Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HS-ST

Ngày 28-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: ông Nguyễn Chí Mạnh

Các hội thẩm nhân dân: ông Phạm Quốc Hưng và bà Nguyễn Thị Hảo

- Thư ký phiên tòa: bà Đặng Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Đặng Quang Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 115/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đoàn Ngọc V, (tên gọi khác: không), giới tính: nam, sinh ngày 30/11/1993, tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Nơi cư trú: khu A, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không, trình độ học vấn: lớp 09/12, nghề nghiệp: không. Con ông Đoàn Văn T và bà Bùi Thị H, vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: chưa có. Bị cáo bị bắt truy nã ngày 02/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M. Có mặt.

- Bị hại: anh Nguyễn Trường C, sinh năm 1995. Địa chỉ: khu A, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • +) Anh Trần Mạnh C1, sinh năm 1985. Địa chỉ: khu C, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
  • +) Bà Bùi Thị T1, sinh năm 1958. Địa chỉ: khu B, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
  • +) Bà Bùi Thị H, sinh năm 1967. Địa chỉ: khu A, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

- Người làm chứng: anh Phạm Văn L. Vắng mặt.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 15/6/2014, sau khi Đoàn Ngọc V chơi trò chơi “bắn cá” tại quán điện tử ở khu vực chợ A thuộc phường H, thành phố M, bị thua hết tiền và đi về thì gặp anh Nguyễn Trường C là hàng xóm gần nhà của V đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu vàng đen, biển số 14K1-075.23 đi vào chợ. Lúc này, V nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe của anh C đem bán lấy tiền để tiếp tục chơi “bắn cá”. V nhờ anh C chở đến nhà nghỉ P, thuộc phường T, thành phố M, để gặp anh Phạm Văn L đang thuê phòng tại tầng 3 nhà nghỉ. Khi đến nơi, V rủ anh C lên phòng anh L thuê nghỉ, anh C đồng ý. Tại đây, V đặt vấn đề với anh C mượn điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 3S để gọi cho bạn lấy tiền trả tiền phòng và mượn xe mô tô biển số 14K1-075.23 của anh C để đi lấy tiền, do tin tưởng V nên anh C đồng ý và đưa điện thoại, chìa khóa xe cho V. Để tạo lòng tin với anh C là V sẽ quay lại, V đưa chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280 cho anh L và bảo dùng để liên lạc cho V, rồi V cầm điện thoại xuống lấy xe mô tô của C bỏ đi. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, V đem chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 3S đến cửa hàng điện thoại của anh Trần Mạnh C1 ở khu C, phường T bán lấy 500.000 đồng, rồi quay lại quán điện tử tiếp tục chơi trò chơi “bắn cá” và bị thua hết tiền.

Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, V rủ một người bạn cùng chơi “bắn cá” (không rõ lai lịch, địa chỉ) điều khiển xe mô tô biển số 14K1-075.23 đến nhà của bà Bùi Thị T1 ở khu B, phường H, rồi cầm cố chiếc xe cho bà T1 lấy 5.200.000 đồng. Sau đó, V tiếp tục đến quán “bắn cá” chơi, rồi bị thua hết tiền và sau đó bỏ trốn. Đến ngày 16/6/2014, anh Nguyễn Trường C không thấy V đem xe mô tô và điện thoại về trả, nên đã đến Công an trình báo.

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra, thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu vàng đen, biển số 14K1-075.23 do bà Bùi Thị T1 giao nộp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen do anh Phạm Văn L giao nộp.

Căn cứ tài liệu điều tra, ngày 11/8/2014, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Quyết định truy nã, đối với Đoàn Ngọc V. Đến ngày 02/9/2024, Đoàn Ngọc V bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M bắt theo Quyết định truy nã.

Tại các bản kết luận định giá tài sản số 1062/BB-KLĐG ngày 11/7/2014 và số 1125/BB-KLĐG ngày 10/10/2014, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố M, kết luận: xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu vàng đen, mang biển số 14K1-075.23, trị giá 19.975.000 đồng; chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 3S, màu đen, trị giá 1.500.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 21.475.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị can Đoàn Ngọc V khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

3

Bị hại Nguyễn Trường C có lời khai: do quen biết với Đoàn Ngọc V, sinh ngày 30/11/1993, nơi cư trú: khu A, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Do đó, khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/6/2014 anh đang trên đường đến chợ A thì gặp V tại quán B thuộc đường Đ, phường T, thành phố M, V có nhờ anh chở vào nhà nghỉ P, thuộc phường T, thành phố M, sau đó V dẫn anh lên phòng của nhà nghỉ, tại đây anh thấy có L đang trong phòng nghỉ. Sau khi lên phòng nghỉ được một lúc thì V có hỏi mượn anh điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 3S của anh để liên lạc và V có gọi điện cho ai đó, sau khi gọi điện thoại xong V lại hỏi mượn của anh chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu vàng đen, mang biển số 14K1-075.23 của anh để V đi lấy tiền để trả tiền phòng, khi đi V có để lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 của V cho L cầm và nói để liên lạc với V. Sau khi V mượn điện thoại và xe máy của anh đi không thấy quay lại trả tiền phòng, điện thoại và xe máy cho anh, anh và L có nhiều lần gọi thì V hẹn khoảng 2 tiếng Vượng về nhưng sau đó V tắt máy điện thoại không liên lạc được. Đến khoảng 01 giờ ngày 16/6/2014 không thấy V về anh C mới ra về và sau đó anh được L cho biết V đã cầm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 3S của anh tại quán C2 thuộc địa phận phường T, thành phố M còn chiếc xe L không biết V đã cầm cố hay chưa. Sau đó anh đến Công an trình báo toàn bộ nội dung sự việc và anh được biết V đã bỏ trốn khỏi địa phương, cơ quan Công an đã ra quyết định truy nã đối với V.

Quan điểm của anh C về bồi thường dân sự, đối với chiếc xe máy anh đã được cơ quan điều tra Công an thành phố M trả lại, đối với điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 3S anh đã được bà Bùi Thị H (là mẹ của V) bồi thường. Do đó, anh không có ý kiến gì. Về trách nhiệm hình sự anh đề nghị giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Mạnh C1 có lời khai: khoảng 14 giờ 30 phút ngày 15/6/2014 anh đang ở cửa hàng của anh mang tên Mạnh C1 thuộc khu C, phường T, thành phố M thì có một nam thanh niên khoảng 20 tuổi (sau này biết tên Đoàn Ngọc V) có đến đặt vấn đề bán lại cho anh 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 3S, V có nói là chiếc điện thoại trên của V, cần tiền nên bán. Sau một lúc thỏa thuận V đồng ý bán chiếc điện thoại trên cho anh với giá 500.000 đồng. Sau khi mua lại chiếc điện thoại trên anh đã bán lại cho khách hàng với giá 650.000 đồng. Anh C1 không biết chiếc điện thoại trên là do V phạm tội mà có.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị T1 có lời khai: khoảng 17 giờ 30 phút ngày 15/6/2014, bà đang ở nhà thì có Đoàn Ngọc V là người quen thường xuyên đến chơi bi a tại nhà bà có đi 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu vàng đen, mang biển số 14K1-075.23 chở theo 01 nam thanh niên bà không biết tên đến hỏi vay bà số 5.200.000 đồng và để lại chiếc xe máy của V đang đi để làm tin và hẹn 05 ngày sẽ trả tiền và lấy xe, bà có hỏi nguồn gốc chiếc xe máy thì V nói xe của V. Do đó, bà đồng ý và đưa cho V vay tiền. Tuy nhiên, sau đó không thấy V quay lại trả tiền và lấy xe như đã hẹn. Sau đó khoảng 01

4

tháng thì bà được Công an thành phố M thông báo cho biết chiếc xe trên do V phạm tội mà có nên bà đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Đối với số tiền 5.200.000 đồng gia đình V đã bồi thường cho bà nên bà không có ý kiến gì.

Người có quyền lợi ngĩa vụ liên quan bà Bùi Thị H có lời khai: bà là mẹ đẻ của Đoàn Ngọc V. Khoảng ngày 04/9/2014 bà có được cơ quan điều tra Công an thành phố M thông báo cho bà biết việc con trai bà có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Trường C là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 3S và 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu vàng đen, biển kiểm soát 14K1-075.23 mang đi cầm cố và sau đó bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 02/9/2024 V bị bắt theo quyết định truy nã của Công an thành phố M. Sau khi V bị bắt V đã bảo bà bồi thường số tiền 5.200.000 đồng là số tiền V cầm xe cho bà Bùi Thị T1 và bồi thường cho anh C giá trị chiếc điện thoại.

Quan điểm của bà đối với số tiền trên bà cho V và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo V.

Người làm chứng anh Phạm Văn L trình bày: khoảng 14 giờ 30 phút ngày 15/6/2014 tại tầng 3 nhà nghỉ P, thuộc phường T, thành phố M anh được chứng kiến Đoàn Ngọc V mượn của anh Nguyễn Trường C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 3S để gọi và sau đó mượn tiếp 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu vàng đen, mang biển số 14K1-075.23 Vượng có nói với anh và anh C là V đi lấy tiền để trả tiền phòng, trước khi đi V có để lại cho anh 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 nói để liên lạc với V. Sau khi V đi vì thời gian lâu không thấy quay về trả tiền phòng và trả điện thoại, xe máy cho anh C nên anh L có nhiều lần liên lạc với V nhưng V1 đều trả lời đợi V khoảng 02 tiếng Vượng về nhưng sau đó V không về. Do đó, anh và anh C đến khoảng 01 giờ ngày 16/6/2014 mới về mà chưa trả tiền phòng. Đến ngày hôm sau khi anh liên lạc với V thì V có nói đã cầm cố chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 3S tại quán C2 thuộc địa phận phường T, thành phố M với số tiền 500.000 đồng, còn chiếc xe V không nói gì. Sau đó anh đã thông báo thông tin trên cho anh C biết. Còn đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 anh đã giao nộp cho cơ quan điều tra Công an thành phố M xử lý theo quy định.

Bản cáo trạng số 2273/CT-VKSMC ngày 11/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Đoàn Ngọc V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên Tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái giữ quyền công tố Nhà nước vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đoàn Ngọc V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự 2015, Nghị quyết số 41/2017/NQ-QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Đoàn Ngọc V từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/09/2024.

5

Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen đã qua sử dụng.

Phần tranh luận: bị cáo không tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có cơ hội được sửa chữa sai lầm, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đoàn Ngọc V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999. Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về chứng cứ: Tại phiên tòa bị cáo Đoàn Ngọc V thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

[3] Về tội danh: như vậy căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo trước Tòa, lời khai của bị hại và của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận định giá tài sản, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: khoảng 13 giờ ngày 15/6/2014, tại nhà nghỉ P, thuộc phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Đoàn Ngọc V đã có hành vi gian dối để chiếm đoạt chiếc mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu vàng đen, biển số 14K1-075.23, trị giá 19.975.000 đồng và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 3S, màu đen, trị giá 1.500.000 đồng của anh Nguyễn Trường C. Tổng giá trị tài sản V chiếm đoạt là 21.475.000đ (hai mươi mốt triệu bốn trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đã truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn khách quan, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) quy định:

6

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm...”.

[4] Về đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Tài sản thuộc quyền sở hữu của công dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, nếu ai xâm phạm sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Đoàn Ngọc V là người đã trưởng thành, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do tu dưỡng, rèn luyện đạo đức kém lợi dụng sự tin tưởng của bị hại dùng thủ đoạn gian dối mượn tài sản của bị hại rồi chiếm đoạt mang đi cầm cố lấy tiền tiêu sài cá nhân, sau đó bỏ trốn khỏi địa phương gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố. Do đó, cần có hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung và trừng trị riêng đối với bị cáo.

[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

  • - Tình tiết tăng nặng: không.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo có nhân thân tốt, tiền án tiền sự chưa có, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có ý thức tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì thế, cần giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

[6] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 sự có thể phạt bị cáo một khoản tiền để sung ngân sách Nhà nước. Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về bồi thường dân sự: bị hại anh Nguyễn Trường C đã nhận lại xe mô tô biển số 14K1-075.23 và được bà Bùi Thị H (là mẹ của V) bồi thường đối với điện thoại không thu hồi được. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị T1 được bà H bồi thường thỏa đáng. Các anh C, C1 và bà T1 không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng: tang vật là chiếc xe mô tô biển số 14K1-075.23 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M đã trả lại cho người bị hại anh Nguyễn Trường C. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen của V đưa cho anh L không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo.

7

[9] Các tình tiết khác: đối với bà Bùi Thị T1 và anh Trần Mạnh C1, là những người nhận cầm cố, mua tài sản của Đoàn Ngọc V, nhưng không biết tài sản do phạm tội mà có, anh Phạm Văn L không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của Đoàn Ngọc V. Nên không có căn cứ để xử lý.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định.

[11] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009); điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự 2015; Nghị quyết số 41/2017/NQ-QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.

Xử phạt: bị cáo Đoàn Ngọc V 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 02/9/2024.

  • - Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 20/2025/THA ngày 14/11/2024 giữa Công an thành phố M và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái).

  • - Về án phí và quyền kháng cáo: căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo bị cáo Đoàn Ngọc V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, có mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị H, vắng mặt bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Móng Cái;
  • - Cơ quan điều tra cùng cấp;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an thành phố Móng Cái;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; Người có QLNVLQ;
  • - Chi cục THADS thành phố Móng Cái;
  • - Lưu án văn + Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Chí Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 115/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt 15 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger