|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 115/2024/HS-ST Ngày 30-9-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Triển
2. Bà Lê Thị Hương
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Hoàng Minh Đoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Bạch Văn D, sinh ngày 10 tháng 4 năm 1971; nơi cư trú: Thôn C, xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 04/10 dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bạch Văn H, sinh năm 1939 và bà Nghiêm Thị B (đã chết); có vợ là Phan Thị L và 04 con, con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện tại ngoại (có mặt).
- Bị hại: Anh Lê Văn T (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Lê Văn T: Ông Lê Văn K, sinh năm 1967, bà Bùi Thị S, sinh năm 1963, chị Nguyễn Thị Thu Y, sinh năm 1994 (là bố, mẹ và vợ của anh T); cùng nơi cư trú: Thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông K, bà S và chị Y: Anh Lê Tất C, sinh năm 1974; nơi cư trú; Thôn H, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Nguyễn Thị Thu Y, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
+ Anh Lê Mạnh C1, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 12/5/2024, Bạch Văn D là người có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số S100753 do Sở giao thông vận tải tỉnh V cấp ngày 25/6/2004, có giá trị không thời hạn, không sử dụng rượu, bia, chất kích thích, điều khiển xe công nông tự chế chở khoảng 01 m³ bê tông tươi đi từ nhà đến xã Y, huyện V để tìm chỗ đổ bỏ do không có nhu cầu sử dụng. D điều khiển xe công nông chạy dọc theo đường Q hướng từ xã N đi thôn Đ, xã Y, huyện V nhưng không tìm được địa điểm. Khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, D điều khiển xe công nông đi theo hướng từ thành phố V đi thành phố V. Khi đến đoạn đường Km 46+900 Quốc lộ B địa phận thôn Đ, xã Y, huyện V, quan sát thấy phía bên trái đường có lối mở đi vào khu vực kho vận tập đoàn P. Dậu không chú ý quan sát, chuyển hướng không có tín hiệu, không đảm bảo an toàn, không nhường đường cho xe đi ngược chiều đến mà điều khiển xe chuyển hướng sang bên trái đường để đi vào khu vực trên nên khi xe công nông cách vị trí đầu lối mở khoảng 9,4m thì phần đầu xe công nông do D điều khiển đã đâm va vào phần đầu xe mô tô nhãn hiệu CLARO, loại xe nữ, màu sơn đen, biển kiểm soát 88S3-5712 do anh Lê Văn T, sinh năm 1993, trú tại thôn Đ, xã Y, huyện V là người không có giấy phép lái xe mô tô, trong máu có nồng độ cồn là 54,351mg/100ml, đang điều khiển xe tham gia giao thông theo hướng ngược chiều, đi đúng phần đường, làn đường theo quy định gây tai nạn giao thông. Hậu quả, anh T tử vong tại hiện trường, xe công nông và xe mô tô biển kiểm soát 88S3-5712 bị hư hỏng.
Sau khi nhận được tin báo nêu trên, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã phối hợp cùng các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện liên quan và tổ chức các hoạt động điều tra theo quy định pháp luật.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Đoạn đường xảy ra tai nạn giao thông thuộc Km46+ 900 đường quốc lộ 2A thuộc địa phận thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Đoạn đường này thẳng có một hướng đi thành phố V và một hướng đi thành phố V. Mặt đường được đổ nhựa áp phan tương đối bằng phẳng rộng 11m, giữa đường có vạch sơn nét đứt màu vàng chia đường thành hai chiều xe chạy riêng biệt, hai bên có lề đường đất rộng 2,00m. Theo chiều từ thành phố V đi thành phố V tiếp giáp với mép đường bên trái có lối mở được đổ bê tông tương đối bằng phẳng rộng 13,80m đi khu dân cư thôn H- xã Y, đường bên trong được đổ bê tông tương đối bằng phẳng rộng 9,0m. Tại khu vực hiện trường trên đường quốc lộ 2A không phát hiện có hệ thống biển báo hiệu đường bộ, không có hệ thống đèn đường chiếu sáng ban đêm, không có hệ thống gờ giảm tốc. Tại đoạn đường đi khu dân cư thôn H, xã Y trên mặt đường thấy có hệ thống gờ giảm tốc, không phát hiện có hệ thống đèn chiếu sáng ban đêm, không có hệ thống biển báo hiệu nơi đường giao nhau. Tại khu vực hiện trường các dấu vết, phương tiện, tử thi nằm trên phần đường bên trái đường quốc lộ 2A theo hướng thành phố V đi thành phố V và đầu đường tiếp giáp với quốc lộ B của đường đi khu dân cư thôn H.
Quá trình khám nghiệm đã chọn chiều khám nghiệm theo chiều thành phố V đi thành phố V, chọn mép đường bên trái theo chiều khám nghiệm làm mép đường chuẩn, chọn điểm mốc tại cột mốc H9/46 nằm tại lề đường đất bên trái theo chiều khám nghiệm làm điểm mốc chuẩn. Kết quả khám nghiệm như sau:
- Vết phanh kích thước 8m x 0,15m nằm tại mặt đường được ký hiệu là (1), đo đầu của (1) đến mép đường chuẩn là 2,10m, đo cuối của (1) đến mép đường chuẩn là 3,40m, đo đầu (1) đến mốc chuẩn là 4,10m, đo đầu (1) đến đầu lối mở là 9,40m;
- Xe công nông đầu ngang có thùng được ký hiệu là (2), đo trục trước bên phải (2) đến mép đường chuẩn là 5,10m, đo trục sau bên phải của (2) đến mép đường chuẩn là 5,15m, đo trục trước bên trái (2) đến mép đường chuẩn là 5,60m, đo trục sau bên trái của (2) đến mép đường chuẩn là 3,60m, đo trục sau bên phải đến đầu của (1) là 8,30m.
- Đám mảnh gương vỡ kích thước 0,60m x 0,40m nằm dải rác tại mặt đường được ký hiệu là (3), đo tâm của (3) đến mép đường chuẩn là 1,15m, đo tâm của (3) đến trục sau bên phải của (2) là 4,70m.
- - Đám vết cày kích thước 4,20m x 0,50m nằm tại mặt đường được ký hiệu là (4),đo đầu (4) đến mép đường chuẩn là 0,20m, đo cuối của (4) đến mép đường chuẩn là 2,50m, đo đầu (4) đến tâm của (3) là 2,15m.
- Xe môt tô biển kiểm soát 88S3- 5712 nằm đổ nghiêng bên phải tại mặt đường, phần đầu xe hướng đi khu dân cư thôn H, phần đuôi xe hướng ra đường quốc lộ 2A được ký hiệu là (5), đo trục trước của (5) đến mép đường chuẩn là 2,80m, đo trục sau của (5) đến mép đường chuẩn là 2,00m, đo trục sau của (5) đến cuối (4) là 0,55m.
- Đám vết máu kích thước 1,7m x 1,00m nằm tại mặt đường được ký hiệu là (6), đo tâm của (6) đến mép đường chuẩn là 4,50m, đo tâm của (6) đến trục trước (5) là 2,50m.
- - Tử thi trong tư thế nằm ngửa, đầu tử thi hướng ra quốc lộ B, hai chân duỗi thẳng hướng đi khu dân cư thôn H,xã Y, tay phải co để trước ngực, tay trái co hướng vào chân trái được ký hiệu là (7), tử thi mặc áo cộc tay màu xanh, quần bò dài màu xanh, tóc cắt ngắn màu đen, đo đầu tử thi đến mép đường chuẩn là 5,60m, đo gót chân phải đến mép đường chuẩn là 4,10m, đo gót chân trái đến mép đường chuẩn là 4,20m, hai gót chân cách nhau là 0,35cm, đo đầu tử thi đến tâm (6) là 2,00m.
- Đám mảnh nhựa vỡ kích thước 5,70m x 4,80m nằm dải rác tại mặt đường được ký hiệu là (8), đo tâm (8) đến mép đường chuẩn là 2,45m, đo tâm (8) đến trục sau (5) là 1,20m.
Kết quả khám nghiệm phương tiện:
Xe mô tô biển kiểm soát 88S3- 5712, nhãn hiệu CLARO, loại xe nữ, màu sơn đen, sau khi tai nạn giao thông để lại các dấu vết cụ thể như sau:
Tại thời điểm khám nghiệm xe mô tô bị hư hỏng không thể dựng, nằm đổ bên phải, phần đầu xe có áo chống nắng, mũ cối. Toàn bộ phần đầu xe bị tác động lực gãy vỡ, toàn bộ phần ốp nhựa bảo vệ bên ngoài bung rời các chi tiết, bộ phận của đầu xe như: cụm đèn chiếu sáng, xi nhan, công tơ mét, phần trục cổ xoay bị gãy chốt. Phần yếm bảo vệ hai bên bị gãy vỡ nhựa chỉ còn lại một phần dính vào xe. Tại vị trí mảnh vỡ của yếm bề mặt ngoài có vết trượt xước nhựa, bám dính tạp chất. Tại vị trí trục bên trái bánh trước bị tác động làm gãy vỡ kim loại, vỡ nhựa bảo vệ, hướng tác động từ trước về sau làm đẩy lệch trục khỏi vị trí ban đầu, kích thước 20cm 3,5cm. Tại vị trí phần vành kim loại phía trước bị tác động làm cong vênh, biến dạng, đứt tăm nan hoa, chiều hướng từ ngoài vào tâm trục bánh xe trên diện 70cm x 02cm. Điểm tác động mạnh nhất cách chân van 93cm, ngược chiều kim đồng hồ. Phần cốp xe bị bung chốt hãm cố định. Bề mặt thân xe, sườn xe bên trái bám dính nhiều tạp chất dạng xi măng. Tại vị trí bàn để chân người lái bên phải có vết chà sát, mài mòn cao su trên diện 04cm x 03cm, chiều hướng từ trước về sau. Tại vị trí ốp sườn xe bên phải bị gãy vỡ nhựa để lộ phần ắc quy bên trong trên diện 20cm x 16cm. Phần trục trước bánh xe bị tác động đẩy lệch từ trước về sau khỏi vị trí ban đầu. Phần chắn bùn phía sau bánh trước bị gãy vỡ nhựa, gãy chốt cố định bung rời khỏi xe. Chiếc mũ cối màu xanh trên xe bị tác động làm dập vỡ, biến dạng, bề mặt ngoài mũ có bám dính tạp chất dạng xi măng.
Xe công nông màu xanh có kích thước dài 3,2m, rộng 1,3m, cao 1,8m, có thùng xe dài 2,1m, rộng 1,3m, cao 0,8m, bên trong thùng xe có xi măng cao 60cm, sau khi xảy ra va chạm để lại các dấu vết cụ thể như sau: Phần phía trước đầu xe có cabin, lốc máy để hở, không che chắn, trên lốc máy có dòng chữ “CHANG FA”. Tại vị trí phần bản kim loại được cố định phía trước lốc máy bị tác động của lực làm cong vênh, biến dạng, rách kim loại hướng từ trước về sau, lõm phần ở giữa kích thước vùng này là 20cm x 10cm, điểm lún lõm sâu nhất so với vị trí ban đầu 02cm, tâm vùng này cách mặt đất 95cm. Tại vị trí phần cản trước kim loại đầu xe phát hiện có vết chà sát kim loại bám dính chất màu xanh, mảnh vỡ nhựa màu xanh và trắng, hướng tác động từ trước về sau từ trái qua phải, điểm thấp nhất cách mặt đất 45cm, kích thước vùng này là 70cm x 30cm. Tại phần mặt lăn của bánh trước, bánh sau bên trái có bám dính chất màu nâu dạng phân động vật. Tại vị trí phần mặt lăn bánh sau bên trái có bám dính chất màu nâu đỏ trên diện 24cm x 15cm, không rõ chiều hướng, tâm vùng này cách chân van 55cm.
Quá trình điều tra đã tạm giữ, thu giữ các vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu CLARO, loại xe nữ, màu sơn đen, số máy 152FMH003266, số khung H3PE7A003266, biển kiểm soát 88S3- 5712; 01 xe công nông màu xanh có kích thước dài 3,2m, rộng 1,3m, cao 1,8m, có thùng xe dài 2,1m, rộng 1,3m, cao 0,8m, bên trong thùng xe có xi măng cao 60cm; mẫu máu thu tại vị trí số (6); các mảnh nhựa vỡ tại vị trí số (3) và (8) tại hiện trường; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 0060641 cấp ngày 14/5/2007 của xe mô tô biển kiểm soát 88S3- 5712, tên chủ xe Lê Mạnh C1; mẫu máu, mẫu nước tiểu thu trong cơ thể Bạch Văn D; mẫu máu thu trong cơ thể Lê Văn T. Các vật chứng, mẫu này đều được niêm phong, bảo quản theo quy định của pháp luật.
Kết quả giám định tử thi:
Ngày 12/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 910 trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh tỉnh V giám định pháp y về tử thi để xác định nguyên nhân tử vong của anh Lê Văn T. Ngày 05/6/2024, Phòng K1 Công an tỉnh tỉnh V có Bản kết luận giám định tử thi số 1600/KLGĐTT- PC09- PY, kết luận:
Các kết quả chính:
- Kết quả khám nghiệm:
- + Vùng chẩm phải mất liên tục, xương chẩm dập vỡ phức tạp, màng cứng rách, nhu mô não vỡ nát thoát một phần ra bên ngoài.
- + Chảy nhiều máu qua tai, mũi, miệng.
- + Sây sát da vùng đỉnh đầu; sây sát, bầm tím, rách da vùng cằm, tay trái và rải rác một số vị trí trên cơ thể; vùng ngực hai bên, mặt ngoài đùi trái có vết in hằn da.
- + Ngực trái mất vững; tay trái gãy hở phức tạp hai xương cẳng tay.
- Kết quả xét nghiệm:
+ Giám định nồng độ cồn cồn (E) trong máu: Nồng độ cồn (E) trong mẫu máu tử thi Lê Văn T là 54,351mg/100ml mẫu.
Kết luận:
- Nguyên nhân chết của Lê Văn T: Chấn thương sọ não trên người bị đa chấn thương.
Cơ chế hình thành thương tích:
- Tổn thương sây sát, bầm tím vùng đỉnh là tổn thương trực tiếp hình thành do cơ chế va đập, cọ xát với vật tày cứng gây nên. Tổn thương dập vỡ xương chẩm phải là tổn thương gián tiếp, hình thành do cơ chế dồn ép tại vị trí vùng đỉnh gây nên.
- Tổn thương bầm tím mặt ngoài cổ tay trái do tổn thương trực tiếp hình thành do cơ chế va đập với vật tày cứng gây nên; Tổn thương gãy hở hai xương cẳng tay trái là tổn thương gián tiếp, hình thành do cơ chế dồn ép tại vị trí cổ tay trái gây nên.
- Tổn thương rách da vùng cằm hình thành do cơ chế va đập trực tiếp với vật tày cứng có cạnh gây nên.
- Tổn thương in hằn da vùng ngực, in hằn hình lục giác mặt ngoài đùi trái hình thành do cơ chế va đập trực tiếp với tiết diện giới hạn của vật tày cứng gây nên.
Kết quả kiểm tra, giám định nồng độ cồn, ma tuý:
Hồi 20 giờ 08 phút ngày 12/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã sử dụng máy đo nồng độ cồn nhãn hiệu ALCOSENSE- PRODIGV II, số ID: 862092, hiệu chỉnh gần nhất ngày 10/8/2023 để tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Bạch Văn D. Kết quả trong hơi thở của D không có nồng độ cồn.
Ngày 13/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 935, 936 trưng cầu Phòng K1- Công an tỉnh V giám định cồn trong mẫu máu, chất ma túy trong mẫu nước tiểu thu của Bạch Văn D. Ngày 18/5/2024 và ngày 21/5/2024, Phòng K1- Công an tỉnh V có bản kết luận giám định số 1359, 1406/KL- KTHS, kết luận:
- - Không phát hiện thấy có cồn (Ethanol) trong mẫu chất lỏng màu nâu đỏ được Cơ quan trưng cầu xác định là mẫu máu thu của Bạch Văn D- SN: 1971, trú tại xã N- huyện V- tỉnh Vĩnh Phúc gửi giám định.
- - Không tìm thấy chất ma tuý thường gặp (Morphine; Heroine; MDMA;Methamphetamine; Ketamine, 2C- B và TFMPP) trong mẫu chất lỏng màu vàng được Cơ quan trưng cầu xác định là mẫu nước tiểu thu của Bạch Văn D - SN: 1971, trú tại xã N- huyện V- tỉnh Vĩnh Phúc gửi giám định.
Ngày 13/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 933, 934 trưng cầu Phòng K1- Công an tỉnh V giám định chất ma túy, nồng độ cồn trong mẫu máu thu của Lê Văn T. Ngày 17/5/2024 và ngày 18/5/2024, Phòng K1- Công an tỉnh V có các Bản kết luận giám định số 1357, 1358/KL- KTHS, kết luận:
- - Không tìm thấy chất ma tuý thường gặp (Morphine; Heroine; MDMA; Methamphetamine; Ketamine, 2C- B và TFMPP) trong mẫu chất lỏng màu nâu đỏ được Cơ quan trưng cầu xác định là mẫu máu thu của tử thi Lê Văn T- SN: 1993, trú tại xã Y- huyện V- tỉnh Vĩnh Phúc gửi giám định.
- - Trong mẫu chất lỏng màu nâu đỏ được Cơ quan trưng cầu xác định là mẫu máu thu của tử thi Lê Văn T- SN: 1993, trú tại xã Y- huyện V- tỉnh Vĩnh Phúc gửi giám định có cồn (E). Nồng độ cồn (Ethanol trong mẫu gửi giám định là 54,351mg/100ml mẫu.
Kết quả giám định hoá pháp lý:
Ngày 13/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 937 trưng cầu Phòng K1- Công an tỉnh V giám định mẫu hóa pháp lý đã thu giữ trong quá trình khám nghiệm phương tiện. Ngày 07/6/2024, Phòng K1- Công an tỉnh V có bản kết luận giám định số 1634/KL- KTHS, kết luận:
Mẫu sơn màu xanh trên mảnh nhựa vỡ thu tại đầu xe công nông (ký hiệu A1) gửi giám định cùng loại với mẫu sơn màu xanh trên mảnh nhựa thu tại ốp nhựa phía sau cánh yếm bên trái xe mô tô biển kiểm soát 88S3- 5712 (ký hiệu M1) gửi làm mẫu so sánh.
Định giá tài sản: Ngày 15/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra các Yêu cầu định giá tài sản số 2086, 2087 yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện V định giá xác định thiệt hại đối với 2 phương tiện sau khi tai nạn xảy ra. Ngày 07/6/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V có các Bản kết luận định giá tài sản số 119, 120/KL- HĐĐGTTHS lần lượt kết luận:
- - Tổng giá trị thiệt hại của chiếc xe công nông tự chế là 40.000đ (Bốn mươi nghìn đồng chẵn).
- - Tổng giá trị thiệt hại của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88S3- 5712 là 2.920.000đ (Hai triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng chẵn).
Cơ quan điều tra đã thông báo các kết luận giám định, kết luận định giá nêu trên cho Bạch Văn D, đại diện gia đình bị hại. Tất cả đều đồng ý và không thắc mắc gì.
Xác minh về giấy phép lái xe, phương tiện:
Ngày 27/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ban hành công văn số 931/CV-ĐTTH đề nghị Sở GTVT tỉnh V phối hợp cung cấp nội dung: Chiếc xe có đặc điểm nêu trên thuộc loại xe gì (Là xe chuyên dùng, hay xe tự chế...)? Có được lưu hành hay không? Phạm vi sử dụng và hoạt động của chiếc xe này (Chiếc xe này có được hoạt động trên đường giao thông không)? Được quy định tại văn bản nào? Điều kiện để được điều khiển chiếc xe (Có phải giấy phép lái xe hay không...)? Được quy định tại văn bản nào?
Ngày 29/5/2024, Sở Giao thông vận tải tỉnh V có Công văn số 1784/SGTVT-QLVTPT&NL phúc đáp công văn số 931/CV-ĐTTH ngày 27/5/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện V, nội dung:
- - Về loại phương tiện: Phương tiện này không thuộc các loại phương tiện được quy định tại các khoản 17, 18, 19, 20 của Điều 3, Luật Giao thông đường bộ.
- - Về phạm vi hoạt động: Phương tiện này không thuộc các loại phương tiện tham gia giao thông đường bộ quy định tại khoản 21 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ.
- - Về quy định điều kiện để điều khiển chiếc xe nêu trên: Về điều kiện người lái xe tham gia giao thông đường bộ quy định tại Điều: 58, 59, 62 Luật giao thông đường bộ đều không có nội dung quy định cho việc điều khiển loại xe nói trên.
Ngày 13/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V có văn bản số 873/CV-ĐTTH về việc đề nghị Sở Giao thông vận tải tỉnh V cung cấp thông tin về việc Lê Văn T và Bạch Văn D đã được cấp giấy phép lái xe mô tô theo quy định hay chưa, nếu có thì là hạng nào, số giấy phép, ngày cấp. Ngày 24/5/2024, Sở Giao thông vận tải tỉnh V có văn bản phúc đáp số 1705/SGTVT-QLVTPT&NL xác định: Đối với Lê Văn T: Không tìm thấy thông tin nào liên quan đến việc đã cấp giấy phép lái xe cho người có tên Lê Văn T. Đối với Bạch Văn D: số giấy phép lái xe: S100753, hạng A1, ngày cấp 26/6/2004.
Ngày 03/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V có văn bản số 1241/CV-ĐTTH về việc đề nghị Sở Giao thông vận tải tỉnh P cung cấp thông tin về việc Lê Văn T đã được cấp giấy phép lái xe mô tô theo quy định hay chưa, nếu có thì là hạng nào, số giấy phép, ngày cấp.
Ngày 08/7/2024, Sở Giao thông vận tải tỉnh P có văn bản phúc đáp số 2119/SGTVT-QLVT xác định: tại thời điểm kiểm tra, xác minh không có thông tin về giấy phép lái xe cơ giới đường bộ các hạng của Lê Văn T, sinh ngày 06/10/1993; CCCD số [...], nơi cư trú: Thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc;
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bạch Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số: 109/CT- VKSVT ngày 09/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường đã truy tố bị cáo Bạch Văn D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo Bạch Văn D. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của luật Hình sự; xử phạt bị cáo Bạch Văn D từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm; thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ngoài ra, do bị cáo làm nghề tự do nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đồng thời đề nghị về xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Bạch Văn D không có tranh luận gì. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại là anh Lê Tất C trình bày: Sau khi sự việc xảy ra bị cáo Bạch Văn D đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 250.000.000đ (là tiền mai táng phí và tổn thất tinh thần). Gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bị cáo D phải bồi thường gì thêm. Tại phiên tòa, anh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất. Ngoài ra, anh không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Thu Y có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng quá trình điều tra đã trình bày: Chị là vợ của bị hại anh Lê Văn T. Chị và anh T có ba con chung là cháu Lê Thị S1, sinh năm 2017 (đã chết năm 2027), cháu Lê Gia H1, sinh năm 2018 và cháu Lê Gia B1, sinh năm 2020. Hiện cháu H1 và cháu B1 đang sống cùng gia đình. Sau khi vụ tai nạn xảy ra và hậu quả là chồng chị anh Lê Văn T chết thì gia đình bị cáo D đã thăm hỏi, xin lỗi và tự nguyện bồi thường cho gia đình chị số tiền 250.000.000đ (là tiền mai táng phí và tổn thất tinh thần). Gia đình chị đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bị cáo D phải bồi thường chi phí nuôi hai con chung của anh chị đến 18 tuổi và cũng không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Lê Mạnh C1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đã trình bày: Anh có mối quan hệ là họ hàng xa và ở cùng thôn với anh Lê Văn T. Vào khoảng năm 2007 anh có mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu CLARO, biển kiểm sát là 88S3-5712, xe đăng ký đứng tên anh. Đến năm 2018 anh đã bán chiếc xe trên cho anh Lê Văn T, khi bán thì hai bên chỉ thỏa thuận miệng, không có giấy tờ gì. Việc anh T điều khiển chiếc xe trên và va chạm giao thông thì anh hoàn toàn không biết và không có liên quan gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Bạch Văn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có liên quan, lời khai của người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, bản ảnh hiện trường, kết quả khám nghiệm phương tiện, bản ảnh khám phương tiện, kết luận giám định pháp y về tử thi cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 12/5/2024, Bạch Văn D có giấy phép lái xe hạng A1 điều khiển xe công nông tự chế chở theo khoảng 01m³ bê tông tươi (trong cơ thể không có nồng độ cồn, ma túy) tham gia giao thông trên đường quốc lộ 2A theo hướng từ thành phố V đi thành phố V để tìm địa điểm đổ bỏ bê tông do không có nhu cầu sử dụng. Khi đi đến đoạn đường km 46+900 quốc lộ B thuộc địa phận thôn Đ, xã Y, huyện V, quan sát thấy phía bên trái đường theo hướng di chuyển của mình có lối mở đi vào khu vực kho vận của Tập đoàn P. Bạch Văn D không chú ý quan sát, không có tín hiệu báo hướng rẽ, chuyển hướng không đảm bảo an toàn, không nhường đường cho xe đi ngược chiều đang đi đến mà điều khiển xe công nông sang đường để đi vào lối mở trên nên xe công nông do D điều khiển đã đâm va vào phần đầu xe mô tô biển kiểm soát 88S3-5712 do anh Lê Văn T điều khiển đi theo hướng từ thành phố V đi thành phố V, đi đúng phần đường, làn đường theo quy định gây tai nạn giao thông. Hậu quả, anh T tử vong tại hiện trường, gây thiệt hại tài sản của người khác có giá trị 2.920.000 đồng.
Hành vi điều khiển xe công nông tự chế tham gia giao thông không chú ý quan sát, không có tín hiệu báo hướng rẽ, chuyển hướng không đảm bảo an toàn, không nhường đường cho xe đi ngược chiều đến, gây tai nạn giao thông dẫn đến hậu quả làm anh Lê Văn T bị tử vong như trên của Bạch Văn D đã vi phạm khoản 1, 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ.
Khoản 1, khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ quy định:
“1. Khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ.
2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe... phải nhường quyền đi trước cho ... các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác”.
Hành vi của Bạch Văn D điều khiển xe công nông tự chế là loại xe đã bị Nhà nước đình chỉ lưu hành từ ngày 01/01/2008 theo Nghị Quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007 của Chính phủ. Theo quy định của Bộ luật hình sự và Luật giao thông đường bộ thì chỉ những loại xe cơ giới được lưu thông mới bắt buộc người điều khiển xe cơ giới phải có giấy phép lái xe. Loại xe mà bị cáo điều khiển đã bị cấm lưu thông thì không xem xét việc có hay không có giấy phép lái xe. Do vậy, hành vi của bị cáo điều khiển xe công nông tự chế tham gia giao thông, không chấp hành đúng các quy định về đảm bảo an toàn giao thông đường bộ, gây tai nạn hậu quả làm 01 người bị chết đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định về điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hậu quả nghiêm trọng. Do vậy cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo là người là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực khắc phục hậu quả, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại và được gia đình bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đồng thời, hậu quả vụ tai nạn xảy ra do bị hại cũng có một phần lỗi là tham gia giao thông khi chưa được cấp giấy phép lái xe và trong cơ thể có nồng độ cồn (54,351mg/100ml). Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ nên có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Vì vậy chỉ cần xử phạt bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách với mức án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ điều kiện, giáo dục bị cáo luôn có ý thức chấp hành pháp luật.
Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường đối với bị cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, bị cáo làm nghề tự do, nghề nghiệp không phải là lái xe. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Đối với anh Lê Văn T là bị hại trong vụ án nhưng có hành vi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông khi chưa được cấp giấy phép lái xe và trong cơ thể có nồng độ cồn dẫn đến tai nạn giao thông. Hành vi nêu trên của anh T đã vi phạm quy định Luật giao thông đường bộ và các Nghị định hướng dẫn thi hành của Chính phủ. Tuy nhiên, do anh T đã tử vong nên Cơ quan điều tra không xử lý hành chính đối với anh T là phù hợp.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Bạch Văn D đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại là anh Lê Văn T số tiền là 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng) gồm chi phí mai táng, tổn thất tinh thần. Đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không đề nghị bồi thường gì thêm đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Bạch Văn D.
Đối với hư hỏng của mô tô biển kiểm soát 88S3- 5712 do tai nạn giao thông gây ra, đại diện gia đình bị hại xin tự khắc phục hậu quả, không yêu cầu, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu CLARO, loại xe nữ, màu sơn đen, số máy 152FMH003266, số khung H3PE7A003266, biển kiểm soát 88S3- 5712, đăng ký xe mang tên Lê Mạnh C1, sinh năm 1988 trú tại xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên anh C1 mua từ năm 2007. Năm 2018, anh C1 bán lại chiếc xe cho Lê Văn T nhưng do thời gian đã lâu nên anh C1 không nhớ rõ bán bao nhiêu tiền, khi bán không viết giấy tờ mua bán gì. Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu, kết quả xe mô tô trên không thuộc xe vật chứng. Do vậy cần xác định xe mô tô trên là tài sản hợp pháp của anh Lê Văn T. Ngày 17/7/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô và giấy tờ xe cho người đại diện theo pháp luật bị hại là phù hợp.
- Đối với xe công nông màu xanh có kích thước dài 3,2m, rộng 1,3m, cao 1,8m, có thùng xe dài 2,1m, rộng 1,3m, cao 0,8m, bên trong thùng xe có xi măng cao 60cm là tài sản của Bạch Văn D. Tuy nhiên, đây là loại phương tiện cấm lưu hành cần tịch thu bán sung quỹ Nhà nước;
- Đối với 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số S100753 do Sở Giao thông vận tải tỉnh V cấp ngày 25/6/2004 cho Bạch Văn D được chuyển theo hồ sơ vụ án cần trả lại cho Bạch Văn D nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với mẫu máu thu tại vị trí số (6); các mảnh nhựa vỡ tại vị trí số (3) và (8) tại hiện trường; mẫu trả sau giám định đều được niêm phong, bảo quản theo quy định của pháp luật tại kho vật chứng của Công an huyện V là các vật chứng liên quan cần tiêu hủy.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Bạch Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Bạch Văn D 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Bạch Văn D cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Trả lại cho bị cáo Bạch Văn D 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số S100753 do Sở Giao thông vận tải tỉnh V cấp ngày 25/6/2004 mang tên Bạch Văn D nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Tịch thu bán phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 xe công nông màu xanh có kích thước dài 3,2m, rộng 1,3m, cao 1,8m, có thùng xe dài 2,1m, rộng 1,3m, cao 0,8m, bên trong thùng xe có xi măng cao 60cm.
- - Tịch thu tiêu hủy: Phong bì niêm phong mặt trước ghi mẫu máu thu tại vị trí số (6); các mảnh nhựa vỡ tại vị trí số (3) và (8) tại hiện trường mặt sai có dấu và chữ ky của Phòng kỹ thuật hình sư – Công an tỉnh V.
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 bao gói phong bì niêm phong mặt trước ghi “MẪU TRẢ vụ 1273+1274/2024” kèm theo kết luận giám định số 1358/KL-KTHS ngày 18/5/2024.
- + 01 bao gói phong bì niêm phong mặt trước ghi “MẪU TRẢ vụ 1275/2024” kèm theo kết luận giám định số 1359/KL-KTHS ngày 18/5/2024.
- + 01 bao gói phong bì niêm phong mặt trước ghi “MẪU TRẢ vụ 1277/2024” kèm theo kết luận giám định số 1634/KL-KTHS ngày 07/6/2024.
- + 01 bao gói chai nhựa “vụ 1276” kèm theo kết luận giám định số 1406/KL-KTHS ngày 21/5/2024.
(Toàn bộ vật chứng của vụ án có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường ngày 25/9/2024).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Bạch Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lương Văn Tuấn |
Bản án số 115/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 115/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bach Van D vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
