Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIỀN HẢI

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HSST

Ngày: 12/12/2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Hải Triều

Bà Đặng Thị Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phí Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 109/2024/TLST- HS ngày 19 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Phan Thị T, sinh ngày 26/11/1994

Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình. Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã T (N là xã Á), huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn D và bà Lại Thị N; chồng là Vũ P và có 02 con (Bị cáo đang mang thai); tiền sự: không; tiền án: không. Nhân thân: Bị cáo là người khuyết tật nặng. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 27/8/2024 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Tiến S - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (Có mặt).

* Bị hại: Bà Đầu Thị T1, sinh năm 1972 (Có mặt).

Nơi cư trú: Thôn T, xã Á, huyện T, tỉnh Thái Bình.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Lại Minh P1, sinh năm 1998 (Có mặt).
  • Nơi cư trú: Số B, đường H, phường I, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  • - Chị Lại Thị Minh P2, sinh năm 2007 (Có mặt).
  • Nơi cư trú: Thôn T, xã Á, huyện T, tỉnh Thái Bình.
  • - Anh Vũ P, sinh năm 1991 (Vắng mặt).
  • Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện K, Thái Bình.
  • - Chị Đào Thị T2, sinh năm 1998 (Vắng mặt).
  • Nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện T, Thái Bình.
  • - Anh Hoàng Văn Q, sinh năm 1994 (Vắng mặt).
  • Nơi cư trú: Thôn H, xã B, huyện K, Thái Bình.
  • - Anh Nguyễn Xuân D1, sinh năm 1982 (Vắng mặt).
  • Nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, thành phố T, Thái Bình.
  • - Anh Phan Văn T3, sinh năm 1995 (Vắng mặt).
  • Nơi cư trú: Khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương
  • - Chị Phạm Thị N1, sinh năm 1973 (Vắng mặt).
  • Nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện V, Thái Bình.
  • - Chị Lê Thị Bích P3, sinh năm 1993 (Vắng mặt).
  • Nơi cư trú: Xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 6 năm 2023, anh Lại Minh P1 là con trai của bà Đầu Thị T1 nhắn tin nói chuyện với chị họ là Phan Thị T về việc P1 đang gặp khó khăn, nợ tiền của nhiều người. P1 nhờ T vay tiền cho P1, khi nào có tiền P1 trả T đồng thời dặn T không được kể chuyện vay tiền cho bà Đầu Thị Thanh B vì trước đó giữa hai mẹ con P1 xảy ra mâu thuẫn, không nói chuyện với nhau. Sau đó T nói chuyện với bà T1 về việc P1 đang vay nợ, bà T1 nhờ T hỏi P1 nợ tiền ai, nợ bao nhiêu tiền để bà T1 lo tiền rồi chuyển cho T để nhờ T chuyển tiền cho P1 trả nợ và dặn T không được nói cho P1 biết đây là tiền của bà T1 chuyển mà nói là tiền T đi vay cho P1, sau này P1 có trách nhiệm trả cho Thi để T trả lại cho bà T1.Từ ngày 16/6/2023 đến ngày 04/7/2023, T làm theo thỏa thuận với bà T1, chuyển đủ cho P1 số tiền mà bà T1 đã chuyển khoản cho T. Tuy nhiên từ ngày 22/7/2023 do gia đình T đang gặp khó khăn phải vay nợ nhiều không có tiền chi tiêu nên T nảy sinh ý định đưa ra các thông tin gian dối để bà T1 chuyển tiền cho T sau đó T chiếm đoạt tiền của bà T1 như: T nói dối số tiền cao hơn số tiền P1 cần để khi T nhận được tiền, T chỉ chuyển cho P1 một phần trong số tiền bà T1 chuyển cho T, số tiền còn lại T chiếm đoạt để sử dụng chi tiêu cá nhân. Hoặc có những lần P1 không nhờ T vay tiền nhưng T nói dối bà T1 là P1 đang vay nợ anh em bạn bè trong Vũng Tàu, vay nợ xã hội đen, P1 cần tiền chuộc giấy tờ và xe cầm cố, trả nợ tiền phòng, chi tiêu sinh hoạt .... đồng thời thường xuyên thúc giục bà T1 để bà T1 lo tiền gấp chuyển tiền cho T. Để bà T1 tin là thật, T bảo P1 nhắn tin cho T với nội dung là “Chị cứu em, em đang cần tiền để trả nợ anh em bạn bè trong Vũng Tàu, vay nợ xã hội đen, cần tiền chuộc giấy tờ và xe cầm cố, trả nợ tiền phòng, chi tiêu sinh hoạt....” và kèm theo số tiền T đang cần”, T bảo P1 nếu tài khoản nhận được tiền do T chuyển đến thì P1 chuyển khoản lại cho T. Thi chụp ảnh tin nhắn giữa T và P1 gửi cho bà T1 xem để tạo niềm tin cho bà T1. Khi bà T1 chuyển tiền vào tài khoản của T thì T chuyển số tiền bà T1 đã chuyển đến vào số tài khoản của P1 hoặc người quen của T sau đó T chụp hình ảnh T đã chuyển tiền đi rồi gửi lại cho bà T1 để thông báo đồng thời chiếm đoạt số tiền mà bà T1 đã chuyển. Ngoài thủ đoạn trên, khoảng tháng 05/2024, T còn sử dụng tài khoản Zalo của chồng là anh Vũ P mang tên “Vũ Phi” đổi tên Z thành “P1” là tên con trai bà T1, sau đó dùng tài khoản Zalo này tự nhắn tin đến tài khoản “Phan Thi” (0845.252.189) của T với nội dung P1 nhờ T vay tiền giúp P1, rồi chụp ảnh màn hình để chuyển lại cho bà T1 biết qua Facebook mang tên “Phương Thanh”. Từ ngày 22/7/2023 đến ngày 13/6/2024, bà T1 dùng số tài khoản của mình và đưa tiền cho con gái là Lại Thị Minh P2 chuyển khoản tiền thông qua ngân hàng vào số tài khoản của T, cụ thể như sau:

  • - Ngày 22/7/2023, T nói dối bà T1 là P1 đang cần 10.000.000 đồng để trả nợ. Bà T1 bảo chị P2 chuyển khoản cho T 10.000.000 đồng. T chiếm đoạt số tiền 10.000.000 đồng của bà T1.
  • - Ngày 28/7/2023, bà T1 chuyển khoản cho T 12.000.000 đồng, nhận được tiền T chỉ chuyển khoản cho P1 2.000.000 đồng, còn 10.000.000 đồng T chiếm đoạt của bà T1.
  • - Ngày 10/8/2023, bà T1 bảo chị P2 chuyển khoản cho T 15.200.000 đồng, nhận được tiền T không chuyển cho P1 và chiếm đoạt số tiền này để chi tiêu cá nhân. ( Ngày 10/8/2023, T có chuyển cho P1 200.000đ nhưng đây là tiền cá nhân T tự cho P1).
  • - Ngày 21/8/2023, bà T1 chuyển khoản cho T 9.998.000 đồng, nhận được tiền T không chuyển cho P1 mà chiếm đoạt để chi tiêu cá nhân.
  • - Ngày 27/8/2023, bà T1 bảo chị P2 chuyển khoản cho T 03 lần: Lần 01 là ngày 27/8/2023 chuyển 10.000.000 đồng, nhận được tiền T chuyển khoản cho P1 1.800.000 đồng; Lần 2 ngày 29/8/2023 chuyển 10.000.000 đồng, T nhận tiền và chuyển cho P1 500.000 đồng nhưng đây là tiền cá nhân T tự cho P1; Lần 3 ngày 30/8/2023 chuyển 10.000.000 đồng. Như vậy đối với khoản tiền này, T đã chiếm đoạt 28.200.000 đồng.
  • - Ngày 28/9/2023 bà T1 nhờ chị P2 chuyển khoản cho T 5.000.000 đồng, nhận được tiền T không chuyển cho P1 mà chiếm đoạt hết số tiền này.
  • - Khoảng cuối tháng 9/2023 P1 nhắn tin cho T với nội dung cứu P1 vì P1 đang nợ anh Phan Văn T3 số tiền 10.000.000 đồng, P1 nhờ T vay trả nợ giúp P1. T gọi điện hỏi anh T3 thì anh T3 nói có đứng ra vay 40.000.000 đồng giúp cho P1. Sau đó T kể chuyện cho bà T1 biết thì bà T1 bảo để bà T1 đi lo tiền trả cho P1. Ngày 02/10/2023, bà T1 chuyển khoản trước cho T 15.000.000 đồng, nhận được tiền T chuyển khoản cho anh T3 15.000.000 đồng rồi chụp lại hình ảnh chuyển tiền gửi cho bà T1, sau đó T nhắn tin cho anh T3 với nội dung chuyển khoản trả giúp P1 10.000.000 đồng nhưng chuyển nhầm thành 15.000.000 đồng, anh T3 đã chuyển khoản trả lại T 5.000.000 đồng, T đã chiếm đoạt số tiền 5.000.000 đồng.
  • - Ngày 05/10/2023, bà T1 chuyển khoản cho T 80.000.000 đồng, nhận được tiền T chuyển khoản nhờ vào tài khoản của anh Nguyễn Xuân D1 là bạn của T số tiền 20.000.000 đồng với nội dung chuyển khoản là “Phan Thị T chuyển tiền gửi cho T3”, đồng thời T chụp lại ảnh kết quả giao dịch này để gửi ảnh cho bà T1 biết. Khi D1 nhận được tiền T nhờ D1 chuyển lại tiền cho T. Tiếp theo T chuyển khoản cho P1 số tiền 30.000.000 đồng, đồng thời T chụp lại ảnh kết quả giao dịch này để gửi ảnh cho bà T1 biết. Khi P1 nhận được tiền P1 chuyển lại cho T 15.000.000 đồng (bởi trước đó giữa T với P1 đã có thỏa thuận là T chuyển cho P1 30.000.000 đồng rồi P1 chuyển lại cho T 15.000.000 đồng), còn 15.000.000 đồng P1 dùng để lấy xe cầm cố và làm giấy tờ đi biển. Cùng ngày, T tiếp tục chuyển khoản nhờ vào tài khoản của anh Hoàng Văn Q số tiền 30.000.000 đồng với nội dung chuyển khoản là “Phan Thị T chuyển tiền trả cho PI”, đồng thời T chụp lại ảnh kết quả giao dịch này để gửi ảnh cho bà T1 biết, khi anh Q nhận được tiền T bảo anh Q chuyển lại tiền cho T. T chuyển khoản trực tiếp cho anh T3 10.000.000 đồng để trả nợ cho P1. Như vậy trong tổng số tiền 80.000.000 đồng bà T1 chuyển khoản cho T, T đã chuyển khoản cho P1 15.000.000 đồng, chuyển khoản cho anh T3 10.000.000 đồng để trả nợ cho P1, còn 55.000.000 đồng T chiếm đoạt.
  • - Khoảng đầu tháng 11/2023 T nói dối bà T1, P1 đang vay nợ 30.000.000 đồng bị xã hội đen đòi gấp. Ngày 03/11/2023, bà T1 nhờ chị P2 chuyển khoản cho T số tiền 30.000.000 đồng, sau đó T chuyển khoản nhờ vào tài khoản của chị Đào Thị T2 số tiền 30.000.000 đồng, đồng thời T chụp lại ảnh kết quả giao dịch này để gửi ảnh cho bà T1 biết, rồi bảo chị T2 chuyển lại cho T. T đã chiếm đoạt hết số tiền 30.000.000 đồng của bà T1.
  • - Ngày 11/11/2023, bà T1 nhờ chị P2 chuyển khoản cho T số tiền 10.000.000 đồng, sau đó T chuyển khoản nhờ vào tài khoản của chị Lê Thị Bích P3 số tiền 10.000.000 đồng với nội dung chuyển khoản là “Phan Thi T chuyển tiền Tước gửi trả cho Pl” đồng thời T chụp lại ảnh kết quả giao dịch này để gửi ảnh cho bà T1 biết, rồi bảo chị P3 chuyển lại cho T. T đã chiếm đoạt số tiền 10.000.000 đồng của bà T1.
  • - Ngày 16/11/2023, bà T1 nhờ chị P3 chuyển khoản cho T 3.000.000 đồng, nhận được tiền T không chuyển cho P1 mà chiếm đoạt số tiền này để chi tiêu cá nhân.
  • - Ngày 18/11/2023, bà T1 nhờ P3 chuyển khoản cho T 10.000.000 đồng, T chuyển khoản vào tài khoản của P1, đồng thời T chụp lại ảnh kết quả giao dịch này để gửi ảnh cho bà T1 biết, sau đó T bảo P1 chuyển số tiền 10.000.000 đồng lại cho T. T chiếm đoạt số tiền 10.000.000 đồng.
  • - Ngày 19/11/2023, bà T1 nhờ chị P3 chuyển khoản cho T 5.000.000 đồng, đến ngày 26/11/2023 bà T1 chuyển cho T 15.000.000 đồng. T đều nói dối bà T1 là P1 cần tiền trả nợ. Sau khi nhận được tiền, T chuyển khoản vào tài khoản của P1 rồi chụp ảnh kết quả giao dịch để gửi ảnh thông báo cho bà T1 biết, sau đó T gọi điện cho P1 để Phúc chuyển lại tiền cho T. T chiếm đoạt số tiền 20.000.000 đồng này.
  • - Ngày 29/11/2023 bà T1 nhờ chị P3 chuyển khoản cho T 3.000.000 đồng, T không chuyển khoản cho P1 mà chiếm đoạt số tiền này.
  • - Ngày 02/12/2023 bà T1 chuyển khoản cho T 3.000.000 đồng. T không chuyển tiền cho P1 mà chiếm đoạt số tiền này.
  • - Đến đầu tháng 12/2023, qua nói chuyện với anh T3, T mới biết được là anh T3 đứng ra vay 100.000.000 đồng cho P1 chứ không phải 40.000.000 đồng như anh T3 đã nói với T đợt tháng 10/2023. Số tiền 40.000.000 đồng này chỉ là tiền lãi anh T3 phải trả cho P1 nên T tiếp tục nảy sinh ý định lừa bà T1. Thi lợi dụng có sẵn tin nhắn giữa T với T3 để gửi cho bà T1 để bà T1 lo tiền trả nợ cho P1, sau khi bà T1 chuyển tiền cho T thì T sẽ chiếm đoạt số tiền này. Ngày 05/12/2023, bà T1 chuyển cho T số tiền 98.000.000 đồng để nhờ T trả nợ cho P1, bà T1 bảo T phải bù thêm vào 2.000.000 đồng để cho tròn 100.000.000 đồng do trước đó T vay tiền bà T1. Sau đó T chuyển khoản nhờ vào tài khoản của chị Đào Thị T2 số tiền 100.000.000 đồng với nội dung chuyển khoản là “Phan Thị T chuyển tiền P1 trả cho T3” đồng thời T chụp lại ảnh kết quả giao dịch này để gửi ảnh cho bà T1 biết, rồi bảo chị T2 chuyển tiền lại ngay cho T. T chuyển khoản trực tiếp cho T3 20.000.000 đồng để trả nợ cho P1, chuyển khoản cho P1 5.000.000 đồng để P1 lo trả nợ. Như vậy đối với khoản tiền 98.000.000 đồng bà T1 chuyển cho T, T đã chiếm đoạt 73.000.000 đồng.
  • - Ngày 14/12/2023, bà T1 chuyển khoản cho T số tiền 35.000.000 đồng, sau đó T chuyển khoản nhờ vào tài khoản của chị Đào Thị T2 số tiền 35.000.000 đồng, do điện thoại của T bị lỗi nên T không chụp lại ảnh kết quả giao dịch này được, rồi bảo chị T2 chuyển lại cho T. T đã chiếm đoạt số tiền 35.000.000 đồng của bà T1.
  • - Ngày 22/02/2024, bà T1 chuyển khoản cho T 6.000.000 đồng. Ngày 27/02/2024, bà T1 chuyển tiếp cho T 5.000.000 đồng. T chuyển khoản vào tài khoản của P1 đồng thời T chụp lại ảnh kết quả giao dịch này để gửi ảnh cho bà T1 biết, rồi bảo P1 chuyển lại tiền cho T, T chiếm đoạt số tiền 11.000.000 đồng của bà T1.
  • - Ngày 26/3/2024, bà T1 chuyển khoản cho T 3.000.000 đồng. T không gửi cho P1 mà chiếm đoạt số tiền này.
  • - Ngày 27/3/2024, bà T1 chuyển khoản cho T 3.000.000 đồng, T chuyển khoản vào tài khoản của P1 3.000.000 đồng, đồng thời T chụp lại ảnh kết quả giao dịch này để gửi ảnh cho bà T1 biết, rồi bảo P1 chuyển lại tiền cho T. T đã chiếm đoạt số tiền này.
  • - Khoảng cuối tháng 3/2024 T nói dối bà T1 là P1 vay nợ 40.000.000 đồng đang bị đòi tiền. Ngày 01/4/2024 bà T1 chuyển khoản cho T số tiền 20.000.000 đồng, T chuyển khoản vào tài khoản của P1 20.000.000 đồng rồi bảo P1 chuyển lại tiền cho T. P1 chỉ chuyển khoản lại cho T 18.900.000 đồng, còn 1.100.000 đồng P1 bảo cho P1 vay. Ngày 03/4/2024, bà T1 chuyển khoản tiếp cho T số tiền 20.000.000 đồng, T chuyển khoản vào tài khoản của P1 20.000.000 đồng rồi bảo P1 chuyển lại tiền cho T. P1 chỉ chuyển khoản lại cho T 18.900.000 đồng, còn 1.100.000 đồng P1 bảo cho P1 vay. Cả hai lần T đều chụp lại ảnh kết quả giao dịch này để gửi ảnh cho bà T1 biết. Như vậy T đã chiếm đoạt của bà T1 số tiền 40.000.000 đồng, còn khoản tiền T cho P1 vay là vay mượn cá nhân giữa T và P1.
  • - Khoảng cuối tháng 5/2024 T nói dối bà T1 là P1 vay nợ 40.000.000 đồng đang bị đòi gấp. Ngày 29/5/2024 bà T1 chuyển khoản cho T số tiền 20.000.000 đồng. Ngày 05/6/2024, bà T1 nhờ chị P3 chuyển khoản tiếp cho T số tiền 20.000.000 đồng. T không chuyển cho phúc mà chiếm đoạt của bà T1 số tiền 40.000.000 đồng.
  • - Khoảng đầu tháng 6/2024 T nói dối bà T1 là P1 đang cần tiền để chuộc lại giấy tờ cầm cố, ngày 09/6/2024 bà T1 chuyển khoản cho T 4.000.000 đồng. T không chuyển cho P1 mà chiếm đoạt số tiền này.
  • - Ngày 13/6/2024, bà T1 chuyển khoản cho T số tiền 10.000.000 đồng. T không chuyển cho P1 mà chiếm đoạt số tiền này.

Như vậy tổng số tiền Phan Thị T lừa đảo chiếm đoạt của bà T1 là 436.398.000 đồng (Bốn trăm ba mươi sáu triệu ba trăm chín mươi tám nghìn đồng).

Ngoài hành vi phạm tội như đã nêu trên, với phương thức, thủ đoạn tương tự trong khoảng thời gian từ ngày 5/9/2023 đến ngày 21/3/2024, Phan Thị T còn 7 lần khác chiếm đoạt tiền của bà Đầu Thị Thanh tổng S1 tiền là 6.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 117/CT-VKS ngày 18/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Phan Thị T về tội: “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã truy tố đối với bị cáo.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm n, điểm p, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Thị T từ 10 (Mười) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 11 (Mười một) năm 06 (S2) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Phan Thị T phải bồi thường thiệt hại cho bà Đầu Thị Thanh S1 tiền là 442.398.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi hai triệu ba trăm chín mươi tám nghìn đồng).
  • - Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen của bị cáo Phan Thị T.
  • - Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Phan Thị T.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với Kiểm sát viên về bản luận tội.

Người bào chữa cho bị cáo Phan Thị T trình bày bản bào chữa: Nhất trí với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải truy tố bị cáo Phan Thị T về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo là người khuyết tật nặng, là phụ nữ có thai để xử phạt bị cáo dưới mức án thấp nhất. Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo T.

Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo, Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không khiếu nại hay có ý kiến gì. Nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.

[2]. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy, tại phiên tòa Bị cáo khai nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Đầu Thị Thanh . Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như:

  • - Đơn trình báo và biên bản ghi lời khai của bị hại là bà Đầu Thị T1;
  • - Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 05/7/2024;
  • - Biên bản kiểm tra điện thoại của Phan Thị T do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T lập hồi 16h30' ngày 5/7/2024 tại Công an huyện T;
  • - Biên giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử; Bảng sao kê tài khoản ngân hàng, bản pho to ảnh chụp màn hình nội dung tin nhắn zalo và messenger giữa bà Đầu Thị T1 và Phan Thị T;
  • - Công văn số 345 ngày 17/7/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T gửi Công ty cổ phần V tra cứu tài khoản zalo, công văn trả lời số 1576 ngày 14/10/2024 của Công ty cổ phần V;
  • - Biên bản ghi lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Lại Minh Phúc S3, chị Lại Thị Minh P2, chị Đào Thị T2, anh Hoàng Văn Q, anh Nguyễn Xuân D1, anh Phan Văn T3, anh Vũ P,chị Phạm Thị N1 và chị Lê Thị Bích P3;
  • - Biên bản làm việc lập cùng ngày 15/10/2024 tại Công an huyện T về việc xác định các giao dịch chuyển khoản giữa anh Lại Minh P1 và Phan Thị T, giữa bà Đầu Thị T1 và Phan Thị T.

Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng đầu tháng 06/2023, anh Lại Minh P1 nói chuyện với Phan Thị T về việc P1 đang gặp khó khăn, nợ tiền của nhiều người, P1 nhờ T vay tiền cho P1 nhưng dặn T không nói cho mẹ P1 là bà Đầu Thị Thanh B vì giữa P1 và bà T1 xảy ra mâu thuẫn, không nói chuyện với nhau. Sau đó T nói chuyện với bà T1 về việc P1 đang vay nợ, bà T1 nhờ T hỏi P1 nợ bao nhiêu tiền để bà T1 chuyển cho T để trả nợ cho P1 và dặn T không nói cho P1 biết để sau này P1 còn có trách nhiệm trả cho Thi để T trả lại tiền cho bà T1. Từ ngày 16/6/2023 đến ngày 04/7/2023, T đã làm theo thỏa thuận với bà T1, chuyển đủ cho P1 số tiền mà bà T1 đã chuyển khoản cho T. Tuy nhiên từ ngày 22/7/2023 đến ngày 13/6/2024, do không có tiền chi tiêu nên T đã nhiều lần nói dối bà T1 về việc P1 đang nợ tiền của nhiều người đồng thời gọi điện, nhắn tin cho bà T1 yêu cầu chuyển tiền cho T để T chuyển tiền cho P1 mục đích để chiếm đoạt tiền của bà T1. Tổng số tiền bị cáo lừa đảo chiếm đoạt của bà T1 là 436.398.000 đồng (Bốn trăm ba mươi sáu triệu ba trăm chín mươi tám nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo Phan Thị T đã phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội phạm thuộc trường hợp rất nghiêm trọng.

Điều 174 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.

[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Về nhân thân, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là “Phạm tội từ 02 lần trở lên”.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người khuyết tật nặng và là phụ nữ có thai. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm s, điểm n và điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5]. Về hình phạt:

[5.1]. Về hình phạt chính: Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Lợi dụng lòng tin của bị hại mà trong khoảng thời gian từ ngày 22/7/2023 đến ngày 13/6/2024, bị cáo đã 30 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Đầu Thị T1, tổng số tiền bị cáo lừa đảo chiếm đoạt của bà T1 là 436.398.000 đồng. Do vậy, hành vi của bị cáo cần thiết phải xử phạt bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra mới có tác dụng, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để giảm nhẹ một phần mức hình phạt tù cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

[5.2]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo là người khuyết tật nặng. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là bà Đầu Thị T1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bà T1 tổng số tiền bị cáo đã chiếm đoạt là 442.398.000 đồng. Bị cáo chưa bồi thường cho bà T1. Vì vậy, căn cứ vào Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Phan Thị T phải bồi thường thiệt hại cho bà Đầu Thị Thanh tổng S1 tiền 442.398.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi hai triệu ba trăm chín mươi tám nghìn đồng).

[7]. Về vật chứng: Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã quản lý 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen của bị cáo Phan Thị T. Đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

[8]. Về các vấn đề khác của vụ án: Ngoài hành vi phạm tội như đã nêu trên, với phương thức, thủ đoạn tương tự trong khoảng thời gian từ ngày 5/9/2023 đến ngày 21/3/2024, Phan Thị T còn 7 lần khác chiếm đoạt tiền của bà Đầu Thị Thanh tổng S1 tiền 6.000.000 đồng. Tuy nhiên tài liệu điều tra xác định các lần chiếm đoạt tài sản của T không liên tục, không kế tiếp nhau về mặt thời gian, số tiền mỗi lần chiếm đoạt đều dưới 02 triệu đồng, bản thân T chưa có tiền án, tiền sự, nguồn sống chính không phải là tiền chiếm đoạt tài sản của bà T1 nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định xử phạt hành chính đối với T về các hành vi chiếm đoạt này.

Đối với anh Lại Minh P1, chị Đào Thị T2, anh Hoàng Văn Q, anh Nguyễn Xuân D1, anh Phan Văn T3, chị Phạm Thị N1 và chị Lê Thị Bích P3 là người được T nhờ nhắn tin và nhờ chuyển tiền, quá trình điều tra xác định những người này không biết việc T lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà T1 nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với những người này là phù hợp

Đối với anh Vũ P là người mà T nhờ sử dụng tài khoản zalo, quá trình điều tra xác định anh P không biết việc T sử dụng tài khoản zalo của anh P để thực hiện hành vi phạm tội, không biết việc T có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà T1 nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh P là phù hợp.

[9]. Về án phí: Bị cáo là người khuyết tật nặng và có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Phan Thị T.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a, khoản 3 Điều 174, điểm s, điểm n, điểm p khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Thị T phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Thị T 11 (Mười một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phan Thị T phải bồi thường thiệt hại cho bà Đầu Thị Thanh tổng S1 tiền 442.398.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi hai triệu ba trăm chín mươi tám nghìn đồng).
  4. Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen của bị cáo Phan Thị T.

    (Vật chứng của vụ án đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/11/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải).

  5. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Phan Thị T.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/12/2024).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tiền Hải;
  • - Công an huyện Tiền Hải;
  • - Chi cục THADS huyện Tiền Hải;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Người bào chữa cho bị cáo;
  • - Lưu.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Chu Thị Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HSST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 115/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Thị T phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger