Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÙNG KHÁNH

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HS-ST

Ngày 03 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nông Diệu Huế.

Ông Hoàng Văn Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Biên - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 109/2024/TLST - HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST - HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nông Văn H; tên gọi khác: không; giới tính: nam; Sinh ngày 21 tháng 01 năm 1999, tại xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng;

Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nông Văn N, sinh năm 1974 (đã chết) và bà La Thị Â, sinh năm 1974; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không có;

Nhân thân: Ngày 13/6/2016, bị Công an phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng từ ngày 19/7/2024 đến nay. Có mặt.

2. Hoàng Văn T; tên gọi khác: không; giới tính: nam; Sinh ngày 24 tháng 4 năm 1989, tại xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng;

2

Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Hoàng Văn T1 (đã chết); Con bà: Nông Thị T2, sinh năm 1958; Vợ: Lục Thị C, sinh năm 1991; Con: 01 con, sinh năm 2018;

Tiền án, tiền sự: Không có;

Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng từ ngày 19/7/2024 đến nay. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nông Thị T2, sinh năm 1958; Địa chỉ: xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

* Người làm chứng:

  • - Dương Văn H1, sinh năm 1991; Địa chỉ: xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng; (Vắng mặt không có lý do)
  • - Nông Đức T3, sinh năm 1997; Địa chỉ: xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng; (Vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 00 phút ngày 19/7/2024, Tổ công tác Đồn Biên phòng N1, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh C phối hợp với Công an xã K thực hiện nhiệm vụ tại xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng phát hiện Hoàng Văn T đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 11K1 - 155.84 di chuyển theo hướng từ xóm P, xã K đến xóm P, xã K có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã tiến hành dừng xe kiểm tra, phát hiện tay trái của T đang cầm 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong gói giấy có chứa chất bột màu trắng. T khai chất bột màu trắng trên là ma túy loại Heroine, T vừa mua với Nông Văn H, sinh năm 1999, trú tại xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu trắng bạc, đã qua sử dụng, số IMEI1: 861880071204732/25; số IMEI 2: 861880071204724/25; 01 xe mô tô biển kiểm soát 11K1 – 155.84. Đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Hoàng Văn T tại xóm P, xã K nhưng không phát hiện đồ vật, tài liệu có liên quan.

Căn cứ lời khai của Hoàng Văn T, hồi 12 giờ 45 phút cùng ngày, Đồn Biên phòng N1 tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Nông Văn H tại xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng, phát hiện và thu giữ của H 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong có các hạt dạng vón cục màu trắng; tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màn hình cảm ứng, màu bạc và số tiền 2.770.000 đồng.

Hồi 08 giờ 45 phút ngày 20/7/2024, Đồn Biên phòng N1 phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện T tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu gửi giám định, kết quả: Chất bột màu trắng có trong gói giấy bạc màu vàng thu giữ khi bắt quả tang Hoàng Văn T có khối

3

lượng 0,12 gam; chất bột màu trắng có trong gói giấy bạc màu vàng thu giữ khi khám xét khẩn cấp nhà ở của Nông Văn H có khối lượng 0,12 gam. Tại Kết luận giám định số 445/KL-KTHS ngày 26/7/2024 của Phòng K, Công an tỉnh C, kết luận: 02 mẫu chất bột màu trắng bên trong 02 phong bì niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại Heroine.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 19/7/2024, Hoàng Văn T sử dụng điện thoại nhãn hiệu Realme, gắn sim số thuê bao 0375.279.016 gọi đến số thuê bao 0337.211.232 của Nông Văn H để hỏi mua ma túy với số tiền 400.000 đồng. H đồng ý và hẹn T đến đoạn đường gần nhà H ở xóm P, xã K. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11K1 – 155.84 đến nhưng chỉ đưa cho H số tiền 390.000 đồng. H nhận tiền và bảo T đợi để đi lấy ma túy rồi H đi đến đoạn đường dốc cuối xóm N cũ (nay là xóm P) gặp và mua với một người tên P (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 gói ma túy với giá 450.000 đồng. Mua được ma túy, H đi về nhà chia gói ma túy ra làm 02 phần, H cất một phần, phần còn lại H đem bán cho T.

Trước đó, ngày 18/7/2024, T được mua với H 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng tại đoạn đường gần nhà H.

Ngoài ra, H còn được bán ma túy cho những người sau: Dương Văn H1, sinh năm 1991, trú tại xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng 01 lần, 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng tại trước cửa nhà H. Nông Đức T3, sinh năm 1997, trú tại xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng 02 lần vào ngày 17/7 và ngày 18/7/2024, tại khu vực thuộc xóm P, xã K, mỗi lần bán 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng.

Nguồn gốc ma túy H có để bán, H khai mua với một người tên P, tổng cộng H mua với P 04 lần vào khoảng thời gian từ cuối tháng 6/2024 đến ngày 19/7/2024, địa điểm giao dịch 02 lần tại thị trấn T và 02 lần tại xóm P, xã K, huyện T. Mỗi lần mua với số tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng và đều gặp trực tiếp để mua.

Quá trình điều tra, Đồn Biên phòng N1, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã triệu tập, lấy lời khai đối với Dương Văn H1 và Nông Đức T3. Lời khai của các đối tượng phù hợp với lời khai của H.

Về tài sản tạm giữ: 02 điện thoại của hai bị cáo liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy; 01 xe mô tô biển kiểm soát 11K1 – 155.84 đứng tên chủ sở hữu Hoàng Văn T, theo T và mẹ là Nông Thị T2 khai thì tiền mua xe là của bà T2; Số tiền 2.770.000đ do H làm thuê mà có.

Tại bản cáo trạng số 110/CT-VKSTK ngày 11 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã truy tố bị cáo Nông Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, truy tố Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

4

Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của các bị cáo. Quá trình điều tra các bị cáo tự nguyện khai báo và không có ý kiến khiếu nại đối với các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Bị cáo H khai: Bị cáo đã sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2022, bắt đầu bán kiếm lời từ tháng 7 năm 2024. Số người, số lần, số tiền bán đúng như cáo trạng thể hiện. Thời gian bán không cố định, địa điểm bán tại khu đường liên xóm tại xóm P, xã K. Bị cáo liên lạc với những người mua ma túy qua điện thoại. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung bị cáo sử dụng để liên lạc với những người mua ma túy. Số tiền mặt 2.770.000₫ là tiền bị cáo lao động có được.

Bị cáo T khai: Bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2022, để có ma túy sử dụng, bị cáo đã mua ma túy với Nông Văn H hai lần, một lần mua vào ngày 18/7/2024 với số tiền 200.000đ, một lần mua vào ngày 19/7/2024 với số tiền 400.000đ, bị cáo chỉ đưa 390.000đ cho H sau đó chưa kịp sử dụng thì bị bắt. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme bị cáo có sử dụng để liên lạc với bị cáo H. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, mang biển kiểm soát 11K1 – 155.84 do bị cáo đứng tên chủ sở hữu nhưng tiền mua xe là của mẹ bị cáo là bà Nông Thị T2, đây cũng là lần đầu tiên bị cáo dùng xe này đi mua ma túy và mẹ bị cáo cũng không biết việc này. Hiện nay gia đình bị cáo chỉ có duy nhất chiếc xe này làm phương tiện đi lại nên mong Hội đồng xét xử trả lại xe này cho mẹ bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nông Thị T2 khai bà là mẹ đẻ của Hoàng văn T. Ngày 19/7/2024, T sử dụng chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 11K1 – 155.84 để đi mua ma túy bà không biết, chiếc xe này sử dụng tiền tích góp của bà để mua, hiện nay gia đình bà chỉ có duy nhất chiếc xe này làm phương tiện đi lại. Vì vậy bà yêu cầu được nhận lại chiếc xe trên để làm phương tiện đi lại cho gia đình.

Kết thúc phần xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên nhận định các bị cáo đều có đầy đủ khả năng nhận thức về tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình phạm tội, căn cứ vào vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nông Văn H; Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự với bị cáo Hoàng Văn T. Xử phạt bị cáo Nông Văn H từ 07 - 08 năm tù; Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 12 - 18 tháng tù.

Về xử lý vật chứng đề nghị: Tịch thu tiêu hủy số Heroine thu giữ của T và H; Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động tạm giữ của bị cáo Hoàng Văn T và 01 điện thoại di động tạm giữ của bị cáo Nông Văn H. Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 11K1-155.84 cho bà Nông Thị T2; Trả lại số tiền 2.770.000đ cho bị cáo Nông Văn H nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

5

Truy thu số tiền 1.090.000 đồng đối với bị cáo Nông Văn H sung vào Ngân sách Nhà nước do bị cáo thu lợi bất chính từ hành vi mua bán ma túy có được.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo nghiện không có công việc thu nhập ổn định nên không đề nghị áp dụng.

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Qua quá trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết hợp với các lời khai của những người làm chứng đã khai tại Cơ quan điều tra về cách thức mua bán ma túy, thời gian, địa điểm cũng như số lần mua bán ma túy đã thực hiện, đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu và phù hợp với vật chứng đã thu được của các bị cáo. Cụ thể: Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 7/2024 đến ngày 19/7/2024, Nông Văn H đã bán trái phép chất ma túy, loại Heroine 05 lần cho 03 người, thu lợi bất chính số tiền 1.090.000 đồng. Đến ngày 19/7/2024, H tàng trữ trái phép 0,12 gam Heroine để sử dụng và bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt giữ. Ngoài ra khối lượng 0,12 gam Heroine mà bị cáo T tàng trữ trái phép sử dụng có nguồn gốc từ bị cáo H, nên bị cáo còn phải chịu thêm khối lượng 0,12g Heroine này cộng với khối lượng ma túy của mình bị bắt quả tang tổng là 0,24 gam.

Đối với Hoàng Văn T, ngày 19/7/2024, tại đoạn đường thuộc xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng, Trưởng bị tổ công tác Đồn Biên phòng N1 phối hợp với Công an xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 0,12 gam Heroine để sử dụng cho bản thân.

Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, tiếp tay cho tệ

6

nạn mua bán trái phép ma túy và các loại tội phạm khác ngày càng gia tăng hiện nay, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo biết việc tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện ma túy của bản thân và vì lợi nhuận nên bất chấp thực hiện với lỗi cố ý, đồng thời khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo Nông Văn H bán ma túy nhiều lần nên bị coi là phạm tội 02 lần trở lên, là tình tiết định khung được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Hoàng Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng là 0,12g (Không phẩy mười hai gam), hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Như vậy, hành vi của bị cáo Nông Văn H có đủ các yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; Hành vi của bị cáo Hoàng Văn T có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái pháp chất ma túy" như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện đã truy tố và đề nghị mức án đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên cùng được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Xét về nhân thân: Ngày 13/6/2016, bị cáo H bị Công an phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, các bị cáo sử dụng ma túy là chất Nhà nước cấm dưới mọi hình thức nên đều là người có nhân thân xấu. Do đó, các bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với mức độ hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện. Xét mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp nên được chấp nhận.

[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Số Heroine thu giữ của hai bị cáo là vật chứng vụ án và là chất Nhà nước cấm tàng trữ sử dụng dưới mọi hình thức nên tịch thu tiêu hủy. 02 điện thoại di động tạm giữ của hai bị cáo đều liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước. 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 11K1-155.84 cả bị cáo và người liên quan bà Nông Thị T2 đều xác nhận nguồn tiền mua xe là của bà T2 tích góp mà có. Đây cũng là lần đầu tiên bị cáo dùng xe đi mua ma túy, bà T2 không có lỗi trong việc bị cáo dùng xe này thực hiện hành vi phạm tội, hiện nay xe này là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình. Do đó cần trả lại xe này cho bà T2 để làm phương tiện đi lại là phù hợp với quy định của pháp luật. Số tiền 2.770.000đ không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Nông Văn H, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

7

[5] Các nhận định khác:

  • - Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được bị cáo H bán ma túy 05 lần cho 03 người, thu lợi bất chính số tiền 1.090.000 đồng. Vì vậy truy thu số tiền này để sung ngân sách Nhà nước.
  • - Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, H khai mua với một người đàn ông tên P nhưng không nhân thân lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng không có căn cứ mở rộng vụ án nên không đề nghị xử lý trong vụ án này là có căn cứ.

[6] Về án phí: Các bị cáo H và T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ các điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nông Văn H;
  • - Căn cứ các điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự với bị cáo Hoàng Văn T;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy

2. Về hình phạt:

  • - Xử phạt bị cáo Nông Văn H 07 năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 19/7/2024;
  • - Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 12 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 19/7/2024;

3. Truy thu bị cáo Nông Văn H số tiền 1.090.000₫ để nộp vào ngân sách Nhà nước.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong, mặt trước phong bì ghi: "Vật chứng vụ Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 19/7/2024, tại xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng".
  • - Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu trắng bạc của bị cáo Hoàng Văn T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng đồng của bị cáo Nông Văn H.
  • - Trả lại cho bà Nông Thị T2 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 11K1-155.84 (có chìa khóa kèm theo).
  • - Trả lại số tiền 2.770.000đ cho bị cáo Nông Văn H nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

8

Xác nhận số vật chứng trên đã chuyển sang cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Trùng Khánh.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nông Văn H và Hoàng Văn T mỗi người phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cao Bằng;
  • - VKSND tỉnh Cao Bằng;
  • - Sở tư pháp;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh;
  • - VKSND huyện TK;
  • - Công an huyện; Nhà tạm giữ CATK;
  • - Chi cục THADS huyện TK;
  • - UBKT HU TK;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - UBND xã Khâm Thành (Bằng TB);
  • - Lưu HS vụ án;
  • - Lưu án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nông Văn Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG về hình sự (mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 115/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nông Văn H, Hoàng Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger