|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 115/2024/DS-ST Ngày: 27 tháng 09 năm 2024 V/v tranh chấp hợp đồng xây dựng nhà ở |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Hồng Hải
Ông Trần Trung Nam
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi - Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Quân- Kiểm sát viên.
Ngày 26 và 27 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 53/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 07 năm 2024 về “tranh chấp hợp đồng xây dựng nhà ở” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 08 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 09 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1962; Địa chỉ: Số A, đường N, phường T, quận T, TP Đà Nẵng;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1957, địa chỉ: A, A đường H, quận T, TP Đà Nẵng. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Lê Đức T1; Địa chỉ: Số A đường V, tổ D, thôn M, xã H, huyện H, TP Đà Nẵng. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị T2, sinh năm 1935; Địa chỉ: Số A đường N, phường T, quận T, TP Đà Nẵng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Văn Đ trình bày:
Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông ông Lê Đức T1 quen thân nhau nên bà T giao cho ông T1 nhận thầu thi công xây dựng kiểu “chìa khóa trao tay".
Ngày 30/05/2021, ông T1 soạn “Hợp đồng xây dựng nhà ở trọn gói vật tư và nhân công" để bà T (chủ đầu tư) ký tại địa điểm xây dựng và bàn giao mặt bằng tại: A N, T, T, Đà Nẵng, trong đó có thỏa thuận:
Ông T1 nhận thi công trọn gói vật tư và nhân công toàn bộ theo hồ sơ thiết kế của công trình.
Thời gian thi công: 105 ngày (3,5 tháng). Từ ngày 28/04/2021 Âm lịch (Dương lịch ngày 08/06/2021).
Hạng mục: Nhà ở 03 tầng
Trong quá trình thi công, bà T đã yêu cầu ông T1 xác định công trình tứ cận, trong đó có nhà bà Trần Thị T2 để đánh giá hiện trạng ban đầu. Trong suốt thời gian xây dựng, bà T không nghe ông T1 thông báo về việc hư hại sụt lún nhà bà T2 nên cho rằng đã giải quyết ổn thỏa vì phát sinh này thuộc trách nhiệm nhà thầu. Vì vậy, việc thi công bà T tin tưởng giao cho ông T1, chỉ chờ ngày nhận nghiệm thu.
Tuy nhiên ngày 18/01/2022, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê thông báo về việc bà Trần Thị T2 khởi kiện “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” đối với bà T. Tại Tòa án quận T, ông T1 có trình bày: Có xác nhận vết nứt, thống nhất với nhà bà T2 sẽ sửa chữa khi xong công trình. Hiện trạng ghi lại bằng video đánh giá hư hỏng tại thời điểm thi công, ông T1 hứa sẽ nộp tòa án để làm căn cứ đánh giá nhưng đến khi xét xử ông T1 vẫn không cung cấp.
Vì vậy, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê nhận định tại trang 12 của Bản án số 78/2022/DS-ST ngày 29/12/2022 sơ thẩm: “Xét thấy, đơn vị thi công công trình nhà ở của bị đơn có trách nhiệm liên đới bồi thường cùng với bị đơn theo quy định tại Điều 605 của Bộ luật Dân sự, thỏa thuận giữa hai bên trong hợp đồng đã ký kết.......... Trường hợp sau này có ranh chấp thì bị đơn được quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác để yêu cầu Tòa án xem xét trách nhiệm liên đới đối với các đơn vị thi công có liên quan”
Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án trên tại Bản án số 58/2023/DS-PT ngày 25/05/2023, Bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Từ căn cứ trên, Chi cục Thi hành án quận Thanh Khê ra Quyết định thi hành án số 1255/2022/DS/QĐ-CTHADS ngày 09/08/2023 về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Thanh T phải thi hành tổng cộng số tiền là: 675.471.000 đồng (Sáu trăm bảy mươi lăm triệu, bốn trăm bảy mươi mốt ngàn đồng)
Mặc khác, vì do nhu cầu chỗ ở nên bà T dọn về nhà 18 Nguyễn Gia T3 ở đến nay nhưng thực tế ông T1 chưa làm thủ tục bàn giao nghiệm thu công trình. Lý do ông T1 tránh mặt không hợp tác bàn giao công trình, không chịu trách nhiệm về xử lý thiệt hại tứ cận khi thi công vì trốn tránh trách nhiệm về việc xây dựng không đảm bảo quy trình đã để xảy ra thiệt hại.
Ông T1 đã vi phạm nguyên tắc thi công, không thực hiện đúng chức trách của mình trong thực hiện thi công dẫn đến thiệt hại nhà lân cận và hiện nay bà T phải bồi thường nên ông T1 phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường trong việc thi công để xảy ra thiệt hại.
Do đó, bà Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu Tòa án nhân dân quận Thanh Khê buộc ông Lê Đức T1 có nghĩa vụ liên đới bồi thường thiệt hại do việc thi công xây dựng không đảm bảo quy trình đã để xảy ra thiệt hại. Số tiền yêu cầu là: 675.471.000 đồng (Sáu trăm bảy mươi lăm triệu, bốn trăm bảy mươi mốt ngàn đồng) bao gồm các khoản tiền sau:
- - Án phí dân sự sơ thẩm 26.095.000 đồng. (Hai mươi sáu triệu, không trăm chín mươi lăm ngàn đồng).
- - Tất cả các khoản tiền bồi thường thiệt hại cho bà Trần Thị T2 theo Bản án sơ thẩm, phúc thẩm là 649.376.000 đồng. (Sáu trăm bốn mươi chín triệu, ba trăm bảy mươi sáu ngàn đồng).
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần án phí dân sự sơ thẩm số tiền 26.095.000 đồng và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 2.000.000 đồng, chỉ yêu cầu ông T1 liên đới bồi thường số tiền 647.376.000 đồng.
Bị đơn ông Lê Đức T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T2 mặc dù đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do, cũng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê:
- Về thủ tục tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã được đảm bảo thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; riêng bị đơn là ông Lê Đức T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T2 đã không trình bày ý kiến của mình và vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình tố tụng mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên phải chịu hậu quả pháp lý về sự vắng mặt của mình.
- Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đề nghị HĐXX:
Căn cứ các điều 174, 288, 605 của Bộ luật dân sự; Điều 121; Điều 138 của Luật xây dựng; chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thanh T đối với bị đơn là ông Lê Đức T1. Buộc ông Lê Đức T1 thanh toán lại phần nghĩa vụ bà T phải thực hiện thay số tiền 323.688.000 đồng (Ba trăm hai mươi ba triệu, sáu trăm tám mươi tám nghìn đồng).
Căn cứ Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự; đình chỉ một phần yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Lê Đức T1 liên đới bồi thường các khoản án phí dân sự sự sơ thẩm số tiền 26.095.000 đồng và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 2.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T về tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng với bị đơn ông Lê Đức T1 là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do nơi thực hiện hợp đồng là tại phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng và căn cứ theo sự lựa chọn của nguyên đơn thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, và điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn là ông Lê Đức T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng cho ông T1 về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Xét yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Thị Thanh T thì thấy:
Ngày 30/05/2021, bà Nguyễn Thị Thanh T (bên A- chủ đầu tư) và ông Lê Đức T1 (bên B- nhận thi công) ký “Hợp đồng xây dựng nhà ở trọn gói vật tư và nhân công". Theo đó, bà T là đại diện bên A đồng ý thuê ông T1 là đại diện bên B đảm nhận thi công trọn gói công trình nhà ở tại địa chỉ A đường N, quận T, TP Đà Nẵng, trong đó có thỏa thuận: Bên A giao khoán trọn gói vật tư và nhân công toàn bộ theo hồ sơ thiết kế cho bên B thi công công trình. Khởi công ngày 28/04/2021 Âm lịch (tức ngày 08/06/2021 Dương lịch).
Do quá trình thi công công trình nhà ở thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Thanh T tại số A đường N đã gây ra các tổn thất cho ngôi nhà thuộc sở hữu của bà Trần Thị T2. Vì vậy, ngày 18/01/2022 bà T2 khởi kiện và yêu cầu bà T bồi thường.
Vì bà T muốn tự thỏa thuận với ông Lê Đức T1 nên không yêu cầu xem xét trách nhiệm liên đới của đơn vị thi công công trình. Do đó, tại bản án dân sự sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật số 78/2022/DS-ST ngày 29/12/2022 Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã tuyên:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T2 đối với bà Nguyễn Thị Thanh T về việc "Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng".
- Buộc bà Nguyễn Thị Thanh T bồi thường cho bà Trần Thị T2 tổng số tiền là 552.376.000 đồng (Năm trăm năm mươi hai triệu ba trăm bảy mươi sáu nghìn đồng)....
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 26.095.000 đồng (hai mươi sáu triệu không trăm chín mươi lăm nghìn đồng). ..
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc bà Nguyễn Thị Thanh T hoàn trả cho bà Trần Thị T2 tiền chi phí, xem xét thẩm định tại chỗ là: 2.000.000 đồng (hai riệu đồng).
- Về chi phí giám định: Buộc bà Nguyễn Thị Thanh T hoàn trả cho bà Trần Thị T2 tiền chi phí giám định là 95.000.000 đồng (chín mươi lăm triệu đồng).
Sau đó, bà T đã nhiều lần liên lạc với ông T1 để bàn bạc, giải quyết việc bồi thường cho bà T2 nhưng ông T1 tránh mặt không hợp tác. Đến nay, ông T1 chưa làm thủ tục bàn giao nghiệm thu công trình. Tuy nhiên, do nhu cầu chỗ ở nên bà T đã dọn về nhà 18 Nguyễn Gia T3 sinh sống. Bà T cho rằng ông T1 đã vi phạm nguyên tắc thi công, không thực hiện đúng chức trách của mình dẫn đến gây thiệt hại cho nhà bà T2 và hiện nay bà T là người phải đứng ra bồi thường cho bà T2 theo phán quyết của Tòa án. Do đó, bà Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu Tòa án buộc ông Lê Đức T1 có nghĩa vụ liên đới bồi thường thiệt hại số tiền 647.376.000 đồng, gồm: khoản tiền bồi thường thiệt hại 552.376.000 đồng và chi phí giám định số tiền 95.000.000 đồng.
Xét thấy: Tại Báo cáo Giám định số 03TA/22CV ngày 20/05/2022 của Công ty TNHH G (VIET SPECO) nhận định: “Trong quá trình thi công phá dỡ móng cũ để thi công móng mới công trình số 18 Nguyễn Gia T3 đã khiến phần nền, móng tiếp giáp của căn nhà 16 Nguyễn Gia T3 bị lún lệch. .. kết quả đo cao độ nền và kết quả đo trụ bị nghiêng lệch không đều và nền nhà bị nứt tách theo phương dọc, điều này chứng tỏ phần đất nền đất bên dưới căn nhà bị mất đi hoặc rỗng hơn so với như bình thường. Việc mất đất nền này xảy ra khi Đơn vị thi công tiến hành đào và đắp đất hố móng công trình có thể đã không cẩn thận đã gây nên các tổn thất cho căn nhà. Ngoài ra, theo hình ảnh, video của chủ nhà 16 Nguyễn Gia T3 cung cấp thì quá trình phá dỡ công trình cũ số 18 Nguyễn Gia T3 đã dùng máy xúc cẩu kéo móng cũ trực tiếp và nguyên khối móng đã gây tác động đến căn nhà số A N của bà T2".
Bị đơn ông Nguyễn Đức T4 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, tuy nhiên tại phiên toà sơ thẩm ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê ông Nguyễn Đức T4 cho rằng có đơn vị khác thi công phần tháo dỡ và trục đào phần móng nhà cũ của bị đơn. Quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Văn Đ không cung cấp thông tin đơn vị có liên quan nhưng
tại phiên tòa hôm nay, ông Đ xác nhận bà T có thuê ông Mai S phá dỡ ngôi nhà 18 Nguyễn Gia T3 và cung cấp Hợp đồng phá dỡ mặt bằng và vận chuyển xà bần (bản photo) lập ngày 15/06/2021. Tuy nhiên, bà T không yêu cầu đưa ông S tham gia tố tụng cũng như xem xét trách nhiệm liên đới đối với ông S vì khi bên ông S phá dỡ mặt bằng thì trước đó vào ngày 30/05/2021, bà T và ông T4 đã ký “Hợp đồng xây dựng nhà ở trọn gói vật tư và nhân công", ông T4 biết rõ quá trình ông S phá dỡ nhà cũ, bản thân có chuyên môn về xây dựng nhưng khi nhận bàn giao mặt bằng để thi công ông T4 đã không có ý kiến gì mà vẫn tiến hành đào và đắp đất hố móng công trình gây tổn thất cho nhà bà T2.
Xét Hợp đồng xây dựng nhà ở trọn gói vật tư và nhân công ngày 30/05/2021 được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Các công việc và hạng mục bên B (bên thi công) sẽ làm được thỏa thuận tại mục 2.3.1 Xây dựng cơ bản (Điều 2) có nội dung: “Đổ bê tông cốt thép móng, sàn, cột, đà, linh tô theo bản vẽ thiết kế yêu cầu” nên có căn cứ khẳng định ông Lê Đức T1 chính là bên thi công phần móng công trình nhà ở của bà T. Ngoài ra, tại Điều 6 Hợp đồng quy định quyền và nghĩa vụ của bên B như sau: “Có biện pháp khắc phục, xử lý mọi sự cố kỹ thuận, an toàn trong quá trình thi công”; “Thông báo kịp thời cho bên A mọi trở ngại do thiết kế không lường trước được hoặc trở ngại do điều kiện khách quan để hai bên bàn bạc thống nhất cách giải quyết”. Quá trình giải quyết vụ án "Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng", ông T1 khẳng định trước khi tiến hành thi công đã thực hiện kiểm tra và chụp hình hiện trạng ngôi nhà của bà T2 và cho rằng nhà của bà T2 đã có một số vết nứt sắn phía bên ngoài. Ông T1 sẽ nộp đơn trình bày cụ thể và các video quay lại hiện trạng ngôi nhà của bà T2 làm căn cứ đánh giá nhưng đến khi xét xử ông T1 vẫn không cung cấp. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 78/2022/DS-ST ngày 29/12/2022 Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã nhận định: “...các tổn thất xảy ra hiện nay của căn nhà thuộc sở hữu của nguyên đơn là do quá trình thi công công trình nhà ở thuộc sở hữu của bị đơn gây nên. Hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình nhà ở của bị đơn gây nghiêng lún, nứt cấu kiện, hư hỏng nhà của nguyên đơn đã vi phạm quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng...”.
Như vậy, bà Nguyễn Thị Thanh T và đơn vị thi công công trình nhà ở của bà T đã không thực hiện đúng, không tôn trọng quy tắc xây dựng theo quy định tại Điều 174 của Bộ luật Dân sự năm 2015 gây thiệt hại cho nhà bà T2. Căn cứ Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2015quy định “………Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra thiệt hại thì phải liên đới bồi thường”. Bên thi công là ông Lê Đức T1 khi nhận bàn giao mặt bằng để thi công đã không có ý kiến gì đối với bên phá dỡ. Việc tiến hành đào và đắp đất hố móng công trình không cẩn thận của bên ông T1 là nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất cho nhà bà T2 nên có trách nhiệm liên đới bồi thường cùng với bà T. HĐXX chấp nhận một phần
yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Lê Đức T1 phải có trách nhiệm liên đới cùng bà T bồi thường cho bà Trần Thị T2 số tiền 552.376.000 đồng.
Đối với khoản tiền chi phí giám định là 95.000.000 đồng là số tiền cần thiết và hợp lý phải chi trả cho việc giám định từ đó mới xác định được mức độ thiệt hại, vấn đề lỗi... làm căn cứ bồi thường nên cũng cần buộc ông T1 liên đới cùng bà T chịu khoản tiền này.
Bà T cho rằng trong quá trình thi công, bà T đã yêu cầu ông T1 xác định công trình tứ cận, trong đó có nhà bà Trần Thị T2 để đánh giá hiện trạng ban đầu, việc thi công bà T tin tưởng giao cho ông T1, chỉ chờ ngày nhận nghiệm thu. Trong suốt thời gian xây dựng, bà T không nghe ông T1 thông báo về việc hư hại sụt lún nhà bà T2 nên cho rằng đã giải quyết ổn thỏa vì phát sinh này thuộc trách nhiệm nhà thầu. Tuy nhiên, căn cứ điểm a khoản 3 Điều 9 Nghị định 06/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng công trình xây dựng, thi công xây dựng công trình và bảo trì công trình xây dựng thì “Chủ đầu tư xây dựng nhà ở riêng lẻ tổ chức thi công xây dựng, giám sát thi công xây dựng và chịu trách nhiệm về an toàn trong thi công xây dựng công trình”. Do đó, lỗi của chủ đầu tư là bà T và bên nhận thi công là ông T1 ngang nhau trong việc để xảy ra thiệt hại cho nhà bà T2 nên chia phần mỗi bên phải chịu ½ số tiền 647.376.000 đồng (552.376.000 đồng + 95.000.000 đồng) là 323.688.000 đồng. Do bản án số 78/2022/DS-ST ngày 29/12/2022 đã có hiều lực pháp luật, bà T hiện đang chịu trách nhiệm thi hành nên cần buộc ông T1 phải thanh toán lại phần nghĩa vụ bà T phải thực hiện thay số tiền 323.688.000 đồng theo quy định tại Điều 288 của Bộ luật dân sự.
HĐXX chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện buộc ông Lê Đức T1 liên đới bồi thường các khoản án phí dân sự sự sơ thẩm số tiền 26.095.000 đồng; chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 2.000.000 đồng và căn cứ vào Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này của nguyên đơn.
[3] Về án phí:
Do một phần yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Lê Đức T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5% x 323.688.000 đồng = 16.184.400 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: - Điều 147, Điều 217; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các điều 174, 288, 605 của Bộ luật dân sự;
- - Điều 121; Điều 138 của Luật xây dựng
- - khoản 2 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thanh T đối với bị đơn là ông Lê Đức T1.
Buộc ông Lê Đức T1 thanh toán lại phần nghĩa vụ bà T phải thực hiện thay số tiền 323.688.000 đồng (Ba trăm hai mươi ba triệu, sáu trăm tám mươi tám nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Đình chỉ một phần yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Lê Đức T1 liên đới bồi thường các khoản án phí dân sự sự sơ thẩm số tiền 26.095.000 đồng và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 2.000.000 đồng.
- Án phí Dân sự sơ thẩm: ông Lê Đức T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 16.184.400 đồng (Mười sáu triệu, một trăm tám mươi bốn nghìn, bốn trăm đồng)
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Riêng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều Điều 06, 07, 07a và 09 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Thủy |
Bản án số 115/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng xây dựng nhà ở
- Số bản án: 115/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng xây dựng nhà ở
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thanh T đối với bị đơn là ông Lê Đức T
