Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HS-PT

Ngày 22 -11- 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Vĩnh Thành.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn.

Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Hiệp, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà:

Bà Bùi Thị Kim Tuyến- Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/2024/TLPT- HS ngày 07 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Xuân T do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2024/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Bị cáo: Nguyễn Xuân T (Không có tên khác), sinh ngày 03/3/2005; nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị V; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 34/2023/HSST ngày 17/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt Nguyễn Xuân T 10 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 01 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc Nguyễn Xuân T chấp hành hình phạt chung của hai tội là 02 năm 04 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm 08 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/3/2024 đến nay; (có mặt).

Bị cáo, đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Xuân T, không có giấy phép lái xe mô tô, không đủ điều kiện để điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ theo quy định. Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 10/01/2024, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, biển kiểm soát 88K1 – 428.07, dung tích xi lanh 109cm³ đến nhà anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1989, trú tại thôn G, xã H, huyện T để ăn cơm và có uống khoảng 03 chén rượu (loại chén thủy tinh nhỏ có dung tích khoảng 25ml). Sau khi uống rượu xong, T điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88K1 – 428.07 đến nhà anh Nguyễn Ngọc A (là anh họ của T) đón Ngọc A đi uống nước. Sau đó, T điều khiển xe mô tô chở Ngọc A đi theo đường tỉnh lộ 305 hướng xã H đi về thành phố V. Khi đến đoạn đường thuộc địa phận thôn Đ, xã H, huyện T thì có xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển kiểm soát 88K6 – 3392 do chị Nguyễn Thị H điều khiển đi ngược chiều với T và đang chuyển hướng rẽ vào ngõ đi thôn L, xã Y, huyện V. T điều khiển xe mô tô với tốc độ khoảng 50 km/h và đi ở phần đường bên phải theo chiều đi nhưng do trước đó đã uống rượu, không chú ý quan sát phía trước, không giảm tốc độ khi có xe mô tô đi ngược chiều và qua khu vực đông dân cư nên xe mô tô do T điều khiển đã đâm vào xe mô tô của chị H làm chị H, T và Ngọc A cùng 02 xe mô tô đổ ngã ra đường. Hậu quả, T và Ngọc A bị xây xát nhẹ, chị H được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh V cấp cứu và điều trị đến 02 giờ 00 phút ngày 11/01/2024 chị H tử vong.

Nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện tai nạn, trưng cầu giám định nguyên nhân dẫn đến tử vong của chị Nguyễn Thị H và tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật.

Kết quả khám nghiệm tử thi: Tại Kết luận giám định tử thi số 453/KLGĐTT-PC09-PY ngày 14/02/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V kết luận: "1. Các kết quả chính: Kết quả khám nghiệm: Vùng chẩm trái có diện sưng nề, bầm tím, mặt dưới da tụ máu, xương chẩm nứt vỡ, qua đường vỡ có máu không đông chảy ra. Bầm tím hai mắt; chảy máu qua tai, mũi, miệng. Gãy xương gò má bên phải. Tay, chân rải rác các vết sây sát da. 2. Kết luận: Nguyên nhân chết của Nguyễn Thị H: Chấn thương sọ não.

Kết quả định giá thiệt hại về tài sản: Tại các Kết luận định giá tài sản số 30, 31/KL-HĐĐGTS ngày 09/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, xác định: Tổng giá trị các bộ phận bị thiệt hại của xe mô tô BKS: 88K1 - 428.07 là 4.619.000đ (Bốn triệu sáu trăm mười chín nghìn đồng). Tổng giá trị các bộ phận bị thiệt hại của xe mô tô BKS: 88K6 - 3392 là 3.269.000đ (Ba triệu hai trăm sáu mươi chín nghìn đồng).

Kết quả giám định, nồng độ cồn, ma túy: Tại phiếu đo nồng độ cồn hồi 00 giờ 05 phút ngày 11/01/2024 của Công an huyện T xác định nồng độ cồn trong hơi thở của T tại thời điểm kiểm tra là 0,388mg/L. Tại phiếu đo nồng độ cồn hồi 00 giờ 07 phút ngày 11/01/2024 của Công an huyện T xác định nồng độ cồn trong hơi thở của Nguyễn Ngọc A tại thời điểm kiểm tra là 0,000mg/L. Tại phiếu trả kết quả xét nghiệm ngày 10/01/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh V thể hiện: Không phát hiện Ethanol (cồn) trong máu của Nguyễn Thị H.

Tại các Kết luận giám định số 158/KLGĐ ngày 17/01/2024 và 163, 164/KLGĐ ngày 18/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V kết luận: Không tìm thấy chất ma túy thường gặp (Morphine, H1, M, MDMA, Ketamine, 2C-B, C, D và chất TFMPP) trong mẫu chất lỏng nàu nâu đỏ ghi là mẫu máu thu của Nguyễn Ngọc A, Nguyễn Xuân T, tử thi Nguyễn Thị H.

Kết quả xác minh giấy phép lái xe mô tô: Tại Công văn trả lời số 469 và số 474/SGTVT-QLVT,PT&NL ngày 07/02/2024 của Sở Giao thông vận tải tỉnh V xác định: Không tìm thấy thông tin nào liên quan đến việc đã cấp giấy phép lái xe cho người có tên Nguyễn Xuân T, sinh ngày 03/3/2005 cư trú tại thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc và Nguyễn Thị H, sinh ngày 14/3/1988 cư trú tại thôn L, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Kết quả giám định hóa pháp lý mẫu chất màu đen bám dính trên 02 xe mô tô: Tại Kết luận giám định số 457/KL-KTHS ngày 14/02/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V kết luận: “Mẫu chất màu đen bám dính trên mặt ngoài gần đầu ống xả xe mô tô BKS: 88K6 – 3392, ký hiệu A1 gửi giám định cùng loại với mẫu cao su tại vị trí có đám vết trượt của lốp bánh trước xe mô tô BKS: 88K1 - 428.07, ký hiệu M1 gửi làm mẫu so sánh”.

Kết quả giám định đối với video thu tại hiện trường: Tại Kết luận giám định số 971/KL-KTHS ngày 09/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V kết luận: “Trích xuất được 05 (năm) ảnh theo nội dung yêu cầu giám định. Toàn bộ ảnh chụp và thuyết minh được in vào 01 (một) bản ảnh giám định. 01 (một) tệp video gửi giám định được sao lưu vào 02 (hai) đĩa DVD (có nội dung giống nhau”. Qua giám định xác định:

  • Ảnh 1: Xuất hiện hai người không rõ đặc điểm ngồi trên 01 xe hai bánh di chuyển theo chiều mũi tên (ký hiệu xe A) và 01 người không rõ đặc điểm điều khiển xe hai bánh di chuyển ngược chiều với xe A (ký hiệu xe B).
  • Ảnh 2 - 3: Xe A và xe B di chuyển đến gần nhau, sau đó hai xe va chạm với nhau.
  • Ảnh 4: Sau va chạm, người ngồi trên cùng với hai phương tiện bị ngã, đổ ra đường.
  • Ảnh 5: Xuất hiện một số người và phương tiện tập trung gần khu vực xảy ra va chạm.

Đối với anh Nguyễn Ngọc A là người ngồi sau xe mô tô do Nguyễn Xuân T điều khiển. Sau khi xảy ra tai nạn, anh Ngọc A bị thương tích xây xát nhẹ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn hại sức khỏe đối với anh Ngọc A. Tuy nhiên, anh Ngọc A cùng người đại diện hợp pháp có đơn từ chối giám định thương tích, cam kết không có khiếu kiện hay đề nghị gì. Cơ quan điều tra đã Quyết định dẫn giải đối với anh Ngọc A đến Trung tâm Pháp y tỉnh V để giám định thương tích nhưng anh Ngọc A không hợp tác và không đồng ý đi giám định thương tích trên cơ thể.

Đối với hành vi của bị hại chị Nguyễn Thị H điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe theo quy định, không chú ý quan sát, chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi có xe máy đi ngược chiều và qua khu vực đông dân cư đã vi phạm quy định tại khoản 9 Điều 8; khoản 2 Điều 15; khoản 1 Điều 17 Luật giao thông đường bộ; khoản 5, 8 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ và là một trong các nguyên nhân gây ra vụ tai nạn giao thông đường bộ nêu trên. Tuy nhiên, sau khi xảy ra tai nạn chị H đã tử vong nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với bà Nguyễn Thị V (mẹ đẻ của T). Ngày 10/01/2024, Nguyễn Xuân T tự ý lấy xe mô tô biển kiểm soát 88K1 – 428.07 là tài sản hợp pháp của bà V để sử dụng làm phương tiện đi lại rồi gây tai nạn, bà V không biết và cũng không giao xe cho T nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý về hình sự đối với bà V.

Đối với anh Trần Văn Đ (chồng của chị H) là người thường xuyên sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 88K6 – 3392 là tài sản hợp pháp của anh Đ và chị H. Ngày 10/01/2024, chị H tự ý lấy xe mô tô trên sử dụng làm phương tiện đi lại rồi bị tai nạn, anh Đ không biết và cũng không giao xe cho chị H nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý về hình sự đối với anh Đ.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã tác động để mẹ bị cáo là bà Nguyễn Thị V thay bị cáo bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 150.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ tiền, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Đối với thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 88K6 – 3392 là 3.269.000 đồng, anh Trần Văn Đ không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Đối với số tiền 150.000.000 đồng bà Nguyễn Thị V bồi thường thay cho bị cáo và giá trị thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 88K1 – 428.07 là 4.619.000 đồng, bà V tự nguyện cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền trên.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2024/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56; khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 (Hai) năm 04 (Bốn) tháng tù tại bản án số 34/2023/HSST ngày 17/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 (Sáu) năm 07 (B) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 13/3/2024.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, tài sản bị thu giữ, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

Ngày 27/9/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc có quyết định kháng nghị số 1587/QĐ-VKS-P7 đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc sửa một phần bản án sơ thẩm về áp dụng pháp luật theo hướng không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” đối với bị cáo Nguyễn Xuân T đồng thời xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giữ nguyên nội dung quyết định kháng nghị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm:

  • Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng nghị số 1587/QĐ-VKS-P7 Ngày 27/9/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Sửa Bản án sơ thẩm. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56; khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Tổng hợp với hình phạt 02 năm 04 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng” của bản án số 34/2023/HSST ngày 17/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, buộc bị cáo Nguyễn Xuân T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 năm 07 tháng đến 05 năm 10 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 13/3/2024.
  • Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quyết định kháng nghị số 1587/QĐ-VKS-P7 Ngày 27/9/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc được ban hành trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Đại diện gia đình bị hại và những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo, nội dung kháng nghị không liên quan đến những người này nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.

[2] Căn cứ vào lời khai, lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Xuân T, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tranh tụng tại phiên tòa, đã có đủ cơ sở để xác định: Nguyễn Xuân T không có giấy phép lái xe theo quy định. Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 10/01/2024, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88K1 – 428.07 (dung tích xi lanh 109cm³) khi trong hơi thở có nồng độ cồn là 0,388mg/l, chở anh Nguyễn Ngọc A đi trên đường T theo hướng xã H đi về thành phố V. Khi đến đoạn đường thuộc địa phận thôn Đ, xã H, huyện T, do T không chú ý quan sát phía trước, không giảm tốc độ khi có xe mô tô đi ngược chiều và qua khu vực đông dân cư nên đã điều khiển xe mô tô đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 88K6 – 3392 do chị Nguyễn Thị H điều khiển đi ngược chiều và đang chuyển hướng rẽ vào ngõ đi thôn L, xã Y, huyện V. Hậu quả chị Nguyễn Thị H bị thương tích nặng và tử vong vào hồi 02 giờ 00 phút ngày 11/01/2024; T và anh Ngọc A bị xây xát nhẹ, 02 xe mô tô bị hư hỏng. Hành vi của T đã vi phạm khoản 8, 9 Điều 8; khoản 1 Điều 17 Luật giao thông đường bộ; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia; khoản 5, 8 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội.

[3] Đối với kháng nghị về nội dung: Bản án sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” qui định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Xuân T là không đúng pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy:

Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là đúng pháp luật.

Tuy nhiên, bản án sơ thẩm áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Xuân T là không đúng pháp luật bởi Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2023/HSST ngày 17/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt Nguyễn Xuân T 10 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 01 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Buộc Nguyễn Xuân T chấp hành hình phạt chung của hai tội là 02 năm 04 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm 08 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng” khi mới 17 tuổi 07 tháng 13 ngày, tức là chưa đến 18 tuổi. Theo qui định tại khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự thì bị cáo được coi là không có án tích nên cũng không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” qui định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó kháng nghị của Viện kiểm sát về nội dung Bản án sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” qui định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Xuân T là không đúng pháp luật là có cơ sở, cần chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” đối với bị cáo và giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo cho tương xứng với mức độ tội phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.

Trong vụ án này Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đề xuất tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” không đúng pháp luật đối với bị cáo T và Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa đề xuất tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” không đúng pháp luật đối với bị cáo T trong luận tội nên cần rút kinh nghiệm.

Hội đồng xét xử của Tòa án sơ thẩm cũng không phát hiện ra đề xuất sai của đại diện Viện kiểm sát và cũng áp dụng không đúng pháp luật tình tiết tăng nặng đối với bị cáo T nên cũng cần rút kinh nghiệm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về án phí phúc thẩm: Theo qui định tại điểm d khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì Viện kiểm sát không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng nghị số 1587/QĐ-VKS-P7 ngày 27/9/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Sửa Bản án sơ thẩm số 55/2024/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.

1. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56; khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Tổng hợp với hình phạt 02 (Hai) năm 04 (Bốn) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng” của Bản án số 34/2023/HSST ngày 17/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, buộc bị cáo Nguyễn Xuân T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 (Năm) năm 10 (Mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 13/3/2024.

2. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Viện kiểm sát không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - TAND huyện T;
  • - VKSND huyện T;
  • - Công an huyện T;
  • - Chi cục THADS huyện T;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Vĩnh Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HS-PT ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự phúc thẩm (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 115/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân T - Vi phạm quy định giao thông
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger