vắng mặt, xét đơn của chị M hợp lệ nên được chấp nhận. Riêng anh Trần M1 là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh vẫn vắng mặt không lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình được pháp luật bảo vệ nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần M1 theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Thái Thị M xác nhận cuộc sống hôn nhân thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau khi cưới, vợ chồng hạnh phúc được gần 06 năm, đến cuối năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp, vợ chồng đã ly thân từ tháng 06 năm 2022. Nay tình cảm không còn nên chị M yêu cầu được ly hôn với anh Trần M1.
Xét thấy, cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa chị M và anh Trần M1 đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại. Tòa án tiến hành lấy lời khai của anh Trần M1 theo quy định, nhưng không lấy được lời khai do anh Trần M1 vắng mặt tại nhà. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh Trần Minh đ vắng mặt, đồng thời không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng mà phía nguyên đơn chị M đã trình bày. Mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhiều lần nhưng anh Trần M1 vẫn không có văn bản thể hiện ý kiến hay có nguyện vọng là muốn duy trì quan hệ hôn nhân với chị M. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân của chị M và anh Trần M1 đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận yêu cầu của chị Thái Thị M là được ly hôn với anh Trần M1.
[3] Về quan hệ con cái, cấp dưỡng:
Chị Thái Thị M thừa nhận giữa chị và anh Trần M1 có 01 con chung tên Trần Thái M2, sinh ngày 16/12/2017; mặt khác giấy khai sinh của cháu cũng đã thể hiện rõ điều này, do đó cần công nhận cháu Trần Thái M2 là con chung của chị M và anh Trần M1. Hiện con chung đang sống chung với chị M, sau khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi anh, chị không còn sống chung nữa thì cháu Trần Thái M2 sống với chị M, hơn nữa cháu Thái M2 là con gái thì sự nuôi dưỡng, chăm sóc của người mẹ sẽ phù hợp hơn. Do đó, để ổn định tâm lý và đảm bảo phát triển cuộc sống cho các cháu, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị Thái Thị M là được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M2.
[4] Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung:
Do chị Thái Thị M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Tuy nhiên khi điều kiện kinh tế và điều kiện nuôi con có thay đổi thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng trong một vụ kiện khác.
Anh Trần M1 có quyền tới lui, thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật.
[5] Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí sơ thẩm: Do chị Thái Thị M có yêu cầu ly hôn với anh Trần M1 nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình 2014;
- - Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, 228, Điều 271, Điều 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Thái Thị M được ly hôn với anh Trần M1. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 66, ngày 16/5/2016 do Ủy ban nhân dân xã A (huyện C, An Giang) cấp không còn giá trị pháp lý.
2. Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Công nhận cháu tên Trần Thái M2, sinh ngày 16/12/2017 là con chung của chị Thái Thị M và anh Trần M1;
- + Tiếp tục giao cháu Trần Thái M2 cho chị Thái Thị M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (hiện cháu M2 đang sống chung với chị M); anh Trần M1 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị M không yêu cầu;
- + Chị Thái Thị M cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở anh M1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
- + Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3. Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Chị Thái Thị M phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu số 0004014 ngày 25/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, An Giang, được khấu trừ nên chị M đã nộp xong.
5. Về quyền kháng cáo:
Chị Thái Thị M và anh Trần M1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Hà Thị Mỹ Linh |
Bản án số 115/2023/HNGĐ-ST ngày 23/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về ly hôn; nuôi con
- Số bản án: 115/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn; nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con, nguyên đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt
