|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 115/2024/HS-ST Ngày: 21-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thúy Ái.
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Nguyễn Văn Vân;
- - Ông Võ Văn Dương.
Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hằng-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Chung-Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 108/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bạch Thị L, sinh năm: 1999 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi thường trú: Tổ E, ấp B, xã M, Thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; tạm trú: Số I Hồ V, ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bạch Văn T, sinh năm: 1974 và bà Ngô Thị B, sinh năm: 1979; bị cáo chưa gia đình; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/12/2023 cho đến nay, hiện có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: bà Bạch Trương Thị P, sinh năm: 1977. Địa chỉ: Số E ấp C, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Tạm trú: Số 97/3A Hồ Văn tắng, tổ G, ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm: 1974 (Vắng mặt). Địa chỉ: Số F T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên lạc: Số D, đường số B C, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
2/ Ông Phạm Quốc T1, sinh năm: 1986 (Vắng mặt). Địa chỉ: Số A khu phố A, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên lạc: Số A H, khu phố E, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 22/4/2023, tại quán ăn “Đăng Khôi” do bà B1 Trương Thị P làm chủ, tại số A đường D, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, bà P nhờ Bạch Thị L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, biển số: 50Y1-909.62 (của bà P) chở bà P về nhà tại số I đường H, ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để bà P nghỉ ngơi.
Khi L chở bà P về đến nơi, bà P kêu L chạy xe trên đi về quán Đăng Khôi ngủ và trông coi quán cho bà P, L đồng ý. Trên đường đi, L nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô biển số 50Y1-909.62 của bà P lấy tiền tiêu xài. L điều khiển xe trên đến thuê một phòng trọ (không rõ địa chỉ) tại quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để ở, L sử dụng điện thoại cá nhân hiệu Iphone 5 (không rõ số IMEI, sau đó đã mất) vào mạng xã hội Facebook với tên là “BẠCH LÀI” đăng thông tin “Cần cầm xe không giấy tờ” để cầm xe mô tô biển số: 50Y1-909.62 của bà P. Có đối tượng (không rõ lai lịch) có tài khoản Facebook là "Thiên Kim” tương tác liên hệ hỏi mua xe trên với L giá 25.000.000đ thì L đồng ý bán. Ngày 11/5/2023, tại trước trụ điện số 19 đường P, ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, L đã bán xe mô tô biển số 50Y1-909.62 cho đối tượng chưa xác định lai lịch có tài khoản Facebook là “Thiên Kim”.
Sau khi L bán xe trên của bà P thì L không về nhà bà P mà thay đổi nhiều địa điểm sinh sống để tránh bà P và sự truy tìm của cơ quan Công an. Sau đó, L chuyển về ở tại ấp B, xã M, Thành phố C, tỉnh Đồng Tháp và tiêu xài cá nhân hết số tiền bán xe. Ngày 11/7/2023, L nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nên đã đến Công an xã T, huyện H đầu thú và khai nhận hành vi của mình.
Kết luận định giá tài sản số 200/KL-HĐĐGTS ngày 07/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda SH MODE màu đỏ đen, biển số 50Y1-909.62, số máy: JK01E0454916, số khung: RLHJK0118NZ405287, năm sản xuất 2020, ngày đăng ký lần đầu ngày 28/12/2022 có giá trị 58.000.000đ (Năm mươi tám triệu đồng).
Quá trình điều tra, Bạch Thị L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân tốt; phạm tội lần đầu; bà P đã tự nguyện làm đơn bãi nại đối với L.
Về dân sự: Bà Bạch Trương Thị P đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm. Anh Phạm Quốc T1 đã được L khắc phục số tiền 25.000.000đ, anh T1 đã khắc phục cho ông Nguyễn Văn P1 số tiền 39.000.000đ.
Về vật chứng: 01 xe mô tô hiệu Honda SH MODE, màu đỏ đen, biển số 50Y1-909.62, số máy: JK01E0454916, số khung: RLHJK0118NZ405287, năm sản xuất 2020. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 144 ngày 13/10/2023, xử lý trao trả xe mô tô biển số 50Y1-909.62 cho bà Bạch Trương Thị P.
Tại Cáo trạng số 106/CT-VKS.CC ngày 17/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị can Bạch Thị L về tội “Lạm dụng
2
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Bạch Thị L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai rằng: Bị cáo từ quê ở tỉnh Đồng Tháp vào giúp việc tại quán ăn Đ1 của cô ruột là bà Bạch Trương Thị P tại ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, khoảng 01 giờ 00 phút ngày 22/4/2023, cô P nhờ bị cáo điều khiển xe máy biển số 50Y1-909.62 chở cô về nhà tại số I Hồ V, ấp Đ, xã T, huyện C để nghỉ ngơi. Khi về đến nhà, cô P đưa xe cho bị cáo và kêu bị cáo chạy về quán Đăng Khôi ngủ để trông coi quán cho cô thì bị cáo đồng ý. Trên đường quay về bị cáo nảy sinh ý định lấy xe của cô bán kiếm tiền tiêu xài, bị cáo điều khiển xe máy biển số 50Y1-909.62 chạy đến quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để thuê phòng trọ, bị cáo dùng điện thoại di động của bị cáo lên trang mạng xã hội Facebook với tên “Bạch Lài” đăng thông tin “Cần cầm xe không giấy tờ” để cầm xe mô tô biển số 50Y1-909.62 của cô P. Khoảng 01 tuần sau khi đăng thì có tài khoản Facebook tên “Thiên Kim” liên hệ với bị cáo hỏi mua xe mô tô biển số 50Y1-909.62 với giá 25.000.000đ thì bị cáo đồng ý bán. Bị cáo và người chủ tài khoản Facebook tên “Thiên Kim” hẹn địa điểm gặp để thực hiện việc mua bán. Ngày 11/5/2023 bị cáo đến cây trụ điện số 19 trên đường P, ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh gặp người thanh niên lạ mặt, bị cáo giao xe mô tô biển số 50Y1-909.62 cho người thanh niên lạ và nhận 25.000.000đ. Bị cáo không quay về nhà mà sinh sống ở nhiều nơi, sau đó bị cáo đến tại ấp B, xã M, Thành phố C, tỉnh Đồng Tháp sinh sống và tiêu xài hết số tiền bán xe. Ngày 11/7/2023 bị cáo gặp cha mẹ thì biết cô P đang tìm bị cáo, bị cáo thấy hành vi của bị cáo sai trái nên bị cáo đến Công an xã T, huyện H đầu thú, bị cáo đã trả cho anh T1 số tiền 25.000.000đ. Đến ngày 01/12/2023 Công an huyện C bắt tạm giam bị cáo cho đến nay, chiếc điện thoại di động mà bị cáo dùng để liên lạc bán xe mô tô biển số 50Y1-909.62 đã bị hư, bị cáo không còn sử dụng.
Tại phiên tòa, bị hại là bà Bạch Trương Thị P khai nhận: Bị cáo Bạch Thị L là cháu ruột gọi bà bằng cô, ba mẹ của bị cáo ly hôn nên không quan tâm đến con cái, vì thương cháu nên bà có kêu bị cáo lên phụ việc ở quán ăn Đ1 của bà. Ngày 22/4/2023 sự việc bị cáo lấy xe mô tô hiệu Honda SH MODE mang đi cầm cố lấy số tiền 25.000.000đ để tiêu xài là đúng, bà nghĩ bị cáo chỉ suy nghĩ nông cạn, nhất thời nên mới thực hiện hành vi phạm tội. Bà xin bãi nại cho bị cáo và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về hình phạt chính:
- Áp dụng Điều 38, Điểm c Khoản 2 Điều 175, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 2, Điều 4, Điều 5, Điều 6 và Điều 7 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018: Xử phạt bị cáo
3
Bạch Thị L mức án từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 04 (Bốn) năm đến 05 (Năm) năm;
- Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô hiệu Honda SH MODE, màu đỏ, đen, biển số 50Y1-909.62, số máy: JK01E0454916, số khung: RLHJK0118NZ405287, năm sản xuất 2020, quá trình điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Bị cáo Bạch Thị L không tranh luận, không tự bào chữa.
Bị hại là bà Bạch Trương Thị P không tranh luận.
Bị cáo Bạch Thị L nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối hận vì hành vi của mình, bị cáo xin lỗi cô P và mong cô P tha thứ lỗi lầm cho bị cáo, bị cáo mong được xem xét xử nhẹ để bị cáo có điều kiên làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh; điều luật áp dụng; tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 22/4/2023, bị cáo Bạch Thị L được bà B1 Trương Thị P giao cho xe mô tô biển số 50Y1-909.62 để sử dụng về quán ăn Đ1 tại ấp T, xã T, huyện H, liền sau đó bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài, xe mô tô biển số 50Y1-909.62 trị giá 58.000.000đ (Kết luận định giá tài sản số 200/KL-HĐĐGTS ngày 07/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C). Bằng hành vi nêu trên thì bị cáo đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo Bạch Thị L về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được Nhà nước và pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo chẳng những
4
đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức rõ việc bị cáo chiếm đoạt tài sản là sai trái, phạm pháp, thế nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội nhằm thoả mãn động cơ tư lợi của cá nhân bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý bị cáo bằng một hình phạt là cần thiết.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Không có
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Bạch Thị L đã khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú và được bị hại làm đơn bãi nại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Về hình phạt chính:
Xét bị cáo Bạch Thị L có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo bị tạm giam từ ngày 01/12/2023 đến nay cũng đủ tác dụng răng đe đối với bị cáo. Do bị cáo L có đủ điều kiện quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử xét cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 04 (Bốn) năm đến 05 (Năm) năm. Xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử xét không cần phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại Khoản 5 Điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[7] Về trách nhiệm Dân sự:
Bà Bạch Trương Thị P là người bị thiệt hại về tài sản là xe mô tô biển số 50Y1-909.62 do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Quá trình điều tra tài sản đã được thu hồi và trả lại cho bà P. Tại phiên tòa bà P không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
[8] Về vật chứng vụ án:
01 (Một) xe mô tô hiệu Honda SH MODE, màu đỏ đen, biển số 50Y1-909.62, số máy: JK01E0454916, số khung: RLHJK0118NZ405287, năm sản xuất 2020 là tài sản của bà Bạch Trương Thị P. Qúa trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện C đã trả lại cho chủ sở hữu, Hội đồng xét xét thấy phù hợp nên không xét.
5
[9] Về các vấn đề khác:
Trong vụ án này còn có người tên Phạm Quốc T1 và Nguyễn Văn P1 liên quan đến việc mua bán xe mô tô biển số 50Y1-909.62. Khi ông T1 mua xe mô tô biển số 50Y1-909.62 của người đàn ông tên P2 (chưa rõ lai lịch) tại khách sạn H (số D, đường số G, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh) không làm hợp đồng, chỉ giao tiền và nhận xe kèm theo “Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy” số 50000717 đứng tên Bạch Trương Thị P, ông T1 và ông P1 không biết xe là tài sản do phạm tội mà có, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không khởi tố vụ án hình sự về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Riêng hành vi làm giả “Giấy chứng nhận đăng ký xe máy, mô tô” bị phát hiện ngày 08/7/2023 tại xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh có dấu hiệu phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ban hành Quyết định tách vụ án hình sự số 37/QĐ-ĐCSHS ngày 09/4/2024 để tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau, Hội đồng xét xử xét các xử lý trên là phù hợp nên không xét.
[10] Về nghĩa vụ chịu án phí:
Buộc bị cáo Bạch Thị L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Bạch Thị L phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ vào Điều 38, Đ c Khoản 2 Điều 175, Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Bạch Thị L 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 04 (Bốn) năm kể từ ngày tuyên án.
Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Bạch Thị L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Bạch Thị L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015, Đ a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Bạch Thị L phải chịu là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
- Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Bạch Thị L).
6
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Ngọc Thúy Ái |
7
Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 115/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
