|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY - HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 115/2024/HSST
Ngày: 28/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tú.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Hoà và bà Đào Thị Minh Nguyệt.
Thư ký phiên toà: Ông Lê Đức Thuận - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 118/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Hà Thị H, sinh năm 1979 tại thị xã S, Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã Đ, thị xã S, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Xuân Đ và bà Nguyễn Thị L; có chồng Phan Văn K đã ly hôn và 03 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/7/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Công an thị xã S, Hà Nội; Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Phùng Thị H1, sinh năm 1983; Trú tại: Thôn Q, xã Y, B, Hà Nội; vắng mặt.
- + Phùng Văn T, sinh năm 1988; Trú tại: Thôn H, xã S, huyện P, Hà Nội; vắng mặt.
- + Lê Anh Q, sinh năm 1977; Trú tại: số A đường Đ, phường X, thị xã S, Hà Nội; vắng mặt.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 22/7/2024, Hà Thị H, đang bán hàng ở quán bia “Thu Hoài” của mình, tại khu vực đường tránh Quốc lộ B thuộc phường T, TX S, thì có anh Phùng Văn T và Lê Anh Q đến quán ngồi uống bia. Trong lúc uống bia, T hỏi H việc có quen biết bạn nữ nào bán dâm thì giới thiệu cho T. H sử dụng điện thoại nhãn hiệu ViVo màu xanh, lắp sim số: 0386804485 gọi điện cho Phùng Thị H1 rủ đi bán dâm, H1 đồng ý. T có hỏi giá tiền một lần mua dâm bao nhiêu, H trả lời 2.000.000 đồng/1 lần mua dâm. T nói không có đủ 2.000.000 đồng mà chỉ có 1.500.000 đồng, H đồng ý rồi cầm tiền 1.500.000 đồng của Phùng Văn T. Sau đó, Q lại hỏi H về việc đi bán dâm cho Q thì H đồng ý và thỏa thuận 1 lần bán dâm là 1.500.000 đồng, Q lấy số tiền 1.500.000 đồng đưa cho Hà Thị H để trả trước tiền mua dâm.
Sau đó H hẹn T và Q đến nhà nghỉ P tại: Số A ngõ A đường T, phường T, TX S lấy phòng trước, H sẽ đến sau. T và Q đi taxi đến nhà nghỉ P gặp lễ tân lấy 02 phòng 201 và 202. Hà Thị H dọn dẹp đóng cửa hàng, điều khiển xe máy điện, BKS: 29MĐ2-842.22 đi đến nhà nghỉ P. Khi đến nhà xe của nhà nghỉ, Hà Thị H đưa cho Phùng Thị H1 số tiền 400.000 đồng tiền công bán dâm cho T. H1 cầm tiền rồi cùng H đi vào gặp lễ tân hỏi T và Q đang ở phòng nào thì bà X chỉ lên phòng 201 và 202. H và H1 lấy 02 giỏ nhựa của nhà nghỉ có nước uống và bao cao su đi lên phòng nghỉ. Khi lên đến nơi thì H nhìn thấy Lê Anh Q đang ở phòng 201 nên H đi vào phòng 201 và bảo H1 đi vào phòng 202.
Sau khi vào phòng, Hà Thị H và Lê Anh Q, Phùng Thị H1 và Phùng Văn T đã cởi quần áo quan hệ tình dục mua bán dâm, đến 12 giờ 30 phút ngày 22/7/2024 thì bị tổ công tác Đ1 - Công an thị xã S kiểm tra nhà nghỉ, phát hiện bắt quả tang lập biên bản, thu giữ vật chứng:
T1 tại phòng 201: 01 (Một) bao cao su chưa sử dụng do Phùng Thị H1 và Lê Anh Q đã quan hệ tình dục trực tiếp không sử dụng biện pháp an toàn.
T1 tại phòng 202: 01 (Một) bao cao su đã qua sử dụng; 01 (Một) vỏ bao cao su đã qua sử dụng;
T1 của Hà Thị H: Số tiền 3.298.000 đồng (trong đó có 1.500.000 đồng là tiền Q mua dâm của H và số tiền 1.100.000 đồng là tiền công H giới thiệu H1 bán dâm
2
cho T); 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh, kiểu máy: V2029, Imei 1: 867695051279833, Imei 2: 867695051279825, lắp sim số: 0386.804.485 là điện thoại H sử dụng để gọi điện rủ Phùng Thị H1 đi bán dâm cho T; 01 xe máy điện nhãn hiệu YADEA, BKS: 29MĐ2-842.22, số máy: HFT14ZW7260025YECEVP401055Y; số khung: RL9YVFNYAPCF21700, màu đen trắng, đã qua sử dụng.
Thu của Lê Anh Q: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, Imei: 354275382038693, đã qua sử dụng.
T1 của Phùng Thị H1: Số tiền 1.400.000 đồng (trong đó có 400.000 đồng là tiền công bán dâm do H1 đưa); 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Star 5, vỏ màu xanh, Imei 1: 358877981913998, Imei 2: 358877981914004, lắp sim số: 0982.051.683; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vison màu đen, BKS: 19K1-123.30, số khung: RLHJF3311DY347157, số máy: JF33E-0422180 đã qua sử dụng.
Thu của Phùng Văn T: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia E63 màu đen, Imei: 356939031558025 đã qua sử dụng.
Hành vi mua dâm của Phùng Văn T và Lê Anh Q đã vi phạm khoản 1 Điều 24 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, ngày 06/09/2024, Công an T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phùng Văn T và Lê Anh Q với mức phạt tiền là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).
Hà Thị H và Phùng Thị H1 có hành vi bán dâm ngày 22/7/2024 đã vi phạm khoản 1 Điều 25 Nghị định 144/2021/NĐ - CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, ngày 06/9/2024 Công an thị xã S đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phùng Thị H1 và Hà Thị H về hành vi “Bán dâm” với mức phạt tiền là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng).
Đối với Nguyễn Thu H2 là chủ đăng ký hộ kinh doanh nhà nghỉ P nhưng thiếu trách nhiệm trong việc quản lý hoạt động kinh doanh của nhà nghỉ để xảy ra hành vi “Môi giới mại dâm” và “Mua bán dâm” vi phạm vào điểm b Khoản 4 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ. Cơ quan CSĐT Công an T đã trình UBND thị xã S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với chị Nguyễn Thu H2 là chủ đăng ký hộ kinh doanh nhà nghỉ Phương N về hành vi “Thiếu trách nhiệm để xảy ra hành vi xâm hại đến an ninh trật tự, hành vi vi
3
phạm pháp luật, hành vi trái với đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc tại cơ sở kinh doanh trực tiếp quản lý” với mức phạt tiền là 15.000.000 đồng.
Đối với (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, Imei: 354275382038693 là tài sản hợp pháp của Lê Anh Q; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia E63 màu đen, Imei: 356939031558025 là tài sản hợp pháp của Phùng Văn T; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vison màu đen, BKS: 19K1-123.30, số khung: RLHJF3311DY347157, số máy: JF33E-0422180 và số tiền 01 triệu đồng là tài sản hợp pháp của Phùng Thị H1, không liên quan đến hành vi mua bán dâm ngày 22/7/2024. Cơ quan CSĐT Công an thị xã S đã ra Quyết định xử lý vật chứng, bằng hình thức trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp.
Tại bản cáo trạng số 116/CT – VKS ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Hà Thị H về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 328; điểm I, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Hà Thị H mức án từ 9 đến 12 tháng tù về Tội môi giới mại dâm, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 22/7/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Đối với 02 bao cao su và 01 vỏ bao cao su đã bóc, xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Star 5, vỏ màu xanh là phương tiện bị cáo và H1 dùng liên lạc, trao đổi việc mua, bán dâm nên cần tịch thu, sung công. Số tiền 2.600.000 đồng thu của bị cáo H và 400.000 đồng thu của H1 là tiền thu lợi từ môi giới mại dâm và bán dâm nên cần tịch thu, sung công. Còn lại số tiền 698.000 đồng và 01 xe máy điện nhãn hiệu YADEA, BKS: 29MĐ2-842.22 xét không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo H.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì khác về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Hà Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 22/7/2024, tại quán bia “Thu Hoài”, ở khu vực đường tránh Quốc lộ B, phường T, S, Hà Nội, Hà Thị H đã có hành vi trung gian dẫn dắt để Phùng Thị H1 bán dâm cho Phùng Văn T với số tiền thu lợi bất chính là 1.100.000 đồng. Đến 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi H1 và T đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng 202 nhà nghỉ P, địa chỉ: Số A, ngõ A đường T, phường T, S, Hà Nội thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát hình sự, Công an thị xã S kiểm tra, phát hiện. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm” được quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét hành vi phạm tội môi giới mại dâm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến đạo đức, thuần phong, mỹ tục, đến đời sống văn hóa mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Do đó, cần có mức hình phạt tù cách ly bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, có con đang còn nhỏ. Đó là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Do vậy, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cần xem xét cân nhắc để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
5
[5] Về Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, kinh tế khó khăn, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 02 bao cao su và 01 vỏ bao cao su đã bóc, xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Star 5, vỏ màu xanh là phương tiện bị cáo và H1 dùng liên lạc, trao đổi việc mua, bán dâm nên cần tịch thu, sung công. Số tiền 2.600.000 đồng thu của bị cáo H và 400.000 đồng thu của H1 là tiền thu lợi từ môi giới mại dâm và bán dâm nên cần tịch thu, sung công. Còn lại số tiền 698.000 đồng và 01 xe máy điện nhãn hiệu YADEA, BKS: 29MĐ2-842.22 xét không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo H.
[8] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 328, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Hà Thị H 09 (Chín) tháng tù về Tội môi giới mại dâm, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 22/7/2024.
- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 02 bao cao su và 01 vỏ bao cao su đã qua sử dụng. Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 3.000.000 đồng. Tịch thu, phát mại nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Star 5, vỏ màu xanh. Trả lại cho bị cáo Hà Thị H 01 xe máy điện nhãn hiệu YADEA, BKS: 29MĐ2-842.22 và số tiền 698.000 đồng.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/10/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây và Công an thị xã S và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 01/11/2024 giữa Kho bạc thị xã S và Công an thị xã S)
- Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hà Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ Điều 331và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
6
*Nơi nhận:
- - Toà án nhân dân TP Hà Nội;
- - VKSND TX Sơn Tây;
- - Chi cục THADS TX Sơn Tây;
- - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
- - Lưu HS vụ án + VPTA.
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Tú |
7
Bản án số 115/2024/HSST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về môi giới mại dâm
- Số bản án: 115/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Môi giới mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H phạm tội môi giới mại dâm
