Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỎ CÀY BẮC

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 02/12/2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Văn Mưa Lớn;
  2. Ông Nguyễn Thanh Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên tòa: Ông Phan Trọng Thế – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 303/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 277/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị N, sinh năm: 1979;
  2. Địa chỉ: 2 T, phường T, Tp V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

  3. Bị đơn: anh Trần Văn L, sinh năm: 1971;
  4. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

(Chị N, anh L có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 19 tháng 9 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:

Chị với anh Trần Văn L do tự tìm hiểu và tự nguyện kết hôn năm 2007, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Sau khi cưới, anh chị sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó không còn hạnh phúc nữa do vợ chồng hay mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng chị đã tìm cách tháo gỡ, chị N góp ý anh L sửa đổi nhưng một thời gian mọi việc vẫn vậy. Gia đình hai bên biết anh chị bất hòa và cũng khuyên nhủ để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Chị với anh L đã ly thân mỗi người ở một nơi. Trong thời gian ly thân, cả hai còn quan tâm, lui tới thăm nhau vì con. Vợ chồng không còn tình cảm nhưng vẫn còn quan tâm là vì còn tình nghĩa. Tuy nhiên, nếu tiếp tục hàn gắn và duy trì quan hệ vợ chồng với anh L thì chị không thể tiếp tục. Từ khi ly thân đến nay, mâu thuẫn của vợ chồng chị N không được tháo gỡ nên tình trạng vợ chồng chị không cải thiện. Nay, chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.

Về con chung: anh chị có 01 con chung Trần Thị Phương L1, sinh ngày 18/10/2007. Hiện nay, cháu L1 đang sống với chị N. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu L1, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị N không yêu cầu anh L cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.

Tại bản tự khai ngày 14/11/2024, chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt do nhà xa không tiện cho việc đến dự các phiên họp, phiên tòa. Chị N không khiếu nại về sau.

Tại bản tự khai ngày 04/11/2024, bị đơn anh Trần Văn L trình bày:

Anh L với với chị N do tự tìm hiểu và tự nguyện kết hôn năm 2007, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Sau khi cưới, anh chị sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó không còn hạnh phúc nữa do vợ chồng hay mâu thuẫn, bất đồng quan điểm từ đó anh chị không có tiếng nói chung. Anh chị đã ly thân mỗi người ở một nơi, mạnh ai người nấy sống nhưng có liên lạc, tới lui, quan tâm cuộc sống của nhau. Nay, anh L xác định không còn tình cảm với chị N nên đối với yêu cầu xin ly hôn của chị N, anh L đồng ý.

Về con chung: anh chị có 01 người con chung là Trần Thị Phương L1, sinh ngày 18/10/2007, hiện cháu L1 đang sống với chị N. Sau khi ly hôn, anh L đồng ý để chị N tiếp tục nuôi dưỡng cháu L1. Chị N không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con, anh L đồng ý.

Về tài sản chung: tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh L không yêu cầu chị N cấp dưỡng sau khi ly hôn.

Anh L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt do bận công việc và không có khiếu nại về sau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đề nghị:

Về thủ tục thụ lý cũng như quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định và tại phiên toà Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ các Điều 21, 28, 35, 39, 217 Bộ Luật TTDS 2015; Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật HNGĐ 2014;

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N đối với anh Trần Văn L.

- Về con chung: Sau ly hôn, chị N tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trần Thị Phương L1 (sinh ngày 18/10/2007).

- Về cấp dưỡng: anh L không phải cấp dưỡng nuôi con; cấp dưỡng giữa vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

- Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: ngày 19/9/2024, chị Nguyễn Thị N khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn L. Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 56, 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N, bị đơn anh Trần Văn L có yêu cầu giải quyết vắng mặt, phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

[2] Đối với yêu cầu ly hôn của chị N:

Chị N, anh L tự nguyện kết hôn vào năm 2007 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre, anh chị được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2007. Chứng cứ này là có cơ sở nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới, thời gian đầu anh chị sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thường hay cãi vã và từ đó không có tiếng nói chung. Khi xảy ra mâu thuẫn, anh chị đã tìm cách tháo gỡ. Gia đình hai bên biết vợ chồng chị N bất hòa và tổ chức hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Chị N, anh L ly thân sống mỗi người một nơi, mâu thuẫn của vợ chồng chị đến nay chưa được tháo gỡ; từ khi Tòa án tổ chức hòa giải đến nay tình trạng hôn nhân của anh chị không có cải thiện. Chị N xác định không còn tình cảm nên xin ly hôn với anh L. Đối với yêu cầu của chị N, anh L đồng ý nên có cơ sở khẳng định, tình trạng của vợ chồng chị N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị N là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Về nuôi con chung: chị N, anh L có 01 con chung là Trần Thị Phương L1, sinh ngày 18/10/2007. Hiện nay, cháu L1 đang sống với chị N. Sau khi ly hôn, chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trần Thị Phương L1, sinh ngày 18/10/2007. Đối với yêu cầu này của chị N, anh L đồng ý nên ghi nhận. Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con.

[4] Về cấp dưỡng: chị N không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận. Vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết chị N có quyền yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về chia tài sản chung: tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị N, anh L không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc là có căn cứ nên được chấp nhận.

[7] Về án phí: chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N xin ly hôn đối với anh Trần Văn L;

* Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N với anh Trần Văn L.

* Về nuôi con chung: chị Nguyễn Thị N được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trần Thị Phương L1, sinh ngày 18/10/2007.

Ghi nhận chị Nguyễn Thị N không yêu cầu anh Trần Văn L cấp dưỡng nuôi con.

Anh Trần Văn L được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con. Chị Nguyễn Thị N có quyền yêu cầu anh Trần Văn L cấp dưỡng nuôi con.

* Về chia tài sản chung: tự thoả thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Nguyễn Thị N và anh Trần Văn L không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.

2. Về án phí: chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004524 ngày 14/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - UBND xã Tân Phú Tây;
  • - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

đã ký

Lê Thị Minh Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HNGĐ-ST ngày 02/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 115/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị N ly hôn Trần Văn L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger