Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HS-ST

Ngày 15 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Danh.

Thẩm phán: Ông Nguyễn Vĩnh Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Đình Chúc;

Bà Lương Thị Thu Hiền;

Bà Đỗ Thị Kim Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bích Huệ – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Văn T, sinh ngày 07 tháng 9 năm 1993 tại thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố A T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Nguyên là Đảng viên Đ (đã bị Huyện ủy huyện Y khai trừ đảng ngày 28/4/2023); con ông Phạm Văn Q và bà Đại Thị T1; có vợ là Lê Thị Kim D và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/8/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V, “có mặt”.
  2. Lê Hoàng A, sinh ngày 28 tháng 11 năm 1995 tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Tổ dân phố V, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê H và bà Nguyễn Kim V; có vợ là Trần Thị T2 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V, “có mặt".

- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn T: Ông Vũ Văn D1 – Luật sư Công ty L2 và cộng sự thuộc Đoàn luật sư tỉnh V, “có mặt”.

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Hoàng A: Bà Tạ Thị M– Luật sư Công ty L3 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.

- Bị hại:

  • + Chị Trần Thị P, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.
  • + Chị Nguyễn Thu H1, sinh năm 1993; nơi cư trú: Tổ dân phố V, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.
  • + Anh Hoàng Văn T3, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Chị Lê Thị Kim D, sinh năm 1994 (Là vợ bị cáo T); nơi cư trú: Tổ dân phố A T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.
  • + Ông Lê H, sinh năm 1972 (Là bố bị cáo Hoàng A); nơi cư trú: Tổ dân phố V, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 26/3/2023, Cơ quan điều tra Công an tỉnh V tiếp nhận Đơn tố giác của chị Trần Thị P, nội dung tố cáo Phạm Trọng H2, sinh năm 1991 trú tại xóm C, xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Lê Hoàng A và Phạm Văn T có hành vi Lừa đảo chiếm đoạt của chị P tổng số tiền 2.144.850.000 đồng thông qua hình thức vay tiền để làm đáo hạn Ngân hàng. Trong đó Phạm Trọng H2 chiếm đoạt của chị P số tiền 500.000.000 đồng, Lê Hoàng A chiếm đoạt của chị P số tiền 644.850.000 đồng và Phạm Văn T chiếm đoạt của chị P số tiền 1.000.000.000 đồng.

Ngày 26/4/2023 Cơ quan điều tra tiếp tục nhận được đơn tố giác của chị Nguyễn Thu H1 và đơn tố giác của anh Hoàng Văn T3. Nội dung đều tố cáo Lê Hoàng A có hành vi Lừa đảo chiếm đoạt của chị H1 số tiền 830.000.000 đồng, chiếm đoạt của anh T3 số tiền 400.000.000 đồng đều thông qua hình thức vay tiền để làm đáo hạn ngân hàng. Ngày 06/12/2023, Cơ quan điều tra tiếp tục nhận được đơn tố giác của anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1976, trú tại thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, nội dung tố cáo Phạm Văn T có hành vi lừa đảo chiếm đoạt của anh N số tiền 2.000.000.000 đồng thông qua hình thức vay tiền để đáo hạn Ngân hàng.

Kết quả điều tra xác định:

2

+ Đối với hành vi phạm tội của Phạm Văn T:

Năm 2022 do chị P làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng cho khách nên quen biết Tuyên khi đó T đang làm cán bộ tín dụng tại Phòng giao dịch xã Đ - Ngân hàng N2 (viết tắt N3) Chi nhánh huyện Y. Do biết T đang liên kết với một số người bên ngoài làm đáo hạn Ngân hàng cho khách lấy lãi nên chị P đã chủ động đặt vấn đề muốn phối hợp cùng T để làm đáo hạn Ngân hàng cho khách. T và chị P thỏa thuận nếu có khách muốn vay tiền làm đáo hạn Ngân hàng tại Phòng giao dịch nơi T làm việc thì T thông báo cho chị P biết để chị P chuyển tiền cho T hoặc chị P chuyển tiền trực tiếp cho khách vay lấy lãi theo mức chị P tính với T là 1.500 đồng/1 triệu/1 ngày, còn T tính với khách là 2.500 đồng/1 triệu/1 ngày. Vì vậy từ đầu tháng 6 đến đầu tháng 8/2022 chị P đã một số lần chuyển tiền cho T để T làm đáo nợ Ngân hàng cho khách và T đã thanh toán tiền gốc, tiền lãi lại cho chị P đầy đủ nên hai bên rất tin tưởng nhau. T khai: Việc T liên kết với chị P làm đáo hạn Ngân hàng cho khách được thực hiện thường xuyên, thu tiền chênh lệch của khách vay rất hiệu quả, tạo ra lợi nhuận, thu nhập tốt và không có phát sinh vấn đề gì bất thường nên chị P rất tin tưởng T. Tuy nhiên đến khoảng đầu tháng 8/2022 do T tham gia đánh bạc bằng hình thức cá cược bóng đá với Dương Thanh T4, sinh năm 1993, trú tại thị trấn Y, huyện Y, Vĩnh Phúc và đánh lô đề với anh Nguyễn Văn M1, sinh năm 1993, trú tại thị trấn Y, huyện Y, Vĩnh Phúc bị thua rất nhiều tiền dẫn đến nợ tiền của nhiều người (T khai tính đến ngày 28/8/2022 thì T còn nợ anh T4 1.500.000.000 đồng tiền thua cá độ bóng đá, nợ anh M1 50.000.000 đồng tiền thua lô đề). Để có tiền trả nợ, T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị P thông qua hình thức huy động tiền làm đáo hạn Ngân hàng. Cụ thể: ngày 30/8/2022, T sử dụng tài khoản Zalo có tên “Agri.Tuyên Đồng Văn” của T nhắn tin đến tài khoản Zalo của chị P có tên “Phương Thật” nói đang có hai khách hàng làm đáo hạn Ngân hàng nên T đang cần số tiền 1.500.000.000 đồng để cho khách vay làm đáo hạn trong khoảng thời gian từ 2 đến 3 ngày với lãi suất 1.500 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, chị P đồng ý nhưng nói với T chị P chỉ có 1.000.000.000 đồng thì T bảo chị P cứ chuyển 1.000.000.000 đồng cho T, còn lại T sẽ bù 500.000.000 đồng để đáo hạn ngân hàng cho khách. Tin tưởng T nên ngày 30/8/2022 chị P đã sử dụng tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng V1 đứng tên chị P chuyển khoản cho T số tiền 1.000.000.000 đồng; trong đó chị P chuyển khoản 600.000.000 đồng đến tài khoản số 2803123070993 mở tại Ngân hàng A3 đứng tên T và chuyển khoản 400.000.000 đồng đến tài khoản số 2803215033370 mở tại Ngân hàng A3 đứng tên Lê Thị Kim D (vợ của T). Sau khi nhận được số tiền trên của chị P, T không sử dụng để làm đáo hạn Ngân hàng cho ai mà chiếm đoạt toàn bộ số tiền này sử dụng trả nợ. Tuyên chuyển khoản 400.000.000 đồng mà chị P chuyển vào tài khoản Lê Thị Kim D (vợ T) sang tài khoản số 2803123070993 mở tại Ngân hàng A3 của T, sau đó T chuyển khoản 300.000.000 đồng trả nợ cho anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1992, trú tại xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc từ tài khoản Ngân hàng của T đến tài khoản số 2803205208456 mở tại Ngân hàng A3 đứng tên Nguyễn Thị Hồng N1 (vợ anh C); chuyển khoản 50.000.000 đồng trả nợ tiền thua bạc cho anh Nguyễn Văn M1 từ tài

3

khoản của T đến tài khoản số 9440167899999 mở tại Ngân hàng M3 đứng tên anh M1; chuyển 800.000.000 đồng trả nợ cho anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1976, trú tại xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc từ tài khoản của T đến tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng V1 đứng tên Nguyễn Đại L em vợ anh N (trong đó có 650.000.000 đồng là tiền chiếm đoạt của chị P, 150.000.000 đồng là tiền của T có trong tài khoản). Sau đó, đến hẹn không thấy T trả tiền, chị P nhắn tin hỏi T thì T đưa ra lý do Phòng giao dịch nơi T làm việc bị khóa sổ giải ngân do vượt quá hạn mức để trì hoãn việc trả tiền cho chị P. Đến ngày 11/9/2022, T tắt máy điện thoại, tháo vứt bỏ sim, xóa bỏ tài khoản Facebook, Z cá nhân và bỏ trốn lên tỉnh Lào Cai để không ai biết đòi nợ được T. Do đòi tiền T không được và không liên lạc được với T, không biết T đi đâu, làm gì nên ngày 26/3/2023 chị P đã làm đơn tố giác T có hành vi lừa đảo chiếm đoạt của chị P số tiền 1.000.000.000 đồng gửi Cơ quan điều tra đề nghị xác minh, giải quyết. T biết hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 1.000.000.000 đồng của chị P đã bị chị P tố giác ra Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V và T đang bị Cơ quan điều tra triệu tập, ra Quyết định truy tìm nhưng T không ra làm việc với Cơ quan điều tra mà T tiếp tục bỏ trốn về huyện M, thành phố Hà Nội thuê nhà trọ của nhà dân ở một mình, sau đó T xin vào làm việc tại Công ty T11 ở Khu công nghiệp B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc từ tháng 12/2022. Đến ngày 07/8/2023 khi T đang trên đường đến Công ty T11 thì bị Cơ quan điều tra phát hiện triệu tập làm việc. Tại Cơ quan điều tra T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.

+ Đối với Hành vi phạm tội của Lê Hoàng A:

Từ năm 2020 đến tháng 3/2022 Lê Hoàng A làm việc tại Ngân hàng TMCP Q1 (viết tắt là Ngân hàng V2) Chi nhánh V3; khoảng đầu tháng 3/2022 Hoàng A nghỉ làm tại Ngân hàng V2 và xin vào làm tại Ngân hàng TMCP phát triển Thành phố H (viết tắt là Ngân hàng H6) Chi nhánh V3 cho đến tháng 10/2022 Hoàng A xin nghỉ việc tại Ngân hàng H6 chi nhánh V3. Quá trình làm việc tại Ngân hàng V2 Chi nhánh V3 và Ngân hàng H6 Chi nhánh V3, Hoàng A quen biết chị Trần Thị P, chị Nguyễn Thu H1 và anh Hoàng Văn T3. Hoàng A khai: Khoảng đầu năm 2022, Hoàng A vay tiền của nhiều người để đầu tư mua, bán bất động sản nhưng tại thời điểm mua vào giá đất rất cao, sau đó thị trường bất động sản biến động đất xuống giá, Hoàng A chấp nhận bán lỗ để có tiền trả nợ nên bị thua lỗ khoảng 2.300.000.000 đồng, đồng thời giai đoạn này Hoàng A còn tham gia đầu tư tiền ảo B và bị thua lỗ khoảng 2.500.000.000 đồng dẫn đến Hoàng A nợ tiền của rất nhiều người. Để có tiền trả nợ Hoàng A đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của những người đang liên kết làm dịch vụ đáo hạn Ngân hàng với Hoàng A. Lợi dụng công việc đang làm tại Ngân hàng H6 và thông qua mối quan hệ quen biết với chị Trần Thị P, mối quan hệ đồng nghiệp cùng làm tại Ngân hàng với chị Nguyễn Thu H1 và anh Hoàng Văn T3, Hoàng A đã sử dụng tài khoản Zalo có tên “Lê Hoàng A” được đăng ký bằng số điện thoại 0836.263.xxx của Hoàng A nhắn tin đến tài khoản Zalo có tên “Phương Thật” của chị P, nhắn tin đến tài khoản Z có tên “Thu Hiền” của chị H1 và nhắn tin SMS từ số điện thoại 0836.263.xxx của Hoàng A đến số điện thoại 0373.098.xxx của anh T3 đưa ra thông tin không đúng sự thật là có khách

4

làm đáo hạn Ngân hàng với mức lãi suất từ 1.500 đồng đến 2.500 đồng/1.000.000 đồng/ngày để chị P, chị H1, anh T3 chuyển tiền cho Hoàng A. Sau đó Hoàng A sử dụng để trả nợ và tiêu sài cá nhân. Cụ thể:

- Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị Nguyễn Thu H1:

Do cùng làm trong lĩnh vực ngân hàng với nhau nên Hoàng A quen biết với chị Nguyễn Thị H3. Ngày 12/8/2022 Hoàng A nói với chị H3 đang có khách cần đáo hạn Ngân hàng khoản tiền 950.000.000 đồng, Hoàng A hỏi chị H3 có tiền thì chuyển cho Hoàng A để làm đáo hạn ngân hàng cho khách trong khoảng thời gian từ 3 đến 4 ngày với lãi suất từ 2.000 đồng đến 2.500 đồng/1.000.000 đồng/ngày. Tin tưởng lời Hoàng A nói là thật nên ngày 12/8/2022 chị H3 đã chuyển cho Hoàng A số tiền 950.000.000 đồng mà không cần Hoàng A phải thế chấp tài sản hoặc viết giấy tờ biên nhận gì. Cụ thể ngày 12/8/2022 chị H3 sử dụng tài khoản số 9602012111 mở tại Ngân hàng V4 đứng tên chị H3 chuyển 03 lần với tổng số tiền 950.000.000 đồng (trong đó lần 1 chuyển số tiền 500.000.000 đồng, lần 2 chuyển số tiền 300.000.000 đồng, lần 3 chuyển số tiền 150.000.000 đồng) đến tài khoản số 82266 mở tại Ngân hàng O đứng tên Hoàng A. Sau khi nhận được số tiền 950.000.000 đồng, Hoàng A không sử dụng để đáo hạn ngân hàng cho khách như đã nói với chị H3 mà sử dụng chuyển khoản 907.200.000 đồng đến tài khoản số 0171100000675008 mở tại Ngân hàng O đứng tên Nguyễn Văn N, sinh năm 1976, trú tại xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc để trả nợ cho anh N; sử dụng chuyển khoản 40.000.000 đồng vào tài khoản số 1991279279 mở tại Ngân hàng M4 đứng tên Phạm Trọng H2, sinh năm 1991, trú tại thôn C, xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc để trả nợ cho anh H2. Quá hẹn không thấy Hoàng A trả tiền nên chị H3 nhiều lần gọi điện, nhắn tin cho Hoàng A yêu cầu trả tiền thì đến ngày 07/9/2022 Hoàng A đã chuyển khoản trả chị H3 số tiền 120.000.000 đồng từ tài khoản số 82266 mở tại Ngân hàng O của Hoàng A đến tài khoản số 96020121111 mở tại Ngân hàng V4 của chị H3, chiếm đoạt của chị H3 830.000.000 đồng. Để chị H3 tin tưởng và có thời gian trì hoãn việc trả tiền nên ngày 03/10/2022 Hoàng A bảo chị H3 và chồng chị H3 là anh Vũ Xuân H4, sinh năm 1992 cùng Hoàng A đến Văn phòng C1, địa chỉ số A, Khu đô thị C, phường Đ, thành phố V, Vĩnh Phúc ký kết Hợp đồng vay tiền với nội dung chị H3 cho Hoàng A vay số tiền 830.000.000 đồng để Hoàng A mua xe ô tô hẹn đến ngày 01/12/2022 sẽ trả số tiền trên cho chị H3. Tuy nhiên đến nay Hoàng A vẫn không có tiền trả lại cho chị H3.

- Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị Trần Thị P:

Giữa Hoàng A và chị Trần Thị P quen biết nhau từ khi Hoàng A vào làm tại Ngân hàng H6 Chi nhánh tỉnh V3, biết Hoàng A liên kết với một số người bên ngoài làm đáo hạn Ngân hàng cho khách nên chị P đã chủ động liên hệ tham gia làm đáo hạn với Hoàng A để lấy lãi, sau đó giữa chị P và Hoàng A đã thực hiện được một số lần làm dịch vụ đáo hạn Ngân hàng cho khách thành công nên chị P rất tin tưởng Hoàng A. Tuy nhiên, khoảng đầu tháng 8/2022 Hoàng A đầu tư vào bất động sản và đầu tư vào tiền ảo Bitcoin bị thua lỗ dẫn đến nợ nần nên Hoàng A có ý định chiếm đoạt tiền của chị P để có tiền trả nợ. Cụ thể: Ngày 17/8/2022 Hoàng A nhắn tin nhắn Zalo cho chị P nói đang cần

5

100.000.000 đồng đáo hạn Ngân hàng cho khách với lãi suất 1.500 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, Hoàng A bảo chị P có tiền thì chuyển khoản cho Hoàng A để cho khách vay đáo hạn Ngân hàng trong thời gian ngắn. Chị P đồng ý nên ngày 17/8/2022 chị P đã chuyển khoản cho Hoàng A 100.000.000 đồng từ tài khoản số 1029041400 mở tại Ngân hàng V5 đứng tên Phan Văn T5, sinh năm 1977, trú tại xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (chồng chị P) đến tài khoản số 298704070004750 mở tại Ngân hàng H6 đứng tên Lê Phạm Thanh T6, sinh năm 1995, trú tại tổ dân phố L, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (là bạn học cùng cấp 3 với Hoàng A) theo yêu cầu của Hoàng A. Khi nhận được tiền Hoàng A bảo anh T6 chuyển khoản số tiền trên vào tài khoản số 82266 mở tại Ngân hàng O của Hoàng A. Sau khi nhận được tiền Hoàng A không sử dụng để làm đáo hạn ngân hàng cho khách như đã nói với chị P mà ngày 18/8/2022 Hoàng A sử dụng số tiền này cộng với tiền của Hoàng A có trong tài khoản chuyển 201.500.000 đồng đến tài khoản số 65588568 mở tại Ngân hàng V4 đứng tên anh Ngô Tuấn A1, sinh năm 1990 trú tại phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc để trả nợ. Đến ngày 19/8/2022, vẫn thủ đoạn như trên Hoàng A tiếp tục nói với chị P có khách cần 950.000.000 đồng đáo hạn Ngân hàng với mức lãi suất là 2.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, Hoàng A bảo chị P có tiền thì chuyển cho Hoàng A để làm đáo hạn Ngân hàng cho khách. Tin lời Hoàng A nói là thật nên chị P đồng ý chuyển tiền, Hoàng A gửi cho chị P tài khoản số 298704070002790 mở tại Ngân hàng H6 đứng tên Trần Thanh T7, sinh năm 1995, trú tại xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (là đồng nghiệp làm cùng Ngân hàng H6 với Hoàng A) để chị P chuyển tiền nói là số tài khoản của khách hàng để chị P chuyển tiền vào. Vì vậy, ngày 19/8/2022 chị P đã sử dụng tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng M4 đứng tên chị P chuyển khoản 980.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng trên của anh Trần Thanh T7 theo yêu cầu của Hoàng A (chuyển thừa 30.000.000₫ do chị P chuyển nhầm nên sau đó Hoàng A đã chuyển lại 30.000.000 đồng trả lại cho chị P). Sau khi nhận được tiền Hoàng A bảo T7 chuyển khoản 500.000.000 đồng vào tài khoản số 82266 mở tại Ngân hàng O của Hoàng A và chuyển 480.000.000 đồng vào tài khoản số 19038589963014 mở tại Ngân hàng T12 của Hoàng A. Có được số tiền trên Hoàng A không sử dụng để làm đáo hạn ngân hàng cho khách như đã nói với chị P mà sử dụng chuyển khoản 350.000.000 đồng vào tài khoản số 19036281862011 mở tại Ngân hàng T12 đứng tên Trần Tuấn A2, sinh năm 1987 trú tại thôn P, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa để nhờ Tuấn A2 trả nợ cho anh Trần Văn M2, sinh năm 1983 trú tại thôn L, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; chuyển khoản 703.500.000 đồng (trong đó có 600.000.000 đồng của chị P) đến tài khoản số 19033848428015 mở tại Ngân hàng T12 đứng tên Nguyễn Tùng D2, sinh năm 1990 trú tại thôn B, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội để trả tiền vay anh D2 đặt cọc mua đất (trong đó 700.000.000 đồng là tiền gốc, 3.500.000 đồng là tiền hoa hồng).

Tổng số tiền ngày 17 và ngày 19/8/2022 chị P chuyển cho Hoàng A là 1.050.000.000 đồng làm đáo hạn Ngân hàng cho khách nhưng Hoàng A không sử dụng để làm đáo hạn Ngân hàng cho khách hàng nào mà chiếm đoạt hết để sử dụng trả nợ và tiêu sài cá nhân. Quá hẹn không thấy trả tiền nên chị P đã nhiều lần gọi điện, nhắn tin yêu cầu

6

Hoàng A trả tiền thì đến ngày 30/8/2022 Hoàng A chuyển trả chị P được 200.000.000 đồng tiền gốc đối với khoản vay 950.000.000 đồng, ngày 20/9/2022 Hoàng A tiếp tục chuyển trả chị P 150.000.000 đồng tiền gốc. Hai bên thống nhất khoản vay 950.000.0000 đồng tính đến ngày 20/9/2022 thì Hoàng A còn nợ 600.000.000 đồng tiền gốc và 42.725.000 đồng tiền lãi; đối với khoản vay 100.000.000 đồng tính đến ngày 20/9/2022 thì tiền lãi là 2.100.000 đồng, tổng cả hai khoản vay Hoàng A còn nợ chị P 700.000.000 đồng và 44.850.000 đồng tiền lãi. Tuy nhiên, khi chuyển tiền cho Hoàng A làm đáo hạn Ngân hàng cho khách thì hai bên không viết giấy tờ biên nhận gì nên ngày 30/9/2022 chị P yêu cầu Hoàng A viết “Giấy vay tiền đáo nợ ngân hàng” có nội dung là “Ngày 20/9/2022 Hoàng A vay số tiền 644.850.000 đồng với lãi suất 1,5k/triệu/ngày” trong giấy chị P chỉ yêu cầu Hoàng A viết khoản gốc 600.000.000 đồng và khoản tiền lãi 44.850.000 đồng mà quên khoản tiền gốc 100.000.000 đồng chị P đã chuyển khoản cho Hoàng A ngày 17/8/2022.

Như vậy, tổng số tiền ngày 17/8/2022 và ngày 19/8/2022 chị P chuyển khoản cho Hoàng A 1.050.000.000 đồng. Sau đó, Hoàng A trả lại cho chị P được 350.000.000 đồng, chiếm đoạt của chị P số tiền 700.000.000 đồng.

- Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh Hoàng Văn T3:

Hoàng A và anh T3 là đồng nghiệp làm cùng tại Ngân hàng H6 Chi nhánh V3 nên có mối quan hệ quen biết thân thiết với nhau. Ngày 29/8/2022, Hoàng A hỏi vay anh T3 số tiền 800.000.000 đồng để làm đáo hạn ngân hàng cho khách trong thời gian từ 3 đến 4 ngày và hứa hẹn sẽ trả tiền lãi cho anh T3 theo mức lãi suất là 2.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày. Tin lời Hoàng A nói là thật nên anh T3 đồng ý rồi Hoàng A gửi tài khoản số 82266 mở tại Ngân hàng O của Hoàng A cho anh T3 chuyển tiền. Sau đó cùng ngày 29/8/2022 anh T3 sử dụng tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng M4 của anh T3 chuyển 02 lần với tổng số tiền 800.000.000 đồng đến tài khoản của Hoàng A. Tuy nhiên, sau khi có được số tiền 800.000.000 đồng Hoàng A không sử dụng để làm đáo hạn ngân hàng cho khách như Hoàng A nói với anh T3 mà sử dụng chuyển khoản 52.800.000 đồng đến tài khoản số 0917135856 mở tại Ngân hàng M4 đứng tên Trần Văn M2, sinh năm 1983 trú tại xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc để trả nợ cho anh M2; chuyển khoản 598.000.000 đồng đến tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng V4 đứng tên Nguyễn Thị T8, sinh năm 1997 trú tại phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc để trả nợ cho ông Nguyễn Văn T9, sinh năm 1971 trú tại phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (bố đẻ chị T8); chuyển khoản 100.000.000 đồng đến tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng V1 đứng tên Nguyễn Thị T10, sinh năm 1992 trú tại phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc để trả nợ cho chị T10; chuyển khoản 20.000.000 đồng đến tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng V2 đứng tên Nguyễn Danh L1, sinh năm 1982 trú tại xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc để trả nợ cho anh L1; sử dụng 1.300.000 đồng tiêu sài cá nhân; chuyển khoản 10.000.000 đồng đến tài khoản số 19033870398014 mở tại Ngân hàng T12 đứng tên Trần Thị T2, sinh năm 1996 trú tại thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (là vợ Hoàng A) để sử dụng chi tiêu cá nhân; chuyển khoản 8.000.000 đồng đến tài khoản số 42610000379679 mở tại

7

Ngân hàng B2 đứng tên Nguyễn Văn H5, sinh năm 1994 trú tại thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc để trả tiền công cho anh H5 làm chuyển đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ sổ bìa đỏ sang bìa hồng cho khách hàng vay vốn của Hoàng A tại Ngân hàng. Sau đó, quá hẹn không thông thấy Hoàng A trả tiền nên anh T3 đã nhiều lần gọi điện, nhắn tin yêu cầu Hoàng A trả tiền thì đến ngày 14/9/2022 Hoàng A chuyển trả anh T3 được số tiền 400.000.000 đồng từ tài khoản số 82266 mở tại Ngân hàng O của Hoàng A đến tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng V2 của anh T3, số tiền còn lại 400.000.000 đồng Hoàng A chiếm đoạt và không có khả năng trả lại. Do tại thời điểm khi vay số tiền trên Hoàng A không viết giấy tờ hay thế chấp tài sản gì cho anh T3 nên ngày 05/10/2022 anh T3 và Hoàng A đến Văn phòng C1 có địa chỉ số A, Khu đô thị C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc ký kết Hợp đồng vay tiền với nội dung: “anh T3 cho Hoàng A vay số tiền 400.000.000 vào ngày 02/10/2022, hẹn đến ngày 22/11/2022 Hoàng A phải trả lại tiền cho anh T3”.

Như vậy, tổng số tiền ngày 29/8/2022 anh T3 chuyển khoản cho Hoàng A 800.000.000 đồng làm đáo hạn Ngân hàng, sau khi nhận được tiền Hoàng A không sử dụng làm đáo hạn Ngân hàng mà sử dụng toàn bộ số tiền này để trả nợ và tiêu sài cá nhân. Sau đó, Hoàng A trả lại cho anh T3 được 400.000.000 đồng, chiếm đoạt của anh T3 400.000.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự:

Đối với bị cáo Phạm Văn T: Số tiền Phạm Văn T lừa đảo chiếm đoạt của chị P là 1.000.000.000 đồng. Ngày 28/7/2024, gia đình T đã khắc phục trả lại cho chị P số tiền 700.000.000 đồng, số tiền còn lại 300.000.00 đồng chị P không yêu cầu bị cáo T và gia đình T phải trả lại, đồng thời chị P có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự đối với T.

Đối với bị cáo Lê Hoàng A:

  • Đối với bị hại chị Trần Thị P: Số tiền Hoàng A đã lừa đảo chiếm đoạt của chị P là 700.000.000 đồng. Bố bị cáo Hoàng A là ông Lê H đã khắc phục bồi thường cho chị P 100.000.000 đồng, còn lại 600.000.000 đồng chưa khắc phục, bồi thường.
  • Đối với bị hại chị Nguyễn Thu H1: Số tiền Hoàng A đã lừa đảo chiếm đoạt của chị H1 là 830.000.000 đồng. Bố bị cáo Hoàng A là ông Lê H đã khắc phục bồi thường cho chị H1 130.000.000 đồng, còn lại 700.000.000 đồng chưa khắc phục, bồi thường.
  • Đối với bị hại anh Hoàng Văn T3: Số tiền Hoàng A đã lừa đảo chiếm đoạt của anh T3 là 400.000.000 đồng. Bố bị cáo Hoàng A là ông Lê H đã khắc phục bồi thường cho anh T3 88.000.000 đồng, còn lại 312.000.000 đồng chưa khắc phục, bồi thường.

Vật chứng vụ án thu giữ được: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu đen của Phạm Văn T; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen của Lê Hoàng A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8Z, màu đen của chị Trần Thị P; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPone 12 Pro Max, màu xanh của chị Nguyễn Thu H1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 13 Pro, màu đen của anh Hoàng Văn T3 để phục vụ công tác giám định. Sau khi có kết luận giám định, Cơ quan Cảnh sát

8

điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại các tài sản trên cho chị P, chị H1 và anh T3.

Tại bản Cáo trạng số 99/CT-VKS-P1 ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố các bị cáo Phạm Văn T và Lê Hoàng A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 09/8/2023.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Hoàng A từ 13 năm đến 14 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 29/4/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Phạm Văn T và Lê Hoàng A.

Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo T đã bồi thường xong cho chị P.

Bị cáo Lê Hoàng A đã bồi thường cho chị Trần Thị P số tiền 100.000.000 đồng, chị Nguyễn Thu H1 số tiền 130.000.000 đồng và anh Hoàng Văn T3 số tiền 88.000.000 đồng. Cần buộc bị cáo phải bồi thường cho chị P 600.000.000 đồng, chị H1 700.000.000 đồng và anh T3 số tiền 312.000.000 đồng.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị trả lại cho bị cáo Phạm Văn T 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu đen và bị cáo Lê Hoàng A 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen do không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Ý kiến của những người tham gia tố tụng:

Luật sư bào chữa cho các bị cáo Phạm Văn T và Lê Hoàng A trình bày bản bào chữa khẳng định Cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Người bào chữa cho bị cáo T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; người bào chữa cho bị cáo Hoàng A đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo mức án thấp nhất do pháp luật quy định.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị hại chị Trần Thị P và chị Nguyễn Thu H1 đều thừa nhận việc bị cáo Phạm Văn T và Lê Hoàng A đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của họ, sau đó tiêu sài cá nhân hết như lời các bị cáo trình bày và nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc là đúng. Tại phiên tòa chị P xác nhận bị cáo T đã bồi thường cho chị số tiền 700.000.000 đồng, bị cáo T còn phải trả lại cho chị số tiền còn thiếu là 300.000.000 đồng, tuy nhiên chị không yêu cầu bị cáo T phải trả lại cho chị số tiền này và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho

9

bị cáo T; bị cáo Hoàng A đã tác động gia đình bồi thường khắc phục cho chị số tiền 100.000.000 đồng, chị yêu cầu bị cáo phải trả cho chị số tiền còn thiếu là 600.000.000 đồng. Chị H1 xác nhận bị cáo Hoàng A đã tác động gia đình khắc phục bồi thường cho chị số tiền 130.000.000 đồng, chị yêu cầu bị cáo phải trả lại cho chị số tiền còn thiếu là 700.000.000 đồng.

Người bị hại là anh Hoàng Văn T3 tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra anh T3 đã có lời khai thể hiện bị cáo Lê Hoàng A lừa đảo của anh số tiền 400.000.000 đồng, bố bị cáo Hoàng A đã bồi thường khắc phục cho anh số tiền 88.000.000 đồng. Anh yêu cầu bị cáo Hoàng A phải trả cho anh số tiền còn thiếu là 312.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Phạm Văn T và Lê Hoàng A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Các bị cáo khai nhận trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến năm 2022 do kinh doanh thua lỗ dẫn đến tình trạng không có khả năng trả nợ nên Phạm Văn T và Lê Hoàng A nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của người khác nhằm mục đích trả nợ và chi tiêu cá nhân. Các bị cáo lợi dụng mình đang công tác tại các Ngân hàng, trước đó có được niềm tin của nhiều người nên đưa ra thông tin cần huy động tiền trong thời gian ngắn để làm thủ tục đáo hạn ngân hàng cho khách và hứa hẹn sẽ trả đầy đủ gốc, lãi ngay sau khi khách hàng được giải ngân. Bằng thủ đoạn gian dối này, bị cáo Phạm Văn T đã chiếm đoạt của chị Trần Thị P tổng số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỉ đồng); bị cáo Lê Hoàng A đã chiếm đoạt của các bị hại tổng số tiền 1.930.000.000 (Một tỷ chín trăm ba mươi triệu đồng), trong đó chiếm đoạt của chị Trần Thị P 700.000.000 đồng, của chị Nguyễn Thu H1 830.000.000 đồng và của anh Hoàng Văn T3 số tiền 400.000.000 đồng.

[3] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; các Kết luận giám định; vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ để kết luận hành vi của Phạm Văn T và Lê Hoàng A đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4

10

Điều 174 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

[4] Xét tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo, thấy rằng:

Bị cáo Phạm Văn T được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã bồi thường cho bị hại; bị cáo có ông nội là người có công với nước được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhì và bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Bị cáo Lê Hoàng A được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; bị cáo có ông nội và ông ngoại được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba; trong thời gian bị tạm giam bị cáo tích cực cộng tác với Trại tạm giam Công an tỉnh V cung cấp, phản ánh chính xác nhiều thông tin có giá trị phục vụ công tác theo dõi, nắm bắt tình hình hoạt động của các bị can khác trong khu giam giữ được Trại tạm giam có văn bản xác nhận và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; nhưng phải chịu 01 tình tiết tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện sự ham muốn kiếm tiền bất chính, liều lĩnh, coi thường pháp luật, gây phẫn nộ, bất an trong nhân dân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi cuộc sống cộng đồng ở ngoài xã hội để chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mới đủ tác dụng răn đe, phòng chống đối với loại tội phạm này.

Đối với bị cáo Phạm Văn T được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đã bồi thường xong cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, trước khi phạm tội có nhân thân tốt, có đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng một mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo bị xét xử nhằm tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Đối với bị cáo Lê Hoàng A chỉ được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng phải chịu 01 tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52

11

Bộ luật Hình sự, số tiền bồi thường cho các bị hại không đáng kể, chỉ được một trong số ba bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, tuy trước khi phạm tội có nhân thân tốt nhưng cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung.

Thấy rằng, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật; tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng. Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là đủ để răn đe, phòng ngừa và giáo dục chung cũng như tạo điều kiện giúp các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, yên tâm cải tạo trở thành công dân có ích. Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ đề nghị của Viện kiểm sát về phần hình phạt đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với các tài sản mà Cơ quan điều tra đã thu giữ không liên quan đến việc phạm tội thì trả lại cho các bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, chị Trần Thị P yêu cầu bị cáo Phạm Văn T phải trả cho chị tổng số tiền là 1.000.000.000 đồng. Tại phiên tòa chị P xác nhận bị cáo đã bồi thường được 700.000.000 đồng. Đối với số tiền còn lại chị P không yêu cầu bị cáo phải bồi thường và tự nguyện cho bị cáo số tiền này. Bị cáo cũng đồng ý với ý kiến của bị hại. Thấy rằng, thoả thuận này là tự nguyện nên Hội đồng xét xử xác nhận bị cáo đã bồi thường xong cho chị P.

Chị Trần Thị P xác nhận bị cáo Lê Hoàng A đã bồi thường được 100.000.000 đồng và yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền còn thiếu là 600.000.000 đồng. Chị Nguyễn Thu H1 xác nhận bị cáo Lê Hoàng A đã bồi thường được 130.000.000 đồng và yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền còn thiếu là 700.000.000 đồng. Anh Hoàng Văn T3 tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra xác nhận bị cáo Lê Hoàng A đã bồi thường được 88.000.000 đồng và yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền còn thiếu là 312.000.000 đồng. Yêu cầu của các bị hại là hợp pháp, vì vậy cần buộc bị cáo Lê Hoàng A phải trả số tiền còn thiếu theo yêu cầu của các bị hại.

[8] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định được các bị cáo Phạm Văn T và Lê Hoàng A đều không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

[9] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, bị cáo Lê Hoàng A còn phải chịu án phí dân sự đối với số tiền 1.612.000.000 đồng chưa bồi thường cho các bị hại. Bị cáo Hoàng A phải chịu án phí dân sự trong vụ án hình sự với số tiền là 60.360.000 đồng [36.000.000 đồng + (3% x 812.000.000 đồng)].

Vì các lẽ trên,

12

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T và Lê Hoàng A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 07 (Bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 09/8/2023.

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng A 13 (Mười ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 29/4/2024.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 584, 585 và 589 Bộ luật Dân sự; Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xác nhận bị cáo Phạm Văn T đã bồi thường xong cho chị Trần Thị P.

Buộc bị cáo Lê Hoàng A phải trả cho chị Trần Thị P số tiền 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng); phải trả cho chị Nguyễn Thu H1 số tiền 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng) và phải trả cho anh Hoàng Văn T3 số tiền 312.000.000 đồng (Ba trăm mười hai triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bị cáo Lê Hoàng A còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trả lại cho bị cáo Phạm Văn T 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu đen và bị cáo Lê Hoàng A 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Toàn bộ vật chứng nêu trên có đặc điểm như Biên bản giao, nhận vật chứng do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc lập ngày 14 tháng 11 năm 2024.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Phạm Văn T và Lê Hoàng A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Lê Hoàng A còn phải chịu 60.360.000 đồng (Sáu mươi triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự.

13

Các bị cáo; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Phòng Hồ sơ - CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Người bào chữa;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, Phòng HC-TP, Tòa Hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thanh Danh

14

15

16

17

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 115/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T và đồng phạm phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger