Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 115/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30/9/2024

Về việc ly hôn, tranh chấp về

nuôi con, chia tài sản khi ly hôn


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Diệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Thảo;
  2. Ông Tống Văn Tâm.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Trinh, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 27 và 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 319/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 77/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Mai Thanh Q, sinh năm 1995; địa chỉ: tổ H, khu phố C, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Vũ Thị Kim Á – Luật sư Công ty L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B; địa chỉ: số E N, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

Bị đơn: Ông Vi Từ T, sinh năm 1992; địa chỉ: tổ A, khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn về phần tài sản: Ông Nguyễn Trường P, sinh năm 1990 và bà Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 1997; địa chỉ: số A đường số I khu T, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 10/5/2024), bà Y có mặt, ông P vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1963; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  2. Ông Mai Văn T1, sinh năm 1961; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1963; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Cùng địa chỉ: tổ H, khu phố C, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  4. Ngân hàng TMCP Đ (B); địa chỉ trụ sở chính: Số C H, quận H, Thành phố Hà Nội; địa chỉ chi nhánh: Số C Y phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Nam T2, sinh năm 1985 - Trưởng Phòng khách hàng cá nhân và ông Trần Bảo S, sinh năm 1999 - Chuyên viên Phòng khách hàng cá nhân Ngân hàng TMCP Đ (B), Chi nhánh T5; địa chỉ: Số C Y phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 06/5/2024). Ông S có mặt, ông T2 vắng mặt.

  1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; địa chỉ: khu phố D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Bà Q và ông T kết hôn vào năm 2017, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Sau khi kết hôn, bà Q, ông T sống chung cùng cha mẹ bà Q tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong việc làm ăn giữa ông T với cha mẹ bà Q. Năm 2023, bà Q phát hiện ông T có mối quan hệ với người phụ nữ khác và có con riêng. Bà Q và ông T đã tìm cách giải quyết nhưng không có kết quả, ông bà sống ly thân từ ngày 22/9/2023. Do tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên bà Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà Q và ông T có 01 con chung tên Vi Mai Đăng K, sinh ngày 28/10/2020, cháu K đang sống với bà Q. Khi ly hôn, bà Q yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, yêu cầu ông T cấp dưỡng 5.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Trong thời gian sống chung, bà Q và ông T tạo lập được tài sản chung gồm:

- Quyền sử dụng đất diện tích đo đạc thực tế 312,4m² (trong đó đất thổ cư: 160m², đất trồng cây lâu năm 152,4m²) thuộc thửa đất số 1085, tờ bản đồ số 11, tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) số CS10582 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 20/11/2020 cho ông Vi Từ T. Tài sản gắn liền đất là 24 căn phòng trọ diện tích 203,2m², 01 mái che nền lát gạch men diện tích 109,2m² và 01 bồn nước inox. Đất có nguồn gốc do vợ chồng nhận chuyển nhượng, nguồn tiền để nhận chuyển nhượng đất là do cha mẹ bà Q cho ½ và ½ là do vay của Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh T5 1.000.000.000 đồng.

- Quyền sử dụng đất diện tích đo đạc thực tế là 266,5m² (trong đó đất thổ cư 100m², đất trồng lâu năm 166,5m²), thuộc thửa đất số 1093, tờ bản đồ số 11, tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Giấy CNQSDĐ số CS10577 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 20/11/2020 cho ông Vi Từ T. Tài sản gắn liền đất: 09 phòng trọ diện tích 171,4m², 01 mái che nền gạch men diện tích 95,1m², 01 bồn nước inox. Nguồn gốc đất là do nhận chuyển nhượng nhưng nguồn tiền để mua đất là do cha mẹ bà Q cho 2.000.000.000 đồng làm vốn kinh doanh.

- 09 căn ki ốt diện tích 215,4m², 01 mái che diện tích 79,8m², nền bê tông diện tích 79,8m² và bồn nước, tài sản này tọa lạc thửa đất số 1100 cấp giấy CNQSDĐ riêng cho bà Q.

- 01 xe ô tô hiệu Mazda BT-50 biển số 61C-466.13, giấy chứng nhận đăng ký số 136163 cấp ngày 16/10/2020 cấp cho bà Mai Thanh Q, trị giá 400.000.000 đồng.

- Tiền thu nhập từ nhà trọ 70.000.000 đồng/tháng, tính từ tháng 9/2023 đến tháng 9/2024, sau đi trừ các chi phí gồm: tiền học cho cháu Vi Mai Đăng K 7.000.000 đồng/tháng, tiền điện nước nhà trọ 12.800.000 đồng/tháng, tiền đóng lãi cho ngân hàng, số tiền còn lại là tài sản chung của vợ chồng.

Đối với tài sản chung là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, bà Q yêu cầu chia theo tỷ lệ bà Q hưởng 65%, ông T 35%, bà Q yêu cầu nhận bằng hiện vật và thanh toán giá trị cho ông T theo kết quả của Hội đồng định giá thành phố T.

Đối với tiền thu nhập từ nhà trọ, bà Q yêu cầu ông T chia đôi số tiền này sau khi trừ đi các chi phí phát sinh. Đối với xe ô tô hiệu Mazda BT-50 biển số 61C-466.13, trị giá 400.000.000 đồng bà Q yêu cầu giao xe cho ông T quản lý, sử dụng, ông T có trách nhiệm thanh toán ½ giá trị xe với số tiền 200.000.000 đồng.

Yêu cầu ông T trả lại cho bà Q bản chính Giấy CNQSDĐ số CS10577 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 20/11/2020.

Tài sản riêng của bà Mai Thanh Q gồm:

- Quyền sử dụng đất diện tích đo đạc thực tế 650,2m², thuộc thửa đất số 1232, tờ bản đồ số 4, tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Giấy CNQSDĐ số CS06018 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Mai Thanh Q vào ngày 10/03/2017. Đất có nguồn gốc do cha mẹ cho bà Q trước thời kỳ hôn nhân. Thửa đất này đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP Đ (B) – Chi nhánh T5 để vay 1.000.000.000 đồng vào mục đích xây ki ốt và phòng trọ.

- Quyền sử dụng đất diện tích đo đạc thực tế là 406,3m², thuộc thửa đất số 1100, tờ bản đồ số 11, tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Giấy CNQSDĐ số CS06126 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Mai Thanh Q vào ngày 19/05/2017. Đất có nguồn gốc do cha mẹ bà Q tặng cho vào năm 2017.

Bà Mai Thanh Q yêu cầu Tòa án công nhận các tài sản nêu trên là tài sản riêng của bà Q.

Về nợ chung:

- Nợ Ngân hàng TMCP Đ (B), Chi nhánh Thủ Dầu Một số tiền 820.262.687 đồng (trong đó nợ gốc 791.928.000 đồng, lãi cộng dồn 27.515.674 đồng, lãi/phí phạt 819.013 đồng) theo Hợp đồng tín dụng số 51/2021/11557984/HĐTD ngày 29/01/2021, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 1085 theo Hợp đồng thế chấp số 29/2021/11557984/HĐBĐ ngày 29/01/2021 giữa bên thế chấp là bà Mai Thanh Q, ông Vi Từ T và bên nhận thế chấp là Ngân hàng B, chi nhánh T5 và 817.613.070 đồng (trong đó nợ gốc 789.150.000 đồng, lãi cộng dồn 27.575.564 đồng, lãi/phí phạt 887.506 đồng) theo Hợp đồng tín dụng số 219/2022/11557984/HĐTD ngày 25/04/2022, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 1100 theo Hợp đồng thế chấp số 57/2021/8654043/HĐBĐ ngày 23/03/2022.

- Nợ bà Nguyễn Thị M số tiền 100.000.000 đồng.

Khi ly hôn, bà Q yêu cầu chia đôi số nợ trên theo quy định của pháp luật.

Đối với số tiền 500.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 01/2023/11557984/HĐTD ký ngày 23/03/2023 và hạn mức thẻ tín dụng quá hạn: 208.817.297 đồng, đây là nợ riêng của ông T nên bà Q không đồng ý liên đới thanh toán số nợ này cho Ngân hàng B.

Tại phiên tòa, bà Q giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị M 100.000.000 đồng.

Bị đơn ông Vi Từ T trình bày:

Thống nhất ý kiến trình bày của bà Q về việc kết hôn, sống chung, thời gian và nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn vợ chồng. Ông T, bà Q sống ly thân từ ngày 22/9/2023 đến nay. Trước yêu cầu ly hôn của bà Q, ông T đồng ý.

Về con chung: thống nhất với lời trình bày của bà Q về việc ông T và bà Q có 01 con chung tên Vi Mai Đăng K, sinh ngày 28/10/2020, ông T đồng ý giao con chung cho bà Q nuôi dưỡng, đồng ý mức cấp dưỡng 5.000.000 đồng/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Hiện nay, ông T kinh doanh nhà trọ tổng thu nhập là 70.000.000 đồng, bất động sản và xây dựng thu nhập 01 tháng khoảng 30.000.000 đồng/tháng.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn về phần tài sản trình bày:

Thống nhất ý kiến trình bày của bà Q về tài sản chung của bà Q và ông T gồm:

- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền thửa đất số 1085, 1093. Hai thửa đất này có nguồn gốc do ông T, bà Q nhận chuyển nhượng. Thời điểm ông T, bà Q kết hôn, cha mẹ bà Q cho 2.000.000.000 đồng kinh doanh bất động sản nên có lợi nhuận, ông T, bà Q đã nhận chuyển nhượng hai thửa đất này, số tiền tiền vay Ngân hàng B là nhằm mục đích xây nhà trọ và ki ốt, không phải để nhận chuyển nhượng đất như bà Q trình bày.

- Tài sản trên thửa đất số 1100 gồm 09 căn ki ốt.

- 01 xe ô tô hiệu Mazda BT-50 biển số 61C-466.16 giấy chứng nhận số 136163 cấp ngày 16/10/2020 cho bà Mai Thanh Q. Hiện ông T đang sử dụng tài sản này.

Khi ly hôn, ông T yêu cầu chia đôi theo quy định của pháp luật, ông T yêu cầu được nhận thửa đất số 1085 và các tài sản trên đất, chia cho bà Q quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền thửa đất số 1093; đối với tài sản trên thửa đất số 1100, ông T yêu cầu giao cho giao cho bà Q quản lý, sử dụng, bà Q có nghĩa vụ thanh toán ½ giá trị cho ông T.

Đối với xe ô tô hiệu Mazda BT-50 biển số 61C-466.16, ông T yêu cầu được quản lý, sử dụng xe và thanh toán cho bà Q 200.000.000 đồng. Đối với số tiền thu nhập từ nhà trọ là 58.000.000 đồng/tháng, ông T thống nhất trừ các chi phí gồm tiền học cho cháu Vi Mai Đăng K, chi phí điện nước nhà trọ, trả lãi ngân hàng thì số tiền còn lại ông T đồng ý chia đôi cho bà Q.

Ông T đồng ý trả lại cho bà Mai Thanh Q bản chính Giấy CNQSDĐ số CS10577 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 20/11/2020.

Trường hợp giá trị tài sản bên nào nhận nhiều hơn phải thanh toán giá trị chênh lệch cho bên còn lại.

Về tài sản riêng:

Ông T thống nhất ý kiến và yêu cầu khởi kiện của bà Q về việc xác định thửa đất số 1100 và 1232 là tài sản riêng của bà Q, ông T không tranh chấp đối với quyền sử dụng đất này. Tuy nhiên, thời điểm năm 2020 xây nhà trọ trên thửa 1100 do thiếu đất thổ cư nên ông T đã chuyển thổ cư diện tích 150m² khoảng 165.000.000 đồng và thửa đất số 1232. Bà Q phải trả lại ½ số tiền này cho ông T.

Về nợ chung:

Nợ Ngân hàng TMCP Đ (B) toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi, phí theo các Hợp đồng tín dụng số 51/2021/11557984/HĐTD ngày 29/01/2021, Hợp đồng tín dụng số 219/2022/11557984/HĐTD ngày 25/4/2022; ngoài ra còn có số nợ theo Hợp đồng tín dụng số 01/2023/11557984/HĐTD ngày 23/3/2023 và Hợp đồng tín dụng số HĐ11557984/16/03042023 ngày 03/4/2023 với tổng số tiền tính đến ngày 08/5/2024 của ngân hàng là 2.345.000.000 đồng (cả gốc và lãi).

Khi ly hôn, ông T yêu cầu mỗi bên trả ½ số nợ nêu trên cho Ngân hàng B. Đối với số nợ bà Nguyễn Thị M 100.000.000 đồng, ông T không vay tiền bà M nên không đồng ý thanh toán số tiền này.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng B trình bày:

Ngân hàng B và ông Vi Từ T, bà Mai Thanh Q ký kết các Hợp đồng tín dụng sau:

- Hợp đồng tín dụng số 51/2021/11557984/HĐTD ngày 29/01/2021 vay số tiền 1.000.000.000 đồng, thời hạn vay 180 ngày kể từ ngày giải ngân, mỗi tháng thanh toán 5.556.000 đồng trả vào ngày 15 hàng tháng. Ông T, bà Q đã thanh toán nợ gốc 208.072.000 đồng, nợ lãi 276.173.367 đồng, lãi/phí phạt 194.076 đồng. Tổng số tiền còn nợ là 820.262.687 đồng (trong đó: nợ gốc 791.928.000 đồng, lãi cộng dồn 27.515.674 đồng, lãi/phí phạt 819.013 đồng).

- Hợp đồng tín dụng số 219/2022/11557984/HĐTD ký ngày 25/04/2022 vay số tiền 1.000.000.000 đồng, thời hạn vay 120 tháng kể từ ngày giải ngân, thanh toán nợ gốc lãi vào ngày 15 hàng tháng, mỗi tháng 8.334.000 đồng. Ông T, bà Q đã thanh toán nợ gốc 210.850.000 đồng, nợ lãi 175.028.836 đồng, lãi/phí phạt 281.270 đồng. Tổng số tiền còn nợ 817.613.070 đồng (trong đó nợ gốc 789.150.000 đồng, lãi cộng dồn 27.575.564 đồng, lãi/phí phạt 887.506 đồng).

- Hợp đồng tín dụng số 01/2023/11557984/HĐTD ký ngày 23/03/2023, hạn mức cấp tín dụng 500.000.000 đồng. Khoản vay này, ông T bà Q chưa thanh toán cho ngân hàng. Nợ gốc quá hạn 494.420.032 đồng, lãi cộng dồn 27.676.229 đồng, lãi chậm trả lãi 798.594 đồng, lãi phạt cho gốc 12.243.770 đồng. Tổng cộng 535.138.625 đồng.

- Hạn mức thẻ tín dụng quá hạn 208.817.297 đồng.

Tổng số tiền còn nợ Ngân hàng B là 2.381.831.679 đồng (nợ gốc 2.275.498.032 đồng, lãi cộng dồn 82.767.467 đồng, lãi/phí phạt 23.566.180 đồng).

Tài sản thế chấp đối với các hợp đồng tín dụng nêu trên gồm:

- Quyền sử dụng đất diện tích 315,6m², thuộc thửa đất số 1085, tờ bản đồ số 11, tại phường H, thành phố T, Giấy CNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CS10582 cấp ngày 20/11/2020 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông V Từ Thiện theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 29/2021/11557984 ngày 29/01/2021 giữa ông Vi Từ T, bà Mai Thanh Q và Ngân hàng B.

- Quyền sử dụng đất diện tích 395m², thuộc thửa đất số 1100, tờ bản đồ số 11, tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Giấy CNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp giấy số CS06126 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Mai Thanh Q vào ngày 19/05/2017, cập nhật thay đổi ngày 27/11/2018 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 57/2022/8654043/HĐBĐ ngày 23/3/2022 giữa bà Mai Thanh Q và Ngân hàng B.

Do ông T, bà Q vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng B yêu cầu ông Vi Từ T, bà Mai Thanh Q có nghĩa vụ thanh toán các khoản vay theo các hợp đồng tín dụng nêu trên gồm nợ gốc, lãi cộng dồn, lãi/phí phạt, thẻ tín dụng là 2.381.831.679 đồng.

Ngân hàng B không yêu cầu phát mã tài sản thế chấp. Trường hợp ông T, bà Q không thanh toán các khoản vay cho ngân hàng, Ngân hàng B sẽ xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận của các bên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Văn T1 và bà Nguyễn Thị D trình bày:

Thống nhất ý kiến trình bày của bà Mai Thanh Q.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M trình bày:

Bà M là bà ngoại của bà Mai Thanh Q. Năm 2017, bà Q kết hôn với ông T, do cần vốn làm ăn nên năm 2020, vợ chồng bà Q, ông T vay của bà M 100.000.000 đồng. Nay bà Q và ông T ly hôn, bà M yêu cầu bà Q, ông T có nghĩa vụ trả lại cho bà M số tiền này.

Bà Nguyễn Thị H1 là người thuê thửa đất số 1100 của bà Mai Thanh Q để xây dựng nhà xưởng kinh doanh. Bà H1 không có yêu cầu gì trong vụ án, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày ý kiến tranh luận:

Về quan hệ hôn nhân, con chung: bà Q và ông T đều thống nhất ly hôn và nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung: căn cứ vào nguồn gốc hình thành tài sản và lỗi của ông T dẫn đến việc bà Q và ông T ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia tài sản chung của vợ chồng.

Về nợ chung: trong thời kỳ hôn nhân, bà Q và ông T ký kết với Ngân hàng B các Hợp đồng tín dụng số 51/2021/11557984/HĐTD ngày 29/01/2021 vay số tiền 1.000.000.000 đồng và Hợp đồng tín dụng số 219/2022/11557984/HĐTD ký ngày 25/04/2022 vay số tiền 1.000.000.000 đồng. Do đó, bà Q chỉ đồng ý liên đới với ông T thanh toán số nợ còn lại cho ngân hàng.

Đối với số nợ 500.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 01/2023/11557984/HĐTD ký ngày 23/03/2023 và số tiền 200.000.000 đồng theo hạn mức thẻ tín dụng, bà Q không vay số tiền này. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Ngân hàng B về việc yêu cầu bà Q liên đới thanh toán số tiền này.

Tại phiên tòa, các đương sự thống nhất được các nội dung sau:

Đối với số tiền thu nhập từ nhà trọ, thống nhất xác định tổng thu nhập là T3 thu nhập từ nhà trọ từ tháng 9/2023 đến tháng 9/2024 là 12 tháng, mỗi tháng là 64.000.000 đồng là 768.000.000 đồng, trừ đi các chi phí gồm: tiền học cho con chung 7.000.000 đồng/tháng x 12 tháng là 84.000.000 đồng, tiền điện nước nhà trọ 12.800.000 đồng/tháng x 12 tháng = 153.600.000 đồng, chi phí trả nợ Ngân hàng 32.000.000 đồng x 12 tháng = 384.000.000 đồng/tháng với tổng chi phí là 634.400.000 đồng, số tiền còn lại là: 133.600.000 đồng chia đôi mỗi người 66.800.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên toà sơ thẩm như sau:

Về tố tụng: quá trình Tòa án giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con, giao con chung Vi Mai Đăng K cho bà Q nuôi dưỡng, ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi.

Về tài sản:

Về tài sản riêng: bà Q yêu cầu công nhận thửa đất số 1100 và 1232 là tài sản riêng, ông T đồng ý nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Q về tài sản riêng.

Về tài sản chung: các đương sự thống nhất quyền sử dụng đất và tài sản trên thửa đất số 1085, thửa đất số 1093, tài sản trên thửa đất số 1100 gồm 09 căn ki ốt và xe ô tô hiệu Mazda là tài sản chung của vợ chồng, đây là là tình tiết, sự kiện không cần chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với đất và tài sản gắn liền đất: nguyên đơn yêu cầu nhận hiện vật đồng thời chia cho nguyên đơn 65%, bị đơn 35% giá trị tài sản vì nguồn tiền để vợ chồng kinh doanh xuất phát từ việc cha mẹ nguyên đơn cho. Bị đơn yêu cầu nhận hiện vật và yêu cầu chia cho bị đơn 50%, nguyên đơn 50% tài sản. Tuy ông T thừa nhận cha mẹ bà Q có cho vợ chồng số tiền 2.000.000.000 đồng để làm ăn nhưng xét thấy số tiền 2.000.000.000 đồng trên được cho trong thời kỳ hôn nhân và cho cả hai vợ chồng, không phải cho riêng bà Q. Đồng thời, khi mua bán đất và kinh doanh nhà trọ, người quản lý việc kinh doanh trong gia đình là ông T. Hai vợ chồng có công sức cùng nhau sử dụng số tiền cha mẹ cho kinh doanh để tạo lập được khối tài sản như hiện nay. Do đó theo quy định tại Điều 33, 59 Luật Hôn nhân và Gia đình, xét thấy cần chia đôi giá trị tài sản, mỗi người nhận 1/2 là phù hợp. Do ông T hiện đang giữ Giấy CNQSDĐ đối với thửa đất số 1093 nên giao đất thửa 1093 và toàn bộ tài sản trên đất cho ông T quản lý, sử dụng; giao thửa 1085 cùng tài sản trên đất cho bà Q quản lý, sử dụng, người nào nhận được phần tài sản có giá trị lớn hơn thì có trách nhiệm bồi hoàn giá trị chênh lệch cho người còn lại theo kết quả định giá.

Đối với xe ô tô hiệu Mazda BT-50 biển số 61C-466.16 giấy chứng nhận số 136163 cấp ngày 16/10/2020 cho bà Mai Thanh Q: các đương sự thống nhất giá trị xe là 400.000.000 đồng, giao xe cho ông T sử dụng, ông T trả lại cho bà Q 200.000.000 đồng.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông T trả lại số tiền kinh doanh từ việc thu nhập nhà trọ: các đương sự thống nhất số tiền kinh doanh nhà trọ là 64.000.000 đồng/tháng, chi phí đóng tiền học cho con 7.000.000 đồng/tháng, chi phí điện nước 12.800.000 đồng/tháng, tiền đóng lãi cho ngân hàng là 30.000.000 đồng/tháng. Sau khi trừ đi các chi phí trên, số tiền còn lại chia đôi cho mỗi bên.

Đối với số tiền thuế từ tháng 9/2023 đến tháng 5/2024 là 45.000.000 đồng và yêu cầu của bị đơn về việc buộc nguyên đơn trả lại tiền chuyển thổ cư của thửa đất số 1100 và thửa 1232: Xét thấy bị đơn là người quản lý việc kinh doanh của gia đình, bị đơn không có chứng cứ chứng minh số tiền nộp thuế và chuyển thổ cư là tiền riêng của bị đơn nên không có căn cứ xem xét khầu trừ và buộc nguyên đơn thanh toán số tiền này.

- Về nợ chung:

Đối với số nợ của bà Nguyễn Thị M 100.000.000 đồng: nguyên đơn rút yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đối với khoản nợ Ngân hàng B: các đương sự thống nhất có vay của Ngân hàng số tiền 2.000.000.000 đồng theo 02 Hợp đồng tín dụng ngày 29/4/2021 và ngày 25/4/2022, đồng ý chia đôi số nợ hiện tại nên ghi nhận ý chí của các bên.

Đối với tiền nợ Ngân hàng B vay 500.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng ngày 23/3/2023, nguyên đơn không đồng ý liên đới thanh toán cùng bị đơn. Xét thấy, hợp đồng tín dụng này do cả hai vợ chồng cùng ký tên xác lập vay số tiền 500.000.000 đồng. Nguyên đơn không đồng ý liên đới cùng bị đơn thanh toán nhưng không chứng minh được bị đơn vay riêng cho mình. Do đó, không có căn cứ chấp nhận ý kiến của nguyên đơn.

Xét yêu cầu độc lập của Ngân hàng: Ngân hàng B yêu cầu ông Vi Từ T và bà Mai Thanh Q có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi, phí theo các Hợp đồng tín dụng số 51/2021/11557984/HĐTD ngày 29/01/2021, Hợp đồng tín dụng số 219/2022/11557984/HĐTD ngày 25/4/2022, Hợp đồng tín dụng số 01/2023/11557984/HĐTD ngày 23/3/2023 và Hợp đồng tín dụng số HĐ11557984/16/03042023 ngày 08/5/2024 với tổng số tiền gốc và lãi 2.381.831.679 đồng.

Như đã phân tích trên, nguyên đơn, bị đơn cùng nhau ký kết vào các HĐTD ngày 29/01/2021, ngày 25/4/2022 và HĐTD ngày 23/3/2023 với tổng số tiền vay 2.500.000.000 đồng đồng thời thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa 1085 và 1100. Vì thế có căn cứ chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng về việc buộc ông T, bà Q liên đới thanh toán số tiền nợ còn lại của 03 hợp đồng tín dụng này.

Đối với Thẻ tín dụng ngày 03/4/2023 số tiền 200.000.000 đồng: Thẻ tín dụng do ông T ký kết với Ngân hàng trong thời kỳ hôn nhân nhưng chỉ có ông T ký tên vay tiền nên không có căn cứ buộc nguyên đơn thanh toán số tiền này cùng với ông T.

Vì các lẽ trên căn cứ các Điều 26, 35, 39, 92, 246 BLTTDS; Điều 33, 59 Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về chia tài sản chung khi ly hôn; chấp nhận yêu cầu nguyên đơn công nhận tài sản riêng; công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự về việc ly hôn, nuôi con. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Ngân hàng B; đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bị đơn ông Vi Từ T được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Văn T1, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị H1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Bà Mai Thanh Q và ông V Từ Thiện tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương vào ngày 20/11/2017, là hôn nhân hợp pháp.

[3] Xét yêu cầu ly hôn của bà Mai Thanh Q: quá trình Tòa án giải quyết vụ án các đương sự đều thống nhất thừa nhận bà Q và ông T chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn vợ chồng, nguyên nhân do ông T có mối quan hệ với người phụ nữ khác và đã có con riêng, vợ chồng sống ly thân từ tháng 9/2023 đến nay. Bà Q yêu cầu ly hôn, ông T đồng ý. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy: mâu thuẫn giữa bà Q và ông T đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Q yêu cầu ly hôn với ông T là có căn cứ chấp nhận.

[4] Về con chung: bà Q và ông T đều thống nhất vợ chồng có 01 con chung tên Vi Mai Đăng K, sinh ngày 28/10/2020, con chung hiện nay đang sống với bà Q. Khi ly hôn, bà Q yêu cầu nuôi dưỡng con chung, yêu cầu ông T cấp dưỡng 5.000.000 đồng/tháng, ông T đồng ý nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Q, giao cháu Vi Mai Đăng K cho bà Q nuôi dưỡng, ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng đến khi cháu K đủ 18 tuổi.

[5] Về tài riêng: các đương sự đều thống nhất thừa nhận các tài sản sau là của bà Mai Thanh Q gồm:

- Quyền sử dụng đất diện tích đo đạc thực tế 650,2m², thuộc thửa đất số 1232, tờ bản đồ số 4, tại phường H, T, Bình Dương, Giấy CNQSDĐ số CS06018 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Mai Thanh Q vào ngày 10/03/2017.

- Quyền sử dụng đất diện tích đo đạc thực tế là 406,3m², thuộc thửa đất số 1100, tờ bản đồ số 11, tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Giấy CNQSDĐ số CS06126 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Mai Thanh Q vào ngày 19/05/2017.

Căn cứ Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh nên Hội đồng xét xử có căn cứ xác định các tài sản nêu trên là tài sản riêng của bà Mai Thanh Q.

[6] Về sản chung: các đương sự đều thống nhất thừa nhận các tài sản sau là tài sản chung gồm:

- Quyền sử dụng đất diện tích đo đạc thực tế 312,4m² (trong đó đất thổ cư 160m², đất trồng cây lâu năm 152,4m²), thửa đất số 1085, tờ bản đồ số 11, tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Giấy CNQSDĐ số CS10582 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 20/11/2020 cho ông Vi Từ T, trị giá: 1.447.680.000 đồng.

Tài sản gắn liền đất là 24 căn phòng trọ diện tích 203,2m², trị giá: 483.260.400 đồng, 01 mái che nền lát gạch men là 109,2m², trị giá: 38.525.760 đồng và 01 bồn nước inox, trị giá: 892.000 đồng.

Trị giá đất và tài sản trên đất: 1.970.358.160 đồng.

- Quyền sử dụng đất diện tích đo đạc thực tế là 262,1m² (trong đó đất thổ cư 100m², đất trồng cây lâu năm 166,5m²), thửa đất số 1093, tờ bản đồ số 11, tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Giấy CNQSDĐ số CS10577 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 20/11/2020 cho ông Vi Từ T, trị giá: 1.132.800.000 đồng.

Tài sản gắn liền đất: 09 phòng trọ diện tích 171,4m² trị giá: 352.021.320 đồng; 01 mái che nền gạch men diện tích 95,1m² trị giá: 33.551.280 đồng; 01 bồn nước inox trị giá: 892.000 đồng

Trị giá đất và tài sản trên đất: 1.519.264.600 đồng.

[6.3] Tài sản trên thửa đất số 1100 gồm: 09 căn ki ốt diện tích 215,4m², trị giá: 442.388.520 đồng, 01 mái che diện tích 79,8m² trị giá: 28.153.440 đồng, sân bê tông diện tích 79,8m² trị giá: 12.688.200 đồng và bồn nước trị giá: 892.000 đồng, tổng giá trị: 484.122.160 đồng.

- 01 xe ô tô hiệu Mazda BT-50 biển số 61C-466.13, giấy chứng nhận đăng ký số 136163 cấp ngày 16/10/2020 cấp cho bà Mai Thanh Q, trị giá: 400.000.000 đồng.

- Tiền thu nhập từ nhà trọ từ tháng 9/2023 đến tháng 9/2024 là 12 tháng, mỗi tháng là 64.000.000 đồng là 768.000.000 đồng, trừ đi các chi phí gồm: tiền học cho con chung 7.000.000 đồng/tháng x 12 tháng là 84.000.000 đồng, tiền điện nước nhà trọ 12.800.000 đồng/tháng x 12 tháng = 153.600.000 đồng, chi phí trả nợ Ngân hàng 32.000.000 đồng x 12 tháng = 384.000.000 đồng/tháng với tổng chi phí là 634.400.000 đồng, số tiền còn lại là: 133.600.000 đồng.

Như vậy, tổng giá trị tài sản tranh chấp là: 4.507.344.920 đồng.

[6] Xét yêu cầu chia tài sản chung của nguyên đơn, ý kiến trình bày của bị đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

[6.1] Đối với xe ô tô hiệu Mazda BT-50 biển số 61C-466.13 và tiền thu nhập từ nhà trọ sau khi trừ các chi phí còn lại 133.600.000 đồng, các đương sự thống nhất chia đôi mỗi người ½ nên Hội đồng xét ghi nhận và phân chia như sau: ông T được quyền quản lý xe ô tô và thanh toán cho bà Q 200.000.000 đồng và ½ tiền thu nhập từ nhà trọ là 66.800.000 đồng.

[6.2] Đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa 1085 và 1093, tài sản gắn liền thửa đất số 1100 gồm tài sản là 09 căn ki ốt diện tích 215,4m², 01 mái che diện tích 79,8m², sân bê tông diện tích 79,8m² và bồn nước inox. xét thấy: theo hồ sơ cung cấp thông tin cấp giấy CNQSDĐ đối với thửa đất số 1085, 1093 đất có nguồn gốc nhận chuyển nhượng, các đương sự đều thừa nhận khi bà Q và ông T kết hôn, cha mẹ bà Q cho vợ chồng 2.000.000.000 đồng để kinh doanh và phát sinh tiền lời nên nhận chuyển nhượng 02 thửa đất 1085 và 1093. Khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:

“2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng”.

Đối chiếu quy định viện dẫn nêu trên, có cơ sở xác định nguồn tiền để bà Q, ông T tạo lập nên các tài sản nêu trên là do cha mẹ bà Q cho. Trong quá trình chung sống, ông T không chung thủy dẫn đến quan hệ hôn nhân của vợ chồng trầm trọng. Do đó, khi giải quyết ly hôn, Hội đồng xét xử phải căn cứ vào nguồn gốc hình thành tài sản, lỗi của ông T để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên nên chia cho bà Q được hưởng 60%, ông T 40% trong khối tài sản chung của vợ chồng. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị đơn yêu cầu được nhận tài sản là thửa đất số 1085 và giao thửa đất số 1093 cho bà Q quản lý, sử dụng và giao tài sản trên thửa đất số 1100 cho bà Q quản lý, sử dụng, ai hưởng phần đất có giá trị lớn hơn thì thanh toán giá trị chênh lệch cho người còn lại. Do đó, Hội đồng xét xử chia quyền sử dụng đất, tài sản thuộc thửa đất số 1093, tài sản thuộc thửa đất số 1100 cho bà Mai Thanh Q quản lý, sử dụng; chia quyền sử dụng đất và các tài sản trên thửa đất số 1085 cho ông V Từ Thiện quản lý, sử dụng.

Tổng giá trị đất và quyền sử dụng đất là 3.973.744.920 đồng, bà Q được chia 60% giá trị tài sản với số tiền 2.384.246.952 đồng, ông T được chia 40% giá trị tài sản với số tiền 1.589.497.968 đồng.

Như vậy, đất và tài sản trên thửa đất số 1093, tài sản trên thửa đất số 1100 bà Q được chia trị giá: 2.003.386.760 đồng, phần tài sản ông T được chia là thửa đất số 1085 và tài sản gắn liền với đất trị giá 1.970.358.160 đồng là nhiều hơn phần giá trị ông T được chia theo tỷ lệ 60/40 nên ông T có nghĩa vụ thanh toán lại phần giá trị vượt quá cho bà Q (1.970.358.160 – 1.589.497.968 đồng) là 380.860.192 đồng.

[7] Về nợ chung:

[7.1] Các đương sự đều thống nhất thừa nhận trong thời kỳ hôn nhân, ông T, bà Q ký kết các hợp đồng tín dụng với Ngân hàng B và đồng ý mỗi bên thanh toán ½ số nợ cho ngân hàng, cụ thể:

Hợp đồng tín dụng số 51/2021/11557984/HĐTD ngày 29/01/2021 vay số tiền 1.000.000.000 đồng. Tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 27/9/2024 là 820.262.687 đồng (trong đó nợ gốc 791.928.000 đồng, lãi cộng dồn 27.515.674 đồng, lãi/phí phạt 819.013 đồng).

Hợp đồng tín dụng số 219/2022/11557984/HĐTD ký ngày 25/04/2022 vay số tiền 1.000.000.000 đồng. Tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 27/9/2024 là 817.613.070 đồng (trong đó nợ gốc 789.150.000 đồng, lãi cộng dồn 27.575.564 đồng, lãi/phí phạt 887.506 đồng).

[7.2] Đối với Hợp đồng tín dụng số 01/2023/11557984/HĐTD ký ngày 23/03/2023, hạn mức cấp tín dụng 500.000.000 đồng. Ông T cho rằng đây là nợ chung, bà Q không thừa nhận. Xét thấy: hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng B và ông T, bà Q và trong thời kỳ hôn nhân của ông, bà nên có cơ sở xác định đây là nợ chung của ông T, bà Q nên ông T, bà Q có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 27/9/2024 là 535.138.625 đồng, trong đó nợ gốc 494.420.032 đồng, lãi cộng dồn 27.676.229 đồng, lãi chậm trả lãi 798.594 đồng, lãi phạt cho gốc 12.243.770 đồng.

[7.3] Đối với hạn mức thẻ tín dụng quá hạn: 208.817.297 đồng, ông T cho rằng đây là nợ chung, bà Q cho rằng nợ riêng của ông T. Xét thấy: ngày 03/4/2023, ông T và Ngân hàng B ký kết hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 11557984/16/03042023 về việc cấp hạn mức tín dụng cho ông T với số tiền 200.000.000 đồng và được đảm bảo bằng tài sản theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số: 57/2022/8054043/HĐBĐ ngày 23/3/2022 giữa ông T, bà Q với Ngân hàng B nhưng không thể hiện mục đích vay, số tiền này được giải ngân vào số tài khoản 65399008797979 của ông T mở tại B. Ông T không chứng minh được việc sử dụng số tiền này vào mục đích chung của gia đình nên có cơ sở xác định đây là nợ riêng của ông T.

[7.4] Như vậy, tính đến ngày 27/9/2024 nợ chung của bà Q và ông T là 2.173.014.382 đồng, nợ riêng của ông T là 208.817.297 đồng.

[7.5] Xét yêu cầu của bà Q về việc chia nợ chung trong thời kỳ hôn nhân và yêu cầu độc lập của Ngân hàng B, Hội đồng xét xử xét thấy: Như trên đã nhận định, trong thời kỳ hôn nhân bà Q, ông T nợ Ngân hàng B là 2.173.014.382 đồng. Căn cứ Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình, ông T, bà Q có nghĩa vụ liên đới thanh toán số tiền này cho Ngân hàng B. Đối với số nợ 208.817.297 đồng, ông T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng. Như vậy, có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Ngân hàng B đối với bà Q, ông T.

[7.6] Đối với Hợp đồng thế chấp bất động sản số 29/2021/11557984/HĐBĐ ngày 29/01/2021 và Hợp đồng thế chấp số 57/2021/8654043/HĐBĐ ngày 23/03/2022 giữa bên thế chấp là bà Mai Thanh Q, ông Vi Từ T và bên nhận thế chấp là Ngân hàng B, chi nhánh T5, Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết, nếu sau này phát sinh tranh chấp đối với các tài sản thế chấp theo các hợp đồng thế chấp, các đương sự được quyền khởi kiện một vụ án khác.

[7.7] Đối với số tiền nợ bà Nguyễn Thị M 100.000.000 đồng. Tại phiên tòa bà Q rút một phần yêu cầu khởi kiện về nợ chung, bà M không có yêu cầu độc lập trong vụ án, nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Q về nợ chung.

[7.8] Đối với bản chính Giấy CNQSDĐ số CS10577 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 20/11/2020 cho ông V Từ Thiện, do thửa đất số 1093 chia cho bà Q nên ông T có nghĩa vụ trả lại cho bà Q bản chính giấy CNQSDĐ đất này.

[8] Đối với Hợp đồng thuê đất đề ngày 04/8/2023 giữa bà Nguyễn Thị H1 với bà Mai Thanh Q, thửa đất số 1232, tờ bản đồ 04, các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[9] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, một phần yêu cầu độc lập của Ngân hàng B.

[10] Ý kiến của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận một phần.

[11] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết ly hôn, nuôi con, xác định tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung là phù hợp, đối với việc chia tài sản chung cho theo tỷ lệ 50/50 là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử quyết định chia tài sản chung theo tỷ lệ 60/40.

[12] Về chi phí tố tụng (chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá): các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

[13] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Các điều 37, 56, 59, 81, 82, 83, 84 và 85 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;
  • Căn cứ Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;
  • Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thanh Q đối với bị đơn ông Vi Từ T về việc yêu cầu ông Vi Từ T có nghĩa vụ liên đới trả tiền nợ chung 100.000.000 đồng.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thanh Q đối với bị đơn ông Vi Từ T về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.

2.1 Về hôn nhân: Bà Mai Thanh Q được ly hôn với ông Vi Từ T.

2.2 Về con chung: Giao con chung tên Vi Mai Đăng K, sinh ngày 28/10/2020 cho bà Mai Thanh Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Vi Từ T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người được trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

2.3 Về tài sản riêng: Công nhận các tài sản sau là tài sản riêng của bà Mai Thanh Q gồm:

  • Quyền sử dụng đất diện tích đo đạc thực tế 650,2m², thuộc thửa đất số 1232, tờ bản đồ số 04, tại phường H, T, Bình Dương, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06018 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Mai Thanh Q vào ngày 10/03/2017 (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
  • Quyền sử dụng đất diện tích đo đạc thực tế là 406,3m², thuộc thửa đất số 1100, tờ bản đồ số 11, tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06126 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Mai Thanh Q vào ngày 19/05/2017 (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

2.4 Về tài sản chung:

Chia cho bà Mai Thanh Q các tài sản gồm:

  • Quyền sử dụng đất diện tích đo đạc thực tế là 266,5m² (trong đó đất thổ cư 100m², đất trồng cây lâu năm 166,5m²), thửa đất số 1093, tờ bản đồ số 11, tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS10577 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 20/11/2020 cho ông Vi Từ T. Tài sản gắn liền đất: 09 căn phòng trọ có kết cấu tường gạch xây tô, nền gạch men, mái tôn; 01 mái che gắn liền nền gạch men diện tích 95,1m², 01 bồn nước inox (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
  • 09 căn ki ốt có kết cấu tường xây tô, mái tôn, nền lát gạch men, của sắt cuốn, diện tích 215,4m², 01 mái che diện tích 79,8m², sân bê tông diện tích 79,8m² và bồn nước, tọa lạc trên thửa đất số 1100, tờ bản đồ số 11, tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06126 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Mai Thanh Q vào ngày 19/05/2017 (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

Chia cho ông V Từ Thiện các tài sản sau:

  • Quyền sử dụng đất diện tích đo đạc thực tế 312,4m² (trong đó đất thổ cư 160m², đất trồng cây lâu năm 152,4m²), thửa đất số 1085, tờ bản đồ số 11, tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS10582 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 20/11/2020 cho ông Vi Từ T. Tài sản gắn liền đất là dãy nhà trọ 01 trệt 01 lầu gồm có 24 căn phòng trọ có kết cấu móng khung bê tông cốt thép, nền lát gạch men, mái tôn diện tích 203,2m², 01 mái che nền lát gạch men là 109,2m² và 01 bồn nước inox (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
  • 01 xe ô tô hiệu Mazda BT-50 biển số 61C-466.13, giấy chứng nhận đăng ký số 136163 cấp ngày 16/10/2020 cấp cho bà Mai Thanh Q.

2.5 Việc thanh toán giá trị được thực hiện như sau:

Ông Vi Từ T có trách nhiệm thanh toán cho bà Mai Thanh Q ½ giá trị xe ô tô, thu nhập từ việc kinh doanh nhà trọ và tiền chênh lệch chia quyền sử dụng đất và tài sản trên đất với số tiền 647.660.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi bảy triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng).

2.6 Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2.7. Ông Vi Từ T có nghĩa vụ trả lại cho bà Mai Thanh Q bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS10577 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 20/11/2020 cho ông Vi Từ T.

2.8. Kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS10577 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 20/11/2020 cho ông V Từ Thiện để cấp lại cho bà Mai Thanh Q theo quyết định của bản án.

Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cập nhật biến động giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.

3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thanh Q với bị đơn ông Vi Từ T và một phần yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP Đ (B) về nợ chung:

- Buộc bà Mai Thanh Q và ông Vi Từ T có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ (B) tổng số tiền 2.173.014.382 đồng, trong đó nợ gốc 2.066.680.735 đồng, lãi cộng dồn 82.767.467 đồng, lãi/phí phạt: 23.566.180 đồng.

Kể từ ngày 28/9/2024, bà Mai Thanh Q và ông Vi Từ T có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi cho Ngân hàng TMCP Đ (B) theo mức lãi suất đã thỏa thuận theo theo các Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Đ (B) với ông Vi Từ T, bà Mai Thanh Q.

- Buộc ông Vi Từ T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ (B) số tiền 208.817.297 đồng theo hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 11557984/16/03042023 ngày 03/4/2023 giữa ông Vi Từ T và Ngân hàng TMCP Đ (B).

Kể từ ngày 28/9/2024, ông Vi Từ T có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi cho Ngân hàng TMCP Đ (B) theo hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng số 11557984/16/03042023 ngày 03/4/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

5. Không chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP Đ (B) về việc yêu cầu bà Mai Thanh Q có nghĩa vụ liên đới với ông Vi Từ T thanh toán số tiền 208.817.297 đồng

6. Về chi phí tố tụng (chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá): 26.000.000 đồng (Hai mươi sáu triệu đồng), bà Mai Thanh Q và ông Vi Từ T mỗi người phải chịu 13.000.000 đồng. Bà Mai Thanh Q đã nộp tạm ứng nên ông Vi Từ T phải nộp 13.000.000 đồng để trả lại cho bà Mai Thanh Q.

7. Về án phí:

  • Bà Mai Thanh Q phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 85.020.935 đồng án phí về tài sản, tổng cộng: 85.320.935 đồng (T4 mươi lăm triệu ba trăm hai mươi nghìn chín trăm ba lăm đồng), được khấu trừ vào 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai số 0008065 ngày 27/9/2023, 20.475.000 đồng tại Biên lai số 0008223 ngày 19/10/2023 và 2.315.400 đồng tại Biên lai số 0001880 ngày 18/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Bà Mai Thanh Q còn phải chịu 62.230.053 đồng (Sáu mươi hai triệu hai trăm ba mươi nghìn không trăm năm mươi đồng).
  • Ông Vi Từ T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con và 67.688.939 đồng (Sáu mươi bảy triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn chín trăm ba chín đồng) án phí về tài sản và 10.440.864 đồng (Mười triệu bốn trăm bốn mươi nghìn tám trăm sáu bốn đồng) án phí đối với yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP Đ (B) được chấp nhận.
  • Bà Mai Thanh Q và ông Vi Từ T có nghĩa vụ liên đới chịu 75.460.287 đồng (Bảy mươi lăm triệu bốn trăm sáu mươi nghìn hai trăm tám bảy đồng).
  • Ngân hàng TMCP Đ (B) phải chịu 300.000 đồng được khấu trừ vào 37.966.000 đồng tại Biên lai số 0001662 ngày 21/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ (B) 37.666.000 đồng (Ba mươi bảy triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).

Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THA dân sự thành phố Tân Uyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ




Phạm Thị Hương Diệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

  • Số bản án: 115/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger