|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 115/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 3 - 2025
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Võ Duy Bảo; bà Bùi Thị Hoa.
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên chính, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại phòng xử án, Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 605/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Ngô Thị T, sinh ngày 02/10/1995; Nơi cư trú: khối T, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An, vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: anh Nguyễn Xuân T1, sinh ngày 05/11/1989; Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: khối T, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Nơi ở hiện nay: Đài Loan. Vắng mặt lần thứ 2.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Hoàng Thị H. Nơi cư trú: khối T, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An, vắng mặt (có văn bản xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn - chị Ngô Thị T trình bày như sau:
Chị và anh Nguyễn Xuân T1 tự nguyện chung sống với nhau, đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An ngày 07/06/2019. Sau khi kết hôn chị T, anh T1 về sống chung với bố mẹ chồng. Thời gian đầu kết hôn vợ chồng sống rất hạnh phúc. Vì điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên vợ chồng bàn bạc, năm 2022 anh T1 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Đến giữa năm 2022 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do trái ngược nhau về quan điểm sống, nuôi dạy con cái, khoảng cách địa lý. Chị T và anh T1 đã dành cho nhau những thời gian suy nghĩ để hàn gắn tình cảm, nhưng đến cuối năm 2022 thì hoàn toàn cắt đứt liên lạc với nhau. Hiện nay, tình trạng hôn nhân của vợ chồng ngày càng trầm trọng, chị T1 nhận thấy không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân được nữa, chị T1 đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Xuân T1.
Về con chung: chị T, anh T1 có 01 con chung là Nguyễn Quốc T2, sinh ngày 07/11/2019. Hiện nay cháu đang sống cùng chị T và bà nội Hoàng Thị H tại khối T, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Về cấp dưỡng: Chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn: Tòa án đã thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho thân nhân bị đơn (anh Nguyễn Xuân T1) và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật, nhưng anh Nguyễn Xuân T1 đều vắng mặt không có lý do.
Chị Ngô Thị T không cung cấp được địa chỉ nơi cứ trú, nơi làm việc hiện nay của anh Nguyễn Xuân T1. Tòa án đã gửi văn bản yêu cầu thân nhân anh Nguyễn Xuân T1 (bà Hoàng Thị H là mẹ đẻ anh T1, trú tại khối T, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn (anh Nguyễn Xuân T1); yêu cầu bà H thông báo cho anh T1 biết chị Ngô Thị T đang khởi kiện ly hôn anh T1 và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết; đề nghị anh T1 gửi lời khai, yêu cầu cho Tòa án. Bà Hoàng Thị H cho biết anh T1 đang ở Đài Loan, vẫn liên lạc với gia đình qua facebook, zalo; anh T1 đã biết chị T đang khởi kiện ly hôn anh T1 và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết, nhưng do công việc làm ăn của anh T1 không ổn định, nên không có địa chỉ cụ thể để cung cấp cho Tòa án; anh T1 đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật để giải quyết việc ly hôn.
Đến nay, Tòa án không nhận được văn bản thể hiện ý kiến của anh Nguyễn Xuân T1 liên quan đến giải quyết vụ án trên cũng như không ai cung cấp thông tin về nơi cư trú, làm việc hiện tại của anh T1.
Theo bản trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Hoàng Thị H trình bày: chị T, anh T1 có 01 con chung là Nguyễn Quốc T2, sinh năm 2019. Từ khi anh T1 đi nước ngoài đến nay, chị T và cháu T2 sinh sống cùng bà và cùng chăm sóc cháu T2. Nếu chị T, anh T1 ly hôn, bà không yêu cầu chị T, anh T1 trả công sức và chi phí chăm sóc cháu T2.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Ngô Thị T được ly hôn anh Nguyễn Xuân T1; giao con chung Nguyễn Quốc T2, sinh ngày 07/11/2019 cho chị Ngô Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: do chị T chưa yêu cầu, nên không xem xét.
Về án phí: chị Ngô Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng.
[1.1] Về thẩm quyền: Bị đơn - anh Nguyễn Xuân T1 có địa chỉ cư trú tại phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Anh T1 hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài, nên vụ án về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 122, 123 và 127 Luật hôn nhân và gia đình.
[1.2] Về thủ tục hòa giải: căn cứ khoản 1, 2 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án không thể tiến hành hòa giải được vì hiện nay anh Nguyễn Xuân T1 vắng mặt tại nơi cư trú và đang ở nước ngoài.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự:
Đối với nguyên đơn – chị Ngô Thị T đã trực tiếp đến Tòa án để làm việc, được tiếp cận công khai chứng cứ và trình bày ý kiến của mình, nhưng không thể tham gia phiên tòa, nên đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đối với bị đơn - anh Nguyễn Xuân T1, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo Công văn số 4847/QLXNC-Đ1 ngày 13/11/2024 của Phòng Q – Công an tỉnh N thì anh Nguyễn Xuân T1 xuất cảnh ngày qua Cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Chị Ngô Thị T không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Nguyễn Xuân T1 tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu bà Hoàng Thị H (mẹ đẻ anh T1) cung cấp địa chỉ, tin tức của anh T1 và thông báo cho anh T1 biết Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết vụ án dân sự về "Tranh chấp hôn nhân và gia đình" theo đơn khởi kiện của chị Ngô Thị T, đề nghị anh T1 gửi lời khai cho Tòa án. Tuy nhiên, bà H không cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh T1, nhưng đã thông tin và anh T1 đã biết rõ việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết vụ án mà anh T1 là bị đơn và anh T1 không có ý kiến gì.
Tòa án đã thực hiện niêm yết các văn bản tố tụng tại Nhà văn hóa khối T3, phường H và tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An là nơi cư trú cuối cùng của anh T1 trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Việc anh T1 không cung cấp địa chỉ và không có ý kiến về vụ án thể hiện anh T1 cố tình dấu địa chỉ.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Hoàng Thị H, đã có văn bản trình bày ý kiến và đã nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử, bà H đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 30/2019 ngày 07/6/2019 của Ủy ban nhân dân phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An thì quan hệ hôn nhân giữa chị Ngô Thị T và anh Nguyễn Xuân T1 là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Năm 2022, anh T1 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan và phát sinh mâu thuẫn giữa chị T, anh T1 . Nguyên nhân mâu thuẫn do trái ngược nhau về quan điểm sống, nuôi dạy con cái, do khoảng cách về địa lý chị T, anh T1 không có điều kiện để hàn gắn tình cảm.
Xét thấy: tình trạng hôn nhân giữa chị Ngô Thị T và anh Nguyễn Xuân T1 đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị T được ly hôn anh T1 là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: chị Ngô Thị T và anh Nguyễn Xuân T1 có 01 con chung Nguyễn Quốc T2, sinh ngày 07/11/2019. Xét điều kiện hiện tại, cần chấp nhận nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung của nguyên đơn. Không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con, do chị T không yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không được ai cản trở. Anh T1 có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
Về chi phí công sức chăm sóc con chung của chị T, anh T1 bà Hoàng Thị H không yêu cầu. Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: chị Ngô Thị T không yêu cầu và anh T1 cũng chưa có ý kiến, nên miễn xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[3] Về án phí sơ thẩm: chị Ngô Thị T phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều: 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; 37, 38, 39 Điều 147; khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T4 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Ngô Thị T được ly hôn anh Nguyễn Xuân T1.
- Về con chung:
- Giao con chung Nguyễn Quốc T2, sinh ngày 07/11/2019 cho chị Ngô Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về cấp dưỡng và chi phí công sức chăm sóc con chung của chị T, anh T1: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Người không trực tiếp nuôi con, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: chị Ngô Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai số 0013628 ngày 12/12/2024.
- Về quyền kháng cáo:
- Chị Ngô Thị T, bà Hoàng Thị H vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày Bản án sơ thẩm được niêm yết hợp lệ.
- Anh Nguyễn Xuân T1 đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt, có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc Bản án sơ thẩm được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hồ Ngọc Tiếp |
Bản án số 115/2025/HNGĐ-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 115/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
