Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 115/2024/HS-ST

Ngày 14 tháng 11 năm 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Chưởng và ông Trần Quang Thái.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lương Quốc Danh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 96/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Bạch Văn Đ, sinh ngày 29/3/1974. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bạch Văn B và bà Lê Thị T; Vợ tên Phan Thị Thùy D, sinh năm 1978; Con có 03 người, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2007.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/7/2024 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Lê Thanh S, sinh năm 1957. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Thành D1, sinh năm 1981. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người làm chứng:

  1. Ông Võ Văn Đ1 (vắng mặt).
  2. Anh Võ Văn Mỹ A (vắng mặt).
  3. Bà Phan Thị D (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 26/7/2024, Lê Thanh S, Võ Văn Đ1 (Tám Đ2) ở ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang, lái máy cày ra đồng cách nhà T1 Được khoảng 30m. Khi đi, S để điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note 13 trong túi vải đặt trên tảng đá trước thềm nhà T1 Được. Đến khoảng 08 giờ, Bạch Văn Đ một mình điều khiển xe mô tô biển số 67L6-4259 đến nhà T1 Được gửi xe đi bắt ốc, nhìn thấy điện thoại của S để trên tảng đá, xung quanh không người trông giữ nên Đ đi đến lấy túi vải bên trong có điện thoại bỏ vào thau nhôm rồi điều khiển xe đến cầu kênh “Bốn Tổng” tại ấp V, xã V, huyện T, lấy túi vải ném bỏ xuống kênh. Điện thoại Được mang về nhà tắt nguồn, tháo 02 sim để trên tủ lạnh rồi điều khiển xe đi cắt cỏ. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, S phát hiện mất điện thoại nên đến Công an trình báo.

Hành vi lấy điện thoại của Đ bị camera tại nhà anh T1 Được ghi lại và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ đoạn camera này.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, màu vàng, kiểu máy Redmi Note 13; 01 ốp lưng bằng nhựa màu đen; 01 sim Viettel số 0344.466.xxx; 01 sim Vinaphone số 0817.761.xxx; 01 áo thun dài tay, màu xanh, cổ áo màu đen, trước ngực trái có dòng chữ “Công ty CP H”, mặt sau lưng áo có dòng chữ “Lâm Ngọc JSC”; 02 yếm xe (loại yếm xe Wave), mặt ngoài có dòng chữ “HONDA”, màu xanh, kích thước (63 x 34) cm; 01 mũ bảo hiểm màu trắng, có tem màu đỏ, trên có dòng chữ “RACING BAY”; 01 bao màu trắng, nhãn hiệu Super WhiteS6136 (loại thức ăn cho cá), loại bao có khối lượng tịnh 2,5kg; 01 thau bằng kim loại, màu trắng, đường kính 46,5cm, cao 14 cm; 01 bọc nhựa màu cam, kích thước (41,5 x 30) cm, mặt ngoài có dòng chữ “TBS GROUP CHUNG SỨC KIẾN TẠO TƯƠNG LAI”; 01 tua vít kim loại, loại tua vít dẹp, có cán bằng nhựa màu xanh - vàng, dài 20 cm, phần cán dài 10 cm; 01 xe mô tô biển số 67L4-4259, nhãn hiệu TIRANA, loại C110, màu xanh, số máy 00123124, số khung không rõ; 01 giấy đăng ký xe mô tô số 0165708 tên Phạm Thành D1; 01 mũ lưỡi trai mặt ngoài màu xanh, mặt trong màu đen, có dòng chữ “GUCCI”; 01 quần đùi màu đen - xanh và 01 đĩa DVD lưu trữ một đoạn video thu giữ từ camera tại nhà Võ Văn Đ1.

Ngày 25/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trao trả 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 13, 01 ốp lưng và 02 sim điện thoại cho anh Lê Thanh S.

Tại Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 40/KL-HĐĐGTS ngày 27/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, xác định: 01 điện thoại di động loại Xiaomi Redmi Note 13, màu vàng, số Imei 869542069790344 trị giá 3.500.000 đồng; 01 sim điện thoại mạng Vinaphone số 0817.761.xxx trị giá 100.000 đồng; 01 sim điện thoại mạng Viettel số 0344.466.xxx trị giá 100.000 đồng; 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa, màu đen trị giá 50.000 đồng. Tổng cộng là 3.750.000 đồng.

Kết luận giám định số 1298/KL-KTHS (KT-GT) ngày 14/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, xác định: Xe mô tô biển số 67L4-4259 có số khung --- BCH3UM4H123--- bị hoen gỉ, số máy VHHJL152FMH00123124 không bị đục, sửa, cắt, hàn, tẩy xóa, hoen gỉ.

Tại Cáo trạng số 101/CT-VKSTS ngày 16/10/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố bị cáo Bạch Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bạch Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên và xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại Lê Thanh S trình bày như nội dung vụ án đã nêu. Về hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo theo quy định pháp luật. Đối với phần trách nhiệm dân sự, do đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường gì khác.

Những người làm chứng Võ Văn Đ1, Võ Văn Mỹ A, Phan Thị D (vợ của Được) đều trình bày như nội dung vụ án đã nêu.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Thành D1 trình bày: Xe mô tô biển số 67L4-4259, loại Tirana do D1 đứng tên trên giấy đăng ký xe mô tô. Năm 2014, D1 đã bán xe mô tô này cho Bạch V Được giá 4.000.000 đồng.

Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Bạch Văn Đ mức án từ 06 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt bổ sung do hoàn cảnh bị cáo khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bị cáo. Về trách nhiệm dân sự do bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên không đề cập xem xét. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại Lê Thanh S và người làm chứng Võ Văn Đ1, Võ Văn Mỹ A vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sau khi vụ án xảy ra những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 08 giờ ngày 26/7/2024, bị cáo Bạch Văn Đ một mình điều khiển xe mô tô biển số 67L6-4259 đến nhà Võ Văn Đ1 (Tám Đ), thuộc ấp V, xã V, huyện T đi bắt ốc. Đến nơi, bị cáo nhìn thấy điện thoại di động của Lê Thanh S để trên tảng đá, xung quanh không người trông giữ nên lén lút chiếm đoạt điện thoại cùng với 01 ốp lưng và 02 sim, tổng giá trị tài sản là 3.750.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Bạch Văn Đ đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân bất bình. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm để răn đe và phòng ngừa tội phạm.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo Bạch Văn Đ là người đã thành niên, bản thân có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để làm ăn chân chính và hướng thiện. Ngược lại vì muốn có điện thoại sử dụng mà không phải mua nên bị cáo cố ý thực hiện việc chiếm đoạt tài sản. Do đó cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo học vấn thấp, hiểu biết pháp luật hạn chế; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các

tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Bị cáo Bạch Văn Đ là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo gây mất an ninh trật tự, làm cho quần chúng nhân dân lên án, bất bình. Do vậy, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, bị hại Lê Thanh S đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về vật chứng: Đối với 01 áo thun dài tay, màu xanh, cổ áo màu đen, trước ngực trái có dòng chữ “Công ty CP H”, mặt sau lưng áo có dòng chữ “Lâm Ngọc JSC"; 02 yếm xe (loại yếm xe Wave), mặt ngoài có dòng chữ “HONDA”, màu xanh, kích thước (63 x 34) cm; 01 mũ bảo hiểm màu trắng, có tem màu đỏ, trên có dòng chữ “RACING BAY”; 01 bao màu trắng, nhãn hiệu Super WhiteS6136 (loại thức ăn cho cá), loại bao có khối lượng tịnh 2,5kg; 01 thau bằng kim loại, màu trắng, đường kính 46,5 cm, cao 14 cm; 01 bọc nhựa màu cam, kích thước (41,5 x 30) cm, mặt ngoài có dòng chữ “TBS GROUP CHUNG SỨC KIẾN TẠO TƯƠNG LAI”; 01 tua vít kim loại, loại tua vít dẹp, có cán bằng nhựa màu xanh - vàng, dài 20 cm, phần cán dài 10 cm; 01 mũ lưỡi trai mặt ngoài màu xanh, mặt trong màu đen, có dòng chữ “GUCCI”; 0 1 quần đùi màu đen - xanh, các vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe mô tô biển số 67L4-4259, nhãn hiệu TIRANA, loại C110, màu xanh, số máy 00123124, số khung không rõ; 01 giấy đăng ký xe mô tô số 0165708 tên Phạm Thành D1, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

[7] Về các vấn đề khác: Bị cáo Bạch Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bạch Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt

bị cáo Bạch Văn Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27 tháng 7 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) mũ lưỡi trai mặt ngoài màu xanh, mặt trong màu đen, có dòng chữ “GUCCI”; 01 (một) quần đùi màu đen - xanh; 01 (một) áo thun dài tay, màu xanh, cổ áo màu đen, trước ngực trái có dòng chữ “Công ty CP H”, mặt sau lưng áo có dòng chữ “Lâm Ngọc JSC”; 02 (hai) yếm xe (loại yếm xe Wave), mặt ngoài có dòng chữ “HONDA”, màu xanh, kích thước (63 x 34) cm; 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng, có tem màu đỏ, trên có dòng chữ “RACING BAY”; 01 (một) bao màu trắng, nhãn hiệu: Super WhiteS6136 (loại thức ăn cho cá), loại bao có khối lượng tịnh 2,5kg; 01 (một) thau bằng kim loại, màu trắng, đường kính 46,5 cm, cao 14 cm; 01 (một) cái bịch nhựa màu cam, kích thước (41,5 x 30) cm, mặt ngoài có dòng chữ “TBS GROUP CHUNG SỨC KIẾN TẠO TƯƠNG LAI”; 01 (một) tua vít kim loại, loại tua vít dẹp, có cán bằng nhựa màu xanh - vàng, dài 20 cm, phần cán dài 10 cm. Trả lại cho bị cáo Bạch Văn Đ 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát: 67L4-4259, màu xanh, số máy: VHHJL152FMH00123124, số khung: không rõ, nhãn hiệu: TIRANA, loại: C110; 01 (một) giấy Đăng ký xe mô tô, xe máy, biển số: 67L4-4259, Họ tên chủ xe Phạm Thành D1, nơi ĐKNK thường trú: tổ B, ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Tất cả đã qua sử dụng. (đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16 tháng 10 năm 2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn với Công an huyện T)

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bạch Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp An Giang;
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Thoại Sơn;
  • - Cơ quan THA hình sự huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Triều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 115/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bạch Văn Đ phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger