Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 115/2024/HS-ST

Ngày 26-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Doanh

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Gia Khải;
  2. Ông Đặng Ngọc Tân.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án số 12/TB-TA ngày 24 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 10A/2024/HSST-QĐ ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với:

Bị cáo: Trương Tuấn A, sinh ngày 06/10/1999, tại xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn K, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng; Nơi ở: thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Tất H, sinh năm 1971 và bà: Đoàn Thị H1 (đã chết); Vợ: Vũ Thị L, sinh năm 1999; Con: Có 02 con sinh năm 2022 và 2024.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 136/QĐ-XPHC ngày 12/5/2022 của Công an huyện Q xử phạt 6.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích cho người khác xảy ra vào ngày 17/02/2022; ngày 23/5/2022 thi hành xong;

Bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/5/2024 đến nay tại xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Đào Văn L1, sinh năm 2006
  • Nơi cư trú: thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình;
  • Anh Nguyễn Hữu H2, sinh năm 2000
  • Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình;
  • Anh Đào Khắc T, sinh năm 2002
  • Nơi cư trú: thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình;
  • Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1999
  • Anh Phạm Minh T2, sinh năm 1999
  • Cùng cư trú: thôn D, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình;
  • Anh Nguyễn Hoàng Trung H3, sinh ngày 17/11/2006
  • Nơi cư trú: thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình
  • Anh Trương Đại T3, sinh năm 2005
  • Nơi cư trú: thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình;
  • Anh Trần Hữu T4, sinh năm 2005
  • Nơi cư trú: tổ A, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình;
  • Chị Vũ Thị L, sinh năm 1999,
  • Nơi cư trú: thôn K, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng, nơi ở: thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình

2.3. Người làm chứng:

  • Anh Nguyễn Hữu H4, sinh năm 2000
  • Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình;
  • Chị Nguyễn Thị Dương H5, sinh năm 2000
  • Nơi cư trú: thôn D, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình;
  • Chị Phạm Thu H6, sinh năm 2004
  • Nơi cư trú: thôn D, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình;
  • Anh Hà Quang D, sinh năm 2004
  • Nơi cư trú: tổ A, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình;
  • Anh Mai Ngọc C, sinh năm 2002
  • Nơi cư trú: thôn D, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình;
  • Anh Nguyễn Văn T5, sinh năm 1986
  • Nơi cư trú: tổ E, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo; vắng mặt những người tham gia tố tụng khác)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 3/2022 đến ngày 16/3/2024, tại chỗ ở của Trương Tuấn A ở thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Trương Tuấn A đã sử dụng nguồn tiền cá nhân để cho vay, hình thức giao và nhận tiền trực tiếp hoặc chuyển khoản qua số tài khoản 88306101999, mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần V1, chi nhánh T9 (V2) và số tài khoản 3406838699999, mở tại Ngân hàng N1, chi nhánh Q (A1), chủ tài khoản Trương Tuấn A, cho 08 người vay tiền với lãi suất từ 180%/năm đến 304%/năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%) từ 9 lần đến 15,2 lần. Khi vay tiền, người vay không phải thế chấp, cầm cố tài sản, thỏa thuận Tuấn A sẽ thu luôn tiền lãi kỳ đầu tiên (24 ngày hoặc 1 tháng) trừ vào khoản tiền vay, các kỳ sau trả lãi vào ngày đầu kỳ, người vay có thể trả tiền gốc vào bất kỳ thời gian nào trong kỳ. Tùy vào các mối quan hệ, việc cho vay có thể hoặc không lập văn bản và các giao dịch thỏa thuận vay có thể trao đổi trực tiếp hoặc qua ứng dụng Messenger tài khoản “Truong Tuan Anh” của Tuấn A đăng nhập trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu xám với người vay. Cụ thể:

- Người quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%) từ 5,475 lần và 9,125 lần, cụ thể:

- Người vay thứ 1: Khoảng đầu tháng 3/2022, qua trao đổi trên ứng dụng Messenger giữa Tuấn A và tài khoản “Đào Văn L1” của anh Đào Văn L1, sinh năm 2006, trú tại: thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Tuấn A cho anh L1 vay 10.000.000 đồng, có lập văn bản. Tuấn A đưa anh L1 8.000.000 đồng tiền mặt, thu tiền lãi kỳ đầu 2.000.000 đồng (01 tháng), tương đương mức lãi suất 240%/năm, vượt lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 12 lần. Sau khi vay, anh L1 đã 2 lần chuyển khoản (ngày 04/4/2022 và 04/5/2022) từ số tài khoản 881204069999, chủ tài khoản Đào Văn L1, mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 (M) đến số tài khoản V2 của Tuấn A số tiền 4.000.000 đồng trả tiền lãi cho 2 kỳ tiếp theo. Đến kỳ trả lãi thứ 4, do không có khả năng chi trả, anh L1 thỏa thuận xin Tuấn A chỉ trả gốc, không trả lãi, Tuấn A đồng ý. Như vậy, số tiền lãi Tuấn A đã thu trong 3 kỳ là 6.000.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 500.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 5.500.000 đồng. Anh H3 đã trả Tuấn A số tiền gốc 10.000.000 đồng.

- Người vay thứ 2: Trong các ngày 17/3/2022, 18/3/2022 và 21/3/2022, qua trao đổi trên ứng dụng Messenger giữa Tuấn A và tài khoản “Hiếu N” của anh Nguyễn Hữu H2, sinh năm 2000, trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Tuấn A cho anh H2 vay tổng số tiền 70.000.000 đồng, không lập văn bản. Tuấn A chuyển khoản từ số tài khoản Al của Tuấn A vào số tài khoản 19033471144017, chủ tài khoản Nguyễn Hữu H2, mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần K (T10) của anh H2 số tiền 60.000.000 đồng, thu lãi kỳ đầu 12.000.000 đồng (01 tháng), sau đó anh H2 chuyển khoản trả 2.000.000 đồng tiền lãi kỳ đầu (do hẹn trả sau), tương đương lãi suất 240%/năm, vượt quá lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 12 lần. Đến kỳ trả lãi thứ 2, anh H2 không có khả năng chi trả, đã nhờ anh Nguyễn Hữu H4, sinh năm 2000, trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình (là em trai anh H2) thỏa thuận xin Tuấn A chỉ trả gốc dần, không trả lãi, Tuấn A đồng ý. Như vậy, số tiền lãi Tuấn A đã thu của anh H2 trong 1 kỳ là 14.000.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 1.166.667 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 12.833.333 đồng. Anh H2 đã trả Tuấn A số tiền gốc 70.000.000 đồng.

- Người vay thứ 3: Khoảng cuối tháng 11/2022, qua trao đổi trên ứng dụng Messenger giữa Tuấn A và tài khoản “Đào Khắc T” của anh Đào Khắc T, sinh năm 2002, trú tại: thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Tuấn A cho anh T vay 10.000.000 đồng, có lập văn bản. Tuấn A đưa anh T 8.000.000 đồng tiền mặt, thu lãi kỳ đầu 2.000.000 đồng (1 tháng), tương đương lãi suất 240%/năm, vượt quá lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 12 lần. Đến tháng 12/2022, anh T chuyển khoản từ số tài khoản 140620026789, chủ tài khoản Đào Khắc T, mở tại M trả 2.000.000 đồng tiền lãi kỳ 2. Đến kỳ trả lãi tiếp theo, do không có khả năng chi trả, anh T đã thỏa thuận xin Tuấn A chỉ trả gốc, không trả lãi, Tuấn A đồng ý. Như vậy, số tiền lãi Tuấn A đã thu trong 2 kỳ là 4.000.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 333.333 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 3.666.667 đồng. Anh T đã trả Tuấn A số tiền gốc 10.000.000 đồng.

- Người vay thứ 4: Qua trao đổi trên ứng dụng Messenger giữa Tuấn A và tài khoản “Trường Béo” của anh Phạm Văn T1, sinh năm 1999, trú tại: thôn D, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Tuấn A cho anh T1 vay các khoản sau:

Khoảng tháng 3/2023, Tuấn A cho anh T1 vay 20.000.000 đồng, có lập văn bản. Tuấn A chuyển khoản từ số tài khoản V2 của Tuấn A vào số tài khoản 0356288222, chủ tài khoản Phạm Văn T1, mở tại M 17.000.000 đồng, thu lãi kỳ đầu 3.000.000 đồng (1 tháng), tương đương 180%/năm, vượt quá lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 9 lần. Đến tháng 8/2023, anh T1 đã nhiều lần trả tiền mặt, chuyển khoản bằng số tài khoản của anh T1 và từ số tài khoản 19033631084016, chủ tài khoản Nguyễn Thị Dương H5, mở tại T10 của chị Nguyễn Thị Dương H5, sinh năm 2000, trú tại: thôn D, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vợ anh T1) trả 15.000.000 đồng tiền lãi của 5 kỳ. Như vậy, số tiền lãi Tuấn A đã thu trong 6 kỳ là 18.000.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 2.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 16.000.000 đồng. Anh T1 đã trả Tuấn A số tiền gốc 20.000.000 đồng.

Khoảng đầu tháng 5/2023, Tuấn A cho anh T1 vay 10.000.000 đồng, có lập văn bản. Tuấn A chuyển khoản từ số tài khoản V2 của Tuấn A đến số tài khoản của anh T1 8.000.000 đồng, thu lãi kỳ đầu 2.000.000 đồng (1 tháng), tương đương 240%/năm, vượt quá lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự 12 lần. Đến tháng 8/2023, anh T1 đã nhiều lần trả tiền mặt, chuyển khoản từ số tài khoản của anh T1 và chị H5 trả 6.000.000 đồng tiền lãi của 3 kỳ. Như vậy, số tiền lãi Tuấn A đã thu trong 4 kỳ là 8.000.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 666.667 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 7.333.333 đồng. Anh T1 đã trả Tuấn A số tiền gốc 10.000.000 đồng.

Như vậy, Tuấn A đã cho anh T1 vay 02 khoản với tổng số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất từ 180% đến 240%/năm, vượt quá lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự từ 9 đến 12 lần, đã thu 26.000.000 đồng tiền lãi, số tiền lãi được thu theo quy định là 2.666.667 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 23.333.333 đồng. Anh T1 đã trả Tuấn A số tiền gốc 30.000.000 đồng.

- Người vay thứ 5: Qua trao đổi trực tiếp, Tuấn A cho anh Nguyễn Hoàng Trung H3, sinh ngày 17/11/2006, trú tại: thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình vay các khoản tiền sau:

Khoảng cuối tháng 8/2023, Tuấn A cho anh H3 vay 5.000.000 đồng, có lập văn bản. Tuấn A đưa anh H3 4.000.000 đồng tiền mặt, thu lãi kỳ đầu 1.000.000 đồng (24 ngày), tương đương mức lãi suất 304%/năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 15,2 lần. Ngày 15/9/2023, 10/10/2023, 03/11/2023, anh H3 chuyển 3.000.000 đồng từ số tài khoản 223332356789, chủ tài khoản Nguyễn Hoàng Trung H3, mở tại M trả tiền lãi 3 kỳ. Đến kỳ trả lãi tiếp theo, do không có khả năng chi trả, anh H3 đã thỏa thuận xin Tuấn A chỉ trả gốc, không trả lãi, Tuấn A đồng ý. Như vậy, số tiền lãi Tuấn A đã thu trong 4 kỳ là 4.000.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 263.014 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 3.736.986 đồng. Anh H3 đã Tuấn A số tiền gốc 5.000.000 đồng.

Khoảng 10 ngày sau, Tuấn A cho anh H3 vay 10.000.000 đồng, có lập văn bản. Tuấn A đưa anh H3 8.000.000 đồng tiền mặt, thu lãi kỳ đầu 2.000.000 đồng (24 ngày), tương đương mức lãi suất 304%/năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 15,2 lần. Ngày 25/9/2023 và 20/10/2023, anh H3 chuyển khoản 4.000.000 đồng trả tiền lãi 2 kỳ. Đến kỳ trả lãi tiếp theo, do không có khả năng chi trả, anh H3 đã thỏa thuận xin Tuấn A chỉ trả gốc, không trả lãi, Tuấn A đồng ý. Như vậy, số tiền lãi Tuấn A đã thu trong 3 kỳ là 6.000.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 394.521 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 5.605.479 đồng. Anh H3 đã Tuấn A số tiền gốc 10.000.000 đồng.

Như vậy, Tuấn A đã cho anh H3 vay 02 khoản với tổng số tiền 15.000.000 đồng, lãi suất 304%/năm, vượt quá lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 15,2 lần, đã thu 10.000.000 đồng tiền lãi, số tiền lãi được thu theo quy định là 657.534 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 9.342.466 đồng. Anh H3 đã trả Tuấn A số tiền gốc 15.000.000 đồng.

- Người vay thứ 6: Khoảng tháng 9/2023, qua trao đổi trên ứng dụng Messenger giữa Tuấn A và tài khoản “Toản Công Tử” của anh Phạm Minh T2, sinh năm 1999, trú tại: thôn D, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Tuấn A cho anh T2 vay 20.000.000 đồng, có lập văn bản. Tuấn A đưa anh T2 16.000.000 đồng tiền mặt, thu tiền lãi kỳ đầu 4.000.000 đồng (24 ngày), tương đương mức lãi suất 304%/năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 15,2 lần. Ngày 15/10/2023, 16/10/2023, 27/10/2023, anh T2 chuyển 4.000.000 đồng từ số tài khoản 66866868888888, chủ tài khoản Phạm Minh T2, mở tại T10 và từ số tài khoản 6822042004666, chủ tài khoản Phạm Thu H6, mở tại M của chị Phạm Thu H6, sinh năm 2004, trú tại: thôn D, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (em gái anh T2) trả lãi kỳ 2. Ngày 10/11/2023, anh T2 chuyển khoản 4.000.000 đồng từ số tài khoản 700030090933, chủ tài khoản Phạm Minh T2, mở tại Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên S (S1) trả tiền lãi kỳ 3. Ngày 11/12/2023, anh T2 chuyển khoản 4.000.000 đồng từ số tài khoản T10 trả lãi kỳ 4. Đến kỳ trả lãi tiếp theo, do không có khả năng chi trả, anh T2 đã thỏa thuận xin Tuấn A chỉ trả gốc, không trả lãi, Tuấn A đồng ý. Như vậy, số tiền lãi Tuấn A đã thu trong 4 kỳ là 16.000.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 1.052.055 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 14.947.945 đồng. Ngày 26/02/2024 và 11/3/2024, anh T2 đã trả Tuấn Anh T6 đã trả Tuấn A số tiền gốc 30.000.000 đồng.

- Người vay thứ 7: Qua trao đổi trên ứng dụng Messenger giữa Tuấn A và tài khoản “Trương Đại T3” của anh Trương Đại T3, sinh năm 2005, trú tại: thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Tuấn A đã cho anh T7 vay các khoản tiền sau:

Ngày 16/10/2023, Tuấn A cho anh T3 vay 5.000.000 đồng, có lập văn bản. Tuấn A chuyển khoản từ số tài khoản V2 của Tuấn A vào số tài khoản 0969494905, chủ tài khoản Trương Đại T3, mở tại V2 4.000.000 đồng, thu tiền lãi kỳ đầu 1.000.000 đồng (24 ngày), tương đương mức lãi suất 304%/năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 15,2 lần. Đến ngày 13/11/2023, anh T3 đã trả Tuấn A 1.000.000 đồng tiền lãi (kỳ 2). Như vậy, số tiền lãi Tuấn A đã thu trong 2 kỳ là 2.000.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 131.507 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.868.493 đồng. Anh T3 đã trả Tuấn A số tiền gốc 5.000.000 đồng.

Ngày 13/11/2023, Tuấn A cho anh T3 vay 5.000.000 đồng, không lập văn bản. Tuấn A chuyển khoản từ số tài khoản V2 của Tuấn A vào số tài khoản của anh T3 4.000.000 đồng, thu tiền lãi kỳ đầu 1.000.000 đồng (24 ngày), tương đương mức lãi suất 304%/năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 15,2 lần. Đến ngày 18/11/2023, thời hạn vay 1 kỳ, anh T3 đã trả Tuấn A 5.000.000 đồng tiền gốc, số tiền lãi được thu theo quy định là 65.753 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 934.247 đồng.

Ngày 19/12/2023, Tuấn A cho anh T3 vay 5.000.000 đồng, không lập văn bản. Tuấn A chuyển khoản từ số tài khoản V2 của Tuấn A vào số tài khoản của anh T3 4.000.000 đồng, thu tiền lãi kỳ đầu 1.000.000 đồng (24 ngày), tương đương mức lãi suất 304%/năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 15,2 lần. Đến ngày 09/01/2024, thời hạn vay 1 kỳ, anh T3 đã trả Tuấn A 5.000.000 đồng tiền gốc, số tiền lãi được thu theo quy định là 65.753 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 934.247 đồng.

Ngày 01/01/2024, Tuấn A cho anh T3 vay 5.000.000 đồng, không lập văn bản. Tuấn A chuyển khoản từ số tài khoản V2 của Tuấn A vào số tài khoản của anh T3 4.000.000 đồng, thu tiền lãi kỳ đầu 1.000.000 đồng (24 ngày), tương đương mức lãi suất 304%/năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 15,2 lần. Đến ngày 23/01/2024, thời hạn vay 1 kỳ, anh T3 đã trả Tuấn A 5.000.000 đồng tiền gốc, số tiền lãi được thu theo quy định là 65.753 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 934.247 đồng.

Ngày 03/01/2024, Tuấn A cho anh T3 vay 15.000.000 đồng, không lập văn bản. Tuấn A chuyển khoản từ số tài khoản V2 của Tuấn A vào số tài khoản của anh T3 12.000.000 đồng, thu tiền lãi kỳ đầu 3.000.000 đồng (24 ngày), tương đương mức lãi suất 304%/năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 15,2 lần. Ngày 24/01/2024, 15/02/2024 anh T3 chuyển khoản trả 6.000.000 đồng tiền lãi kỳ 2, 3. Như vậy, số tiền lãi Tuấn A đã thu của 3 kỳ là 9.000.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 591.781 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 8,408,219 đồng. Tuấn A cho anh T3 nợ lại tiền gốc, không tính lãi.

Ngày 08/01/2024, Tuấn A cho anh T3 vay 5.000.000 đồng, không lập văn bản. Tuấn A chuyển khoản từ số tài khoản V2 của Tuấn A vào tài khoản của anh T3 4.000.000 đồng, thu tiền lãi kỳ đầu 1.000.000 đồng (24 ngày), tương đương mức lãi suất 304%/năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 15,2 lần. Đến ngày 31/01/2024, anh T3 chuyển khoản trả 1.000.000 đồng tiền lãi kỳ 2. Như vậy, số tiền lãi Tuấn A đã thu của 2 kỳ là 2.000.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 131.507 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.868.493 đồng. Tuấn A cho anh T3 nợ lại tiền gốc, không tính lãi.

Ngày 15/01/2024, Tuấn A cho anh T3 vay 5.000.000 đồng, không lập văn bản. Tuấn A chuyển khoản từ số tài khoản V2 của Tuấn A vào tài khoản của anh T3 4.000.000 đồng, thu tiền lãi kỳ đầu 1.000.000 đồng (24 ngày), tương đương mức lãi suất 304%/năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 15,2 lần. Đến ngày 19/02/2024, anh T3 chuyển khoản trả 1.000.000 đồng tiền lãi kỳ 2. Như vậy, số tiền lãi Tuấn A đã thu của 2 kỳ là 2.000.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 131.507 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.868.493 đồng. Tuấn A cho nợ lại tiền gốc, không tính lãi.

Ngày 17/01/2024, Tuấn A cho anh T3 vay 5.000.000 đồng, không lập văn bản. Tuấn A chuyển khoản từ số tài khoản V2 của Tuấn A vào số tài khoản của anh T3 4.000.000 đồng, thu tiền lãi kỳ đầu 1.000.000 đồng (24 ngày), tương đương mức lãi suất 304%/năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 15,2 lần. Đến ngày 19/02/2024, anh T3 chuyển khoản trả 1.000.000 đồng tiền lãi kỳ 2. Như vậy, số tiền lãi Tuấn A đã thu của 2 kỳ là 2.000.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 131.507 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.868.493 đồng. Tuấn A cho nợ lại tiền gốc, không tính lãi.

Ngày 20/01/2024, Tuấn A cho anh T3 vay 5.000.000 đồng, không lập văn bản. Tuấn A chuyển khoản từ số tài khoản V2 của Tuấn A vào tài khoản của anh T3 4.000.000 đồng, thu tiền lãi kỳ đầu 1.000.000 đồng (24 ngày), tương đương mức lãi suất 304%/năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 15,2 lần. Đến ngày 19/02/2024, anh T3 chuyển khoản trả 1.000.000 đồng tiền lãi kỳ 2. Như vậy, số tiền lãi Tuấn A đã thu của 2 kỳ là 2.000.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 131.507 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.868.493 đồng. Tuấn A cho nợ lại tiền gốc, không tính lãi.

Ngày 22/01/2024, Tuấn A cho anh T3 vay 10.000.000 đồng, không lập văn bản. Tuấn A chuyển khoản từ số tài khoản V2 của Tuấn A vào tài khoản của anh T3 8.000.000 đồng, thu tiền lãi kỳ đầu 2.000.000 đồng (24 ngày), tương đương mức lãi suất 304%/năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 15,2 lần. Đến ngày 19/02/2024, anh T3 chuyển khoản trả 500.000 đồng tiền lãi kỳ 2. Như vậy, số tiền lãi Tuấn A đã thu của 2 kỳ là 2.500.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 263.014 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 2.236.986 đồng. Tuấn A cho nợ lại tiền gốc, không tính lãi.

Ngày 23/01/2024, Tuấn A cho anh T3 vay 5.000.000 đồng, không lập văn bản. Tuấn A chuyển khoản từ số tài khoản V2 của Tuấn A vào số tài khoản của anh T3 4.000.000 đồng, thu tiền lãi kỳ đầu 1.000.000 đồng (24 ngày), tương đương mức lãi suất 304%/năm, vượt mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 15,2 lần. Đến ngày bị phát hiện, anh T3 không đóng thêm kỳ lãi nào. Như vậy, số tiền lãi Tuấn A đã thu của 1 kỳ là 1.000.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 65.753 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 934.247 đồng. Tuấn A cho nợ lại tiền gốc, không tính lãi.

Đến ngày 16/02/2024, Tuấn A yêu cầu anh T3 viết giấy vay nợ tổng số tiền gốc các lần vay trước còn nợ lại là 50.000.000 đồng, không tính lãi. Như vậy, Tuấn A đã cho anh T3 vay 11 khoản với tổng số tiền 70.000.000 đồng, lãi suất 304%/năm, vượt quá lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 15,2 lần, đã thu 25.500.000 đồng tiền lãi, số tiền lãi được thu theo quy định là 1.775.342 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 23.724.658 đồng. Hiện tại, anh T3 đã trả Tuấn A 23.724.658 đồng, còn nợ 26.275.342 đồng tiền gốc.

- Người vay thứ 8: Qua trao đổi trên ứng dụng Messenger giữa Tuấn A và tài khoản “Trần Hữu T4” của anh Trần Hữu T4, sinh năm 2005, trú tại: tổ A, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Tuấn A đã cho anh T4 vay các khoản tiền sau:

Ngày 03/02/2024, Tuấn A cho anh T4 vay 20.000.000 đồng, có lập văn bản. Tuấn A đưa 8.000.000 đồng tiền mặt, chuyển nhờ vào số tài khoản 2123200499999, chủ tài khoản Hà Quang D, mở tại M của anh Hà Quang D, sinh năm 2004, trú tại: tổ A, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình 8.000.000 đồng, thu tiền lãi kỳ đầu 4.000.000 đồng (01 tháng), tương đương mức lãi suất 240%/năm, vượt lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 12 lần. Đến ngày 26/02/2024, anh T4 nhờ anh D chuyển khoản từ số tài khoản của anh D đến số tài khoản V2 của Tuấn A trả 4.000.000 đồng tiền lãi kỳ 2. Ngày 20/3/2024, anh T4 nhờ anh Mai Ngọc C, sinh năm 2002, trú tại: thôn D, xã A, huyện Q chuyển từ số tài khoản 0705591701, chủ tài khoản Mai Ngọc C, mở tại M đến tài khoản V2 của Tuấn A trả 4.000.000 đồng tiền lãi kỳ 3. Như vậy, số tiền lãi Tuấn A đã thu của 3 kỳ là 12.000.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 1.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 11.000.000 đồng. Anh T4 đã trả Tuấn A số tiền gốc 20.000.000 đồng.

Ngày 26/02/2024, Tuấn A cho anh T4 vay 10.000.000 đồng, không lập văn bản. Tuấn A chuyển nhờ vào số tài khoản 2210132506789, chủ tài khoản Nguyễn Văn T5, mở tại M của anh Nguyễn Văn T5, sinh năm 1986, trú tại: tổ E, thị trấn A, huyện Q 8.000.000 đồng, thu tiền lãi kỳ đầu 2.000.000 đồng (01 tháng), tương đương mức lãi suất 240%/năm, vượt lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 12 lần. Đến ngày 20/3/2024, anh T4 nhờ anh C chuyển khoản trả 2.000.000 đồng tiền lãi kỳ 2. Như vậy, số tiền lãi Tuấn A đã thu của 2 kỳ là 4.000.000 đồng, số tiền lãi được thu theo quy định là 333.333 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 3.666.667 đồng. Anh T4 đã trả Tuấn A số tiền gốc 10.000.000 đồng.

Ngày 11/3/2024, Tuấn A cho anh T4 vay 5.000.000 đồng, không lập văn bản. Tuấn A chuyển khoản từ số tài khoản V2 vào tài khoản anh C 4.000.000 đồng, thu tiền lãi kỳ đầu 1.000.000 đồng (1 tháng), tương đương mức lãi suất 240%/năm, vượt lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 12 lần, số tiền lãi được thu theo quy định 83.333 đồng, số tiền thu lợi bất chính 916.667 đồng. Anh T4 đã trả Tuấn A số tiền gốc 10.000.000 đồng.

Ngày 16/3/2024, Tuấn A cho anh T4 vay 15.000.000 đồng, không lập văn bản. Tuấn A chuyển nhờ vào tài khoản anh T5 11.000.000 đồng, thu tiền lãi kỳ đầu 3.000.000 đồng (1 tháng), trả 1.000.000 đồng anh T4 vay Tuấn A trước đó (không lãi), tương đương mức lãi suất 240%/năm, vượt lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 12 lần, số tiền lãi được thu theo quy định 250.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 2.750.000 đồng. Anh T4 đã trả Tuấn A số tiền gốc 15.000.000 đồng.

Như vậy, Tuấn A đã cho anh T4 vay 04 khoản với tổng số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 240%/năm, vượt quá lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự 12 lần, đã thu 20.000.000 đồng tiền lãi, số tiền lãi được thu theo quy định là 1.666.667 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 18.333.333 đồng. Anh T4 đã trả Tuấn A số tiền gốc 50.000.000 đồng.

Ngày 30/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trương Tuấn A tại thôn S, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng và thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, không phát hiện, thu giữ gì.

Bản cáo trạng số 103/CT-VKSQP ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình truy tố Trương Tuấn A về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; bị cáo khai trong giai đoạn điều tra đã tự nguyện hoàn trả lại những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền bị cáo đã thu lợi bất chính là 111.681.735 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trương Tuấn A. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh đề nghị tuyên bố bị cáo Trương Tuấn A phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”;

Về hình phạt: Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 35 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo số tiền từ 250.000.000 đồng đến 270.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước. Do đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: đề nghị tuyên buộc bị cáo phải nộp lại 248.724.658 đồng sử dụng để cho vay và 9.818.265 đồng tiền lãi được thu theo quy định để nộp ngân sách Nhà nước. T8 buộc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Trương Đại T3 phải nộp lại số tiền 26.275.342 đồng là tiền bị cáo Trương Tuấn A sử dụng để cho vay hiện anh T3 đang quản lý để nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng: rất ân hận về hành vi mình đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ như: Các biên bản làm việc kiểm tra điện thoại của anh Trương Đại T3, Trần Hữu T4, Phạm Minh T2 và hình ảnh trích xuất do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 10 giờ 05 phút, 10 giờ 25 phút ngày 30/4/2024 và 09 giờ 35 phút ngày 17/4/2024 tại Công an huyện Q; Sổ phụ kiêm phiếu báo nợ, báo có của số tài khoản 88306101999, chủ tài khoản Trương Tuấn A tại Ngân hàng thương mại cổ phần V1, chi nhánh T9; Văn bản cung cấp số 174/NHNo.QP-TH ngày 28/6/2024 của Ngân hàng N1 chi nhánh Q, Bắc Thái B và sổ phụ của số tài khoản 3406838699999, chủ tài khoản Trương Tuấn A tại Ngân hàng N1, chi nhánh Q; Công văn số 240/MB-TBI ngày 21/6/2024 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1, chi nhánh T9 và sổ phụ chi tiết kiêm báo nợ, báo có của số tài khoản 2210132506789, chủ tài khoản Nguyễn V; Công văn số 287/MB-TTU ngày 23/8/2024 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1, chi nhánh T9, phòng G và sổ phụ chi tiết kiêm báo nợ, báo có của số tài khoản 223332356789, chủ tài khoản Nguyễn Hoàng Trung H3; Công văn số 1177/MB-HPH ngày 29/8/2024 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1, chi nhánh H7 và sổ phụ chi tiết kiêm báo nợ, báo có của số tài khoản 2123200499999, chủ tài khoản Hà Quang D và số tài khoản 0705591701, chủ tài khoản Mai Ngọc C; Công văn số 330/2024/TBH/TCB ngày 25/6/2024 của Ngân hàng thương mại cổ phần K, chi nhánh T9 và thông tin đối ứng số tài khoản 19033471144017, chủ tài khoản Nguyễn Hữu H2; Công văn số 3335/2024/CV-VPB ngày 25/6/2024 của Ngân hàng thương mại cổ phần V1 và sổ phụ kiêm phiếu báo nợ, báo có số tài khoản 0969494905, chủ tài khoản Trương Đại T3; Các biên bản làm việc đối chiếu giao dịch chuyển khoản trong tài liệu sao kê ngân hàng do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập ngày 02/9/2024 tại Công an huyện Q; Các giấy biên nhận của anh Trương Đại T3, anh Nguyễn Hữu H2, anh Trần Hữu T4, anh Phạm Minh T2, anh Đào Khắc T, anh Đào Văn L1, anh Phạm Văn T1 và anh Nguyễn Hoàng Trung H3 xác nhận đã nhận lại đủ số tiền Tuấn A đã thu lời bất chính do Tuấn A trả; Biên bản khám xét do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 09 giờ 30 phút và 11 giờ 45 phút ngày 30/3/2024 tại nơi ở của Trương Tuấn A tại thôn S, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng và thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; vùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ tháng 3/2022 đến ngày 16/3/2024, tại chỗ ở của Trương Tuấn A ở thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, bị cáo Trương Tuấn A đã có hành vi sử dụng số tiền 275.000.000 đồng của cá nhân cho 08 người vay gồm anh Trương Đại T3, anh Nguyễn Hữu H2, anh Trần Hữu T4, anh Phạm Minh T2, anh Đào Khắc T, anh Đào Văn L1, anh Phạm Văn T1 và anh Nguyễn Hoàng Trung H3 với lãi suất từ 180%/năm đến 304%/ năm, vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%) từ 9 lần đến 15,2 lần, số tiền lãi thu được là 121.500.000 đồng, trong đó: số tiền lãi được thu quy định trong Bộ luật Dân sự là 9.818.265 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 111.681.735 đồng. Hành vi đó của bị cáo đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự

Điều 201 Bộ luật Hình sự: Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội mà thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ truy tố bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, cho vay với mức lãi suất vượt quá mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (20%) từ 9 lần đến 15,2 lần. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất ổn định trong các giao dịch dân sự, làm ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh toán nợ của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử cần phải lên một mức án phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của tội phạm bị cáo thực hiện thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 136/QĐ-XPHC ngày 12/5/2022 của Công an huyện Q xử phạt 6.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích cho người khác xảy ra vào ngày 17/02/2022; ngày 23/5/2022 thi hành xong. Do trong thời điểm 1 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính (từ ngày 23/5/2022 đến ngày 23/5/2023), tổng số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là 27.000.000 đồng, dưới 30.000.000 đồng nên chỉ xác định là bị cáo có nhân thân xấu, không xác định là tiền sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo A khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, tự nguyện hoàn trả cho những người có quyền nghĩa vụ liên quan số tiền đã thu lợi bất chính, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo xét thấy cần áp dụng hình phạt tiền theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Hình sự là hình phạt chính đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và có tác dụng phòng ngừa vi phạm, tội phạm chung. Mức hình phạt áp dụng với bị cáo như mức Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, do đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về số tiền 111.681.735 đồng là tiền bị cáo thu lợi bất chính. Trong giai đoạn điều tra, bị cáo đã tự nguyện trả lại cho những người có quyền nghĩa vụ liên quan là anh Trương Đại T3, anh Nguyễn Hữu H2, anh Trần Hữu T4, anh Phạm Minh T2, anh Đào Khắc T, anh Đào Văn L1, anh Phạm Văn T1 và anh Nguyễn Hoàng Trung H3; những người có quyền, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.

[7 ] Đối với số tiền bị cáo A đã sử dụng để cho vay là 275.000.000 đồng (trong đó 248.724.658 đồng bị cáo quản lý và 26.275.342 đồng anh Trương Đại T3 đang quản lý) và số tiền lãi được thu theo quy định trong Bộ luật Dân sự là 9.818.265 đồng mà những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã trả cho bị cáo và bị cáo A đã quản lý, buộc bị cáo phải nộp lại để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[8] Các vấn đề khác: Đối với chị Vũ Thị L, là vợ bị cáo, không biết việc bị cáo cho vay lãi nặng; anh Hà Mạnh D1, Nguyễn Văn T5 và Mai Ngọc C là những người được anh Trần Hữu T4 nhờ số tài khoản nhận tiền của Tuấn A cho vay và nhờ chuyển trả tiền lãi cho Tuấn A đều không biết việc Tuấn A cho vay lãi nặng nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác định những người này đồng phạm với bị cáo.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu xám bị cáo khai sử dụng vào việc phạm tội nhưng đã bị mất; các giấy vay tiền đối với những khoản vay mà người vay đã trả hết tiền gốc Tuấn A đã tiêu hủy; các giấy vay tiền chưa trả hết tiền gốc Tuấn A khai đã bị thất lạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không quản lý được.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp với khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Tuấn A phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tuyên buộc bị cáo Trương Tuấn A phải nộp lại số tiền 258.542.923 đồng (hai trăm năm mươi tám triệu năm trăm bốn mươi hai nghìn chín trăm hai mươi ba đồng) để tịch thu nộp ngân sách nhà nước, gồm: 248.724.658 đồng (hai trăm bốn mươi tám triệu bẩy trăm hai mươi bốn nghìn sáu trăm năm mươi tám đồng) tiền sử dụng để cho vay bị cáo đang quản lý và 9.818.265 đồng (chín triệu tám trăm mười tám nghìn hai trăm sáu mươi lăm đồng) tiền lãi được thu theo quy định.
    • - Tuyên buộc người có quyền nghĩa vụ liên quan anh Trương Đại T3 phải nộp lại số tiền 26.275.342 đồng (hai mươi sáu triệu hai trăm bẩy mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi hai đồng) tiền bị cáo sử dụng để cho vay mà anh T3 đang quản lý để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Trương Tuấn A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Trương Tuấn A có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • Bị cáo;
  • Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • VKSND h. Quỳnh Phụ;
  • VKSND tỉnh Thái Bình;
  • UBND xã An Thanh, huyện Quỳnh Phụ;
  • UBND xã Hưng Nhân, huyện Vĩnh Bảo; thành phố Hải Phòng
  • Công an & Chi cục THADS h. Quỳnh Phụ;
  • TAND & Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Doanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 115/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trương Tuấn A phạm tội cho vay nặng lãi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger