Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH-TP . HÀ NỘI

----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

----------

Bản án số: 115/2024/DS-ST

Ngày 22/7/2024

“V/v Chia di sản thừa kế”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân : Ông Kiều Xuân Mai

Bà Dương Thị Kim Lan

-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh-Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mê Linh.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội: Bà Nguyễn Thị Hương Mai-Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 55/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2024 về việc “ Tranh chấp Chia di sản thừa kế”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXX-ST ngày 24 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Đặng Tố Đ, sinh năm 1988
    Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện M, Hà Nội.
  2. Bị đơn: Bà Hoàng Thị D, sinh năm 1962
    Địa chỉ: Thôn Ấ, xã T, huyện M, Hà Nội.
  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    • -Cụ Nguyễn Thị L, sinh năm 1933
    • Địa chỉ: TDP K, phường T, thành phố P, Vĩnh Phúc.
    • -Cụ Phạm Thị L1, sinh năm 1930
    • -Ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1968
    • -Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1963
    • Địa chỉ: Thôn Ấ, xã T, huyện M, Hà Nội.
    • -Bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1967
    • Địa chỉ: Thôn Ấ, xã T, huyện M, Hà Nội.
    • -Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1960
    • Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện M, Hà Nội.
    • -Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1965
    • Địa chỉ: Thôn Ấ, xã T, huyện M, Hà Nội.
    • -Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1986
    • Địa chỉ: 2 B, B, thành phố T, Bình Dương.
    • -Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1955
    • Địa chỉ: 1 V, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

    Người đại diện theo ủy quyền của chị H, ông Q là chị Nguyễn Đặng Tố Đ, sinh năm 1988. Địa chỉ: Phố Y, T3, M, Hà Nội.

Có mặt nguyên đơn; vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/12/2023 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là chị Nguyễn Đặng Tố Đ đồng thời cũng là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Thu H và ông Nguyễn Văn Q trình bày:

Bố chị là ông Nguyễn Đăng T (chết năm 2012) và mẹ chị là Nguyễn Thị Q1 (chết năm 1996). Bố mẹ chị kết hôn năm 1980 và sinh được một mình chị là Nguyễn Đặng Tố Đ. Ngoài ra bố mẹ chị còn nhận nuôi một người con nuôi từ bé là chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1986. Bố mẹ chị chết không để lại di chúc.

Ông bà nội chị là ông Nguyễn Đăng T1 (chết năm 2003) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1933.

Ông bà ngoại chị là ông Nguyễn Văn M (chết năm 2020) và bà Phạm Thị L1, sinh năm 1930. Ông bà ngoại chị sinh được 07 người con gồm: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1955; mẹ chị là Nguyễn Thị Q1 (chết năm 1996); Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1960; Nguyễn Văn D1, sinh năm 1963; Nguyễn Thị L3, sinh năm 1967, Nguyễn Văn L2, sinh năm 1968 và Nguyễn Văn B (chết năm 1991) không có vợ con.

Khi bố mẹ chị còn sống, bố mẹ chị có 01 mảnh đất tại thửa đất số 39, tờ bản đồ số 03 diện tích 261m² tại thôn Ấ, xã T, huyện M, Hà Nội. Nguồn gốc thửa đất này là do UBND huyện M cấp cho mẹ chị được sử dụng 146m² đất và ông bà ngoại cho mẹ chị thêm 115m² đất nữa. Tổng diện tích đất là 261m². Năm 1996 mẹ chị chết đến năm 1997 bố chị lấy bà Hoàng Thị D, bố chị và bà D không có con chung.

Sau khi bố chị lấy bà D thì bà D về ở cùng bố con chị trên mảnh đất của bố mẹ chị. Từ khi bà D về ở với bố con chị, gia đình chị không phát triển thêm được tài sản gì. Năm 2009 chị xây dựng gia đình ở riêng.

Đến khoảng năm 2010 bố chị có bán 20m² đất cho ông Nguyễn Văn X cạnh nhà của bố mẹ chị. Đến năm 2012 bố chị chết, sau khi bố chị chết được 50 ngày thì bà D không ở nhà, đất của bố mẹ chị nữa mà bà D về bên gia đình nhà bà D ở từ đó cho đến nay. Hiện nhà, đất của bố mẹ chị đang để không, không có ai ở. Hiện nay thửa đất của bố mẹ chị chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nay chị có nhu cầu muốn về để xây dựng nhà thờ cúng bố mẹ chị nên chị đề nghị Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế của bố mẹ chị là thửa đất số 39, tờ bản đồ số 03 tại thôn Ấ, xã T, huyện M, Hà Nội có diện tích đo thực tế như hôm Tòa án về xem xét thẩm định là 241,7m² theo quy định pháp luật. Chị đề nghị Tòa án cho chị được hưởng toàn bộ hiện vật và chị sẽ có trách nhiệm thanh toán tiền kỷ phần thừa kế cho các đồng thừa kế.

Đối với kỷ phần thừa kế của ông ngoại chị là ông Nguyễn Văn M được hưởng thừa kế của mẹ chị và hiện nay ông ngoại chị cũng đã mất nên chị đề nghị Tòa án giải quyết chia phần di sản thừa kế này của ông ngoại chị theo quy định pháp luật.

Đối với căn nhà trên thửa đất hiện nay đã đổ nát, không còn giá trị sử dụng nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đối với phần đất 20m² mà bố chị đã bán cho ông Nguyễn Văn X hàng xóm của gia đình bố mẹ chị thì chị không có đề nghị gì, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với kỷ phần của chị gái chị là Nguyễn Thị Thu H được hưởng của bố mẹ, ông ngoại và kỷ phần của bác chị là ông Nguyễn Văn Q được hưởng từ ông ngoại chị thì chị H, ông Q đều đồng ý để lại cho chị được quản lý, sử dụng.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/4/2024, bị đơn là bà Hoàng Thị D trình bày:

Năm 1997, bà và ông Nguyễn Đăng T kết hôn có đăng ký kết hôn tại UBND xã T3, huyện M, Hà Nội ngày 15/5/1997. Quá trình chung sống giữa bà và ông T không có con chung. Trước khi ông T lấy bà thì ông T có vợ là bà Nguyễn Thị Q1 (đã chết năm 1996) và có 02 người con là chị Nguyễn Thị Thu H, Nguyễn Đặng Tố Đ.

Sau khi kết hôn thì bà về chung sống với bố con ông T trên mảnh đất của vợ chồng ông T, bà Q1. Nguồn gốc thửa đất này bà được biết một phần do UBND huyện M cấp cho bà Q1 và một phần do bố mẹ đẻ bà Q1 cho. Hiện thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trong thời gian chung sống với ông T, bà được biết ông T có bán cho ông Nguyễn Văn X liền kề với nhà ông bà 20m² đất. Đến năm 2012, ông T chết. Sau khi ông T chết được 50 ngày, do ngôi nhà cũ bị dột nát không ở được nên bà đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ của bà ở từ đó cho đến nay. Hiện nhà, đất bỏ không, không có ai ở.

Nay chị Đ con gái ông T yêu cầu chia thừa kế tài sản của bố mẹ chị để lại là quyền sử dụng đất thửa đất trên, quan điểm của bà phần tài sản bà được hưởng của ông T, bà xin lấy bằng tiền vì bà cũng đã có chỗ ở ổn định.

Về công sức: Trong thời gian bà về chung sống với ông T, bà cũng có công sức tôn tạo mảnh đất vì khi bà về mảnh đất bị trũng phải đổ đất mới được như hiện nay. Bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 02/4/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cụ Nguyễn Thị L trình bày: Cụ và cụ Nguyễn Đăng T1 (chết năm 2003) sinh được 07 người con, trong đó có ông Nguyễn Đăng T. Khoảng năm 1980 ông T lấy bà Nguyễn Thị Q1. Sau khi kết hôn thì ông T về quê bà Q1 ở nhà, đất của bố mẹ bà Q1 cho. Vợ chồng ông T, bà Q1 sinh được 01 con là Nguyễn Đặng Tố Đ và có 01 người con nhận nuôi từ bé là Nguyễn Thị Thu H. Năm 1996 bà Q1 chết đến năm 1997 ông T lấy bà Hoàng Thị D. Năm 2012 ông T chết.

Nay chị Nguyễn Đặng Tố Đ yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ chị để lại là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 39, tờ bản đồ số 03 tại thôn Ấ, xã T, huyện M, Hà Nội. Quan điểm của cụ đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, phần tài sản cụ được hưởng từ ông T con trai cụ, cụ đề nghị để lại cho cháu là chị Nguyễn Đặng Tố Đ được hưởng toàn bộ, cụ không có đòi hỏi quyền lợi gì.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 15/4/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cụ Phạm Thị L1 trình bày: Cụ và cụ Nguyễn Văn M (chết năm 2020) sinh được 07 người con là: Nguyễn Văn Q, Nguyễn Thị Q1 (chết năm 1996), Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Văn D1, Nguyễn Thị L3, Nguyễn Văn L2 và Nguyễn Văn B (chết năm 1998, không có vợ con). Khoảng năm 1980 bà Q1 lấy ông Nguyễn Đăng T. Sau khi kết hôn thì ông T về ở rể gia đình cụ được thời gian thì hai vợ chồng ra ở riêng trên mảnh đất do UBND huyện M cấp và gia đình cụ cũng cho một phần. Vợ chồng ông T, bà Q1 có sinh được 01 con gái là chị Nguyễn Đặng Tố Đ và nhận nuôi từ bé một người con nuôi là chị Nguyễn Thị Thu H. Năm 1996 bà Q1 chết đến năm 1997 ông T lấy vợ hai là bà Hoàng Thị D. Năm 2012 ông T chết, bà D ở được đến 50 ngày ông T thì bà D cũng bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở.

Nay chị Nguyễn Đặng Tố Đ yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ chị để lại là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 39, tờ bản đồ số 03 tại thôn Ấ, xã T, huyện M, Hà Nội. Quan điểm của cụ đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, phần tài sản cụ được hưởng từ bà Q1 con gái cụ, cụ đề nghị để lại cho cháu là chị Nguyễn Đặng Tố Đ được hưởng toàn bộ, cụ không có đòi hỏi quyền lợi gì.

Đối với phần tài sản của cụ Nguyễn Văn M là chồng của cụ được hưởng từ con gái là bà Nguyễn Thị Q1. Do cụ M đã chết nên phần tài sản mà cụ được hưởng từ cụ M, cụ cũng đề nghị để lại cho chị Nguyễn Đặng Tố Đ được hưởng toàn bộ.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/4/2024, ngày 08/4/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn L2, ông Nguyễn Văn D1 và bà Nguyễn Thị L3 trình bày: Các ông bà là con trai, con gái của cụ Phạm Thị L1 và cụ Nguyễn Văn M. Về quan hệ huyết thống gia đình các ông, bà xác nhận như cụ L1 trình bày.

Đối với yêu cầu của chị Nguyễn Đặng Tố Đ yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ chị để lại là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 39, tờ bản đồ số 03 tại thôn Ấ, xã T, huyện M, Hà Nội. Quan điểm của các ông, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, phần tài sản mà các ông, bà được hưởng từ cụ M bố đẻ của các ông, bà, các ông, bà đều thống nhất để lại cho cháu là chị Nguyễn Đặng Tố Đ được hưởng toàn bộ, các ông, bà không có đòi hỏi quyền lợi gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Đ1: Quá trình điều tra Tòa án phối hợp cùng chính quyền địa phương về gia đình bà Đ1 xác minh được chồng bà Đ1 là ông Nguyễn Văn K cho biết: Bà Đ1 sang nước Hàn Quốc từ năm 2017 sống với vợ chồng con trai, thỉnh thoảng bà Đ1 có về Việt Nam thăm gia đình, bà Đ1 cũng thường xuyên liên lạc gọi điện về cho ông. Tuy nhiên ông không cung cấp địa chỉ của bà Đ1 cho Tòa án, không thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết và ông cũng từ chối nhận các văn bản tố tụng mà Tòa án giao cho bà Đ1. Do vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với bà Đ1 theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn X trình bày tại lời khai ngày 15/4/2024: Năm 2010, vợ chồng ông T có bán cho ông 18m² đất thửa đất số 39, tờ bản đồ số 03 tại thôn Ấ, xã T, huyện M, Hà Nội với giá 100.000.000đ. Hai bên có làm Hợp đồng chuyển nhượng có xác nhận của Trưởng thôn và UBND xã T3. Nay chị Đ có đơn yêu cầu chia thừa kế phần tài sản của bố mẹ chị để lại, ông đề nghị Tòa giải quyết theo quy định pháp luật. Về phần đất ông đã mua của vợ chồng ông T, ông không đề nghị Tòa giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • -Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và đương sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • -Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 147,271,273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 609,610,611,612,613,616,623,649,650,660 và 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án đề nghị Tòa án xử:

+Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của chị Nguyễn Đặng Tố Đ.

+Xác định di sản thừa kế là thửa đất số 39, tờ bản đồ số 03 diện tích 241m² tại thôn Ấ, xã T, huyện M, Hà Nội.

+Giao toàn bộ thửa đất số 39, tờ bản đồ số 03 diện tích 241m² cho chị Đ quản lý, sử dụng. Buộc chị Đ có trách nhiệm thanh toán kỷ phần thừa kế bằng tiền cho bà D với số tiền 289.200.000₫.

+Giành quyền khởi kiện cho bà Đ1 trong vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu đối với phần di sản bà được hưởng từ cụ M.

+Về án phí: Đương sự chịu tiền án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn là bà Hoàng Thị D và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cụ Nguyễn Thị L, cụ Phạm Thị L1, ông Nguyễn Văn L2, ông Nguyễn Văn D1, bà Nguyễn Thị L3, ông Nguyễn Văn X đều đề nghị xin xét xử vắng mặt. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Hoàng Thị Đ2 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[1] Về nội dung tranh chấp:

-Về thời điểm mở thừa kế và thời hiệu khởi kiện: Căn cứ vào Trích lục khai tử do UBND xã T3, huyện M, Hà Nội thì bà Nguyễn Thị Q1 chết ngày 20/12/1996, ông Nguyễn Đăng T chết ngày 24/02/2012.

Do vậy xác định thời điểm mở thừa kế của bà Q1 là ngày 20/12/1996, ông T là ngày 24/02/2012 theo quy định tại Khoản 1 Điều 611 Bộ luật dân sự năm 2015.

Ngày 22/12/2023, chị Nguyễn Đặng Tố Đ có đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Đăng T và bà Nguyễn Thị Q1 để lại là nằm trong thời hiệu khởi kiện về thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015.

-Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bên đương sự đều xác nhận ông T, bà Q1 chết không để lại di chúc. Do vậy, khối di sản của ông T, bà Q1 để lại sẽ được chia thừa kế theo pháp luật theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2015.

-Về người thừa kế theo pháp luật:

*Thời điểm mở thừa kế của bà Nguyễn Thị Q1 thì hàng thừa kế thứ nhất của bà Q1 gồm có: Bố mẹ đẻ bà Q1 là cụ Nguyễn Văn M và cụ Phạm Thị L1; chồng bà Q1 là ông Nguyễn Đăng T và hai con là chị Nguyễn Thị Thu H, Nguyễn Đặng Tố Đ.

Do cụ Nguyễn Văn M chết sau bà Q1 (cụ M chết ngày 09/12/2020) nên kỷ phần thừa kế của cụ M được hưởng của bà Q1 thì vợ con cụ M là cụ Phạm Thị L1 cùng các con là Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn D1, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Thị L3, Nguyễn Thị Đ1 cùng các cháu là chị Nguyễn Thị Thu H và Nguyễn Đặng Tố Đ là con của bà Nguyễn Thị Q1 được hưởng vì theo quy định tại Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2015 thì chị H và chị Đ là người được hưởng thừa kế thế vị kỷ phần thừa kế của bà Q1 đối với phần di sản mà cụ M để lại.

*Thời điểm mở thừa kế của ông Nguyễn Đăng T thì hàng thừa kế thứ nhất của ông T gồm có: Mẹ đẻ là cụ Nguyễn Thị L, hai con của ông T là chị Nguyễn Thị Thu H và chị Nguyễn Đặng Tố Đ.

Đối với bà Hoàng Thị D là vợ hiện nay của ông T: Sau khi bà Q1 vợ ông T chết thì ông T kết hôn với bà D, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T3, huyện M, Hà Nội ngày 15/5/1997. Do vậy bà D là vợ hợp pháp của ông T nên bà D cũng là hàng thừa kế thứ nhất của ông T được hưởng phần di sản của ông T để lại.

-Về di sản thừa kế:

*Về nguồn gốc thửa đất số 39, tờ bản đồ số 03 tại thôn Ấ, xã T, huyện M, Hà Nội.

Căn cứ vào sổ dã ngoại và tính diện tích lưu trữ tại UBND xã T3 thể hiện: Tại tờ số 02, dòng thứ 05 có ghi thửa số 39, tờ bản đồ số 03 diện tích 261m² tại thôn Ấ, xã T, M, Hà Nội tên chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Văn T2. Nguồn gốc thửa đất trên là do UBND huyện M cấp năm 1990 cho bà Nguyễn Thị Q1 được sử dụng 146m² và bố mẹ đẻ bà Q1 cho bà Q1 một phần đất sau khi bà Quy kết hôn với ông T2 nên thửa đất có tổng diện tích là 261m² theo như bản đồ đo đạc năm 1997 lưu tại UBND xã T3. Thửa đất này ông T2, bà Q1 sử dụng ổn định, không có tranh chấp phù hợp với quy hoạch đất ở nông thôn và thuộc trường hợp đủ điều kiện để xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Do thửa đất trên có một phần được UBND huyện M cấp đứng tên bà Nguyễn Thị Q1, còn một phần là do bố mẹ đẻ bà Q1 cho. Tuy nhiên thửa đất này phát sinh trong thời gian vợ chồng ông T2, bà Q1 đang chung sống, nên thửa đất này được xác định là tài sản chung của vợ chồng ông T2, bà Q1 nhưng khi xem xét chia thì Tòa án xác định bà Q1 có công sức đóng góp nhiều hơn nên Tòa án chia cho bà Q1 được 2/3, còn ông T2 được 1/3. Ngày 15/4/2024, Tòa án cùng Hội đồng định giá đã về xem xét định giá, thẩm định phần tài sản tranh chấp, xác định: Diện tích đo đạc thực tế của thửa đất là 241,7m², đối chiếu với diện tích trên bản đồ thì diện tích thiếu 19,3m². Phần diện tích thiếu này các bên đương sự đều xác định khi còn sống ông T2 đã bán cho ông Nguyễn Văn X là hộ liền kề với nhà ông T2, bà Q1 và các bên đương sự không ai có đề nghị gì về phần diện tích mà ông T2 đã bán cho ông X, đồng ý với kết quả đo hiện trạng thực tế của thửa đất mà Tòa án đã về xem xét.

Hội đồng định giá đã định giá giá trị của thửa đất là 8.000.000đ/1m² x 241,7m² = 1.933.600.000đ.

Sau khi bà Q1 chết thì ông T2 kết hôn với bà D vào năm 1997. Sau khi kết hôn, bà D về chung sống cùng với ba bố con ông T2 trên mảnh đất này cho đến khi ông T2 chết. Quá trình chung sống với ông T2 thì bà D cũng có công sức tôn tạo đất, chăm sóc nuôi dưỡng các con cùng ông T2 nên Hội đồng xét xử thấy cần trích 1,7m² đất trong khối di sản của ông T2, bà Q1 để lại để thanh toán công sức cho bà D: 1,7m² x 8.000.000đ/m² = 13.600.000đ.

Phần tài sản còn lại là 240m² đất được xác định là tài sản chung của ông T2, bà Q1. Tuy nhiên xác định nguồn gốc thửa đất này bà Q1 có công sức nhiều hơn nên phần bà Q1 được quyền sử dụng 2/3 thửa đất là 160m² đất= 1.280.000.000đ. Phần ông T2 được quyền sử dụng 1/3 thửa đất là 80m² đất= 640.000.000đ.

-Phần di sản của bà Q1 là 160m² đất được chia cho 5 thừa kế, mỗi thừa kế được hưởng 32m² đất = 256.000.000đ.

Đối với kỷ phần thừa kế của cụ M được hưởng của bà Q1 được chia cho 7 thừa kế, mỗi thừa kế được hưởng 4,57m² đất = 36.560.000đ.

-Phần di sản của ông T2 là 80m² đất + 32m² đất được hưởng từ bà Q1 nên tổng tài sản của ông T2 để lại là 112m² đất chia cho 4 thừa kế, mỗi thừa kế được hưởng 28m² đất= 224.000.000đ.

Quá trình điều tra các đồng thừa kế là cụ Phạm Thị L1, cụ Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị Thu H, ông Nguyễn Văn Q, ông Nguyễn Văn D1, bà Nguyễn Thị L3, ông Nguyễn Văn L2 đều tự nguyện để lại kỷ phần thừa kế của mình được hưởng cho chị Nguyễn Đặng Tố Đ.

Đối với bà Hoàng Thị D đề nghị xin được hưởng phần thừa kế của ông T2 bằng tiền mặt.

Đối với bà Nguyễn Thị Đ1 được hưởng thừa kế của cụ Nguyễn Văn M. Quá trình điều tra, Tòa án không làm việc được với bà Đ1. Do kỷ phần thừa kế của bà Đ1 được hưởng chỉ được 4,57m² đất, không đủ điều kiện để tách thửa nên Tòa án thấy giao phần đất này cho chị Đ được quản lý, sử dụng và chị Đ có trách nhiệm thanh toán tiền cho bà Đ1 với số tiền là 36.560.000đ.

Như vậy, Hội đồng xét xử sẽ giao cho chị Đ được quyền quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất số 39, tờ bản đồ số 03 diện tích 241,7m² (diện tích đo thực tế) tại thôn Ấ, xã T, huyện M, Hà Nội. Chị Đ có trách nhiệm thanh toán tiền tương đương với trị giá tài sản mà bà D được hưởng của ông T2 là: 224.000.000₫. Đồng thời chị Đ có trách nhiệm thanh toán tiền công sức cho bà D trong thời gian bà D ở trên mảnh đất với số tiền 13.600.000đ. Tổng số tiền chị Đ thanh toán cho bà D là 237.600.000đ.

Về căn nhà tọa lạc trên thửa đất: Tòa án đã về xem xét thì hiện trạng căn nhà không có người ở đã đổ nát, không còn giá trị sử dụng. Các bên đương sự không ai có đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí: Chị Nguyễn Đặng Tố Đ, chị Nguyễn Thị Thu H, bà Nguyễn Thị L3 và ông Nguyễn Văn L2 phải chịu án phí trên kỷ phần được chia theo quy định pháp luật. Các đương sự còn lại đều là người cao tuổi trên 60 tuổi trở lên nên được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 609, 611, 623, 649, 650, 651 Bộ luật dân sự năm 2015

Căn cứ Điều 29, Điều 33, 38, 39 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Đặng Tố Đ đối với bà Hoàng Thị D.
  2. Xác định thời điểm mở thừa kế của bà Nguyễn Thị Q1 là ngày 20/12/1996 và thời điểm mở thừa kế của ông Nguyễn Đăng T là ngày 24/12/2012.
  3. Xác định hàng thừa kế thứ nhất của bà Nguyễn Thị Q1 là cụ Nguyễn Văn M, cụ Phạm Thị L1, ông Nguyễn Đăng T, chị Nguyễn Đặng Tố Đ, chị Nguyễn Thị Thu H.

    Do cụ Nguyễn Văn M đã chết nên vợ, các con và các cháu của cụ M là cụ Phạm Thị L1, ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị Đ1, ông Nguyễn Văn D1, bà Nguyễn Thị L3, ông Nguyễn Văn L2, chị Nguyễn Thị Thu H và chị Nguyễn Đặng Tố Đ (chị H và chị Đ là người được hưởng thừa kế thế vị của bà Nguyễn Thị Q1) được hưởng phần tài sản của cụ M được hưởng của bà Q1.

  4. Xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Đăng T là cụ Nguyễn Thị L, bà Hoàng Thị D, chị Nguyễn Đặng Tố Đ, chị Nguyễn Thị Thu H.
  5. Xác định quyền sử dụng đất tại thửa đất số 39, tờ bản đồ số 03 diện tích 241,7m² (diện tích đo thực tế) tại thôn Ấ, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội là tài sản chung của vợ chồng ông T, bà Q1 có trị giá = 1.933.600.000đ. Trích 1,7m² đất có trị giá 13.600.000đ để thanh toán tiền công sức cho bà Hoàng Thị D. Diện tích đất còn lại là 240m², xác định bà Q1 được quyền sử dụng 160m² đất có trị giá 1.280.000.000đ, ông T được quyền sử dụng 80m² đất có trị giá 640.000.000đ.
  6. Xác định 160m² đất tại thửa đất số 39, tờ bản đồ số 03 tại thôn Ấ, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội là phần di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị Q1 để lại có trị giá 1.280.000.000đ được chia cho 5 thừa kế, mỗi kỷ phần thừa kế được hưởng 32m² tương đương số tiền 256.000.000đ.

    Kỷ phần của cụ Nguyễn Văn M được hưởng 32m² có trị giá 256.000.000₫ được chia cho 7 thừa kế, mỗi kỷ phần thừa kế được hưởng 4,57m² có trị giá 36.560.000đ.

  7. Xác định 80m² đất + 32m² đất ông T được hưởng của bà Q1. Tổng diện tích đất của ông T là 112m² đất tại thửa đất số 39, tờ bản đồ số 03 tại thôn Ấ, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội là phần di sản của ông T để lại có trị giá 896.000.000đ được chia cho 04 thừa kế, mỗi kỷ phần thừa kế được hưởng 28m² có trị giá 224.000.000đ.

    Cụ thể chia như sau:

    • *Phần chị Nguyễn Đặng Tố Đ được quản lý, sử dụng 241,7m² đất (diện tích đo thực tế) tại thửa đất số 39, tờ bản đồ số 03 tại thôn Ấ, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội có trị giá 1.933.600.000đ. Vị trí thửa đất được giới hạn bởi các điểm A,B,C,D có các cạnh cụ thể như sau:
      • -Phía Bắc giáp đường được giới hạn bởi các điểm A và B dài: 13,15m.
      • -Phía Nam giáp đất ông X được giới hạn bởi các điểm C và D dài 14,76m.
      • -Phía Đông giáp đường làng được giới hạn bởi các điểm B và C dài 17,25m.
      • -Phía Tây giáp đất ông S được giới hạn bởi các điểm D và A dài 17,46m.
      • (Có sơ đồ kèm theo bản án).
    • *Phần bà Hoàng Thị D được nhận số tiền 224.000.000đ tương đương với 28m² đất là kỷ phần thừa kế bà được hưởng của ông Nguyễn Đăng T để lại và 13.600.000đ tiền công sức bà đóng góp trên thửa đất. Tổng số tiền bà được nhận là 237.600.000đ do chị Nguyễn Đặng Tố Đ có trách nhiệm thanh toán cho bà.
    • *Phần bà Nguyễn Thị Đ1 được nhận số tiền 36.560.000đ tương đương với 4,57m² đất là kỷ phần thừa kế bà Đ1 được hưởng của cụ Nguyễn Văn M để lại do chị Nguyễn Đặng Tố Đ có trách nhiệm thanh toán cho bà.
  8. Ghi nhận sự tự nguyện của các bên đương sự không đề nghị giải quyết các tài sản tọa lạc trên đất.
  9. Ghi nhận sự tự nguyện của các bên đương sự không đề nghị giải quyết phần diện tích đất ông T đã bán cho ông Nguyễn Văn X.
  10. Về án phí: Chị Nguyễn Đặng Tố Đ phải nộp 24.475.000đ án phí dân sự sơ thẩm cho Nhà nước. Chị được trừ vào số tiền 6.000.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh theo Biên lai số 0008573 ngày 14/3/2024. Chị còn phải nộp tiếp số tiền 18.475.000đ.

    Chị Nguyễn Thị Thu H phải nộp 25.828.000đ án phí dân sự sơ thẩm cho Nhà nước. Bà Nguyễn Thị L3 và ông Nguyễn Văn L2 mỗi người phải nộp 1.828.000đ án phí dân sự sơ thẩm cho Nhà nước.

    Cụ Nguyễn Thị L, cụ Phạm Thị L1, ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị Đ1, ông Nguyễn Văn D1 và bà Hoàng Thị D được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm cho Nhà nước.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án bên phải thi hành án còn phải chịu một khoản tiền lãi theo quy định của Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm nguyên đơn được quyền kháng cáo. Bị đơn và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Nơi nhận:

  • -TAHN
  • -VKSNDH. Mê Linh.
  • -Chi cục THADS H. Mê Linh.
  • -Các đương sự.
  • -Lưu HS, VP

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/DS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 115/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Đông đề nghị chia di sản thừa kế của bố mẹ để lại
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger