|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 115/2024/DS- ST Ngày 06/9/2024 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Toàn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hùng Minh
- Bà Đặng Thị Huệ
Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Nam Giang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn tham gia phiên toà: bà Lương Nguyễn Thảo Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 157/2023/TLST- DS ngày 19/10/2023, về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST- DS ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964
Địa chỉ: thôn N, xã C, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
- Đồng bị đơn: ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1959 và Bà Trịnh Thị M, sinh năm 1962; Cùng địa chỉ: thôn H, xã C, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Duy Đ, sinh năm 1958
- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1943
- Bà Mã Thị N, sinh năm 1943
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1976
- Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1990
Địa chỉ: thôn N, xã C, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
Cùng địa chỉ: thôn H, xã C, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
(ông L, bà N, ông S uỷ quyền cho ông Nguyễn Văn Đ1)
6. Ủy ban nhân dân xã C, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang
Người đại diện theo pháp luật: bà Khổng Thị T1 – Chức vụ: chủ tịch UBND xã C.
(bà T, ông X, bà M, ông Đ có mặt, ông Đ1, bà T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, lời khai tại phiên toà, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà và chồng bà là ông Nguyễn Duy Đ có mảnh đất khai phá từ năm 1993 để trồng sắn giải quyết lúc khó khăn, đất giáp từ đất nhà ông Nguyễn Văn X đến đường khai thác của Lâm trường Nguyễn Văn T2, vợ chồng bà khai phá diện tích đất này là vì năm 1993 vợ chồng bà ký hợp đồng trông coi bảo vệ rừng với Lâm trường Nguyễn Văn T2 (nay là Công ty cổ phần L1). Từ khi khai phá đến năm 2015 vợ chồng bà vẫn sử dụng vào việc trồng cây cối, ban đầu trồng sắn, sau đó trồng các cây trồng khác như bồ đề, keo, mỡ, tre, hóp...Đến tháng 10/2015 ông X và bà M đã tự ý chặt phá hết cây cối trên đất để chiếm đoạt tài sản và diện tích đất trên của vợ chồng bà. Khi ông bà Xuân M1 chặt phá cây cối, bà đã có ý kiến nhưng ông X không nghe nên bà đã mời công an xã đến lập biên bản làm căn cứ, công an xã đã kiểm đếm số keo bị chặt là 50 cây, số bụi tre bị chặt là 10 bụi, mỗi bụi 50 cây; bồ đề là 100 cây. Công an và chính quyền địa phương đã lập biên bản đình chỉ không cho chặt phá, phải giữ nguyên hiện trạng để chờ giải quyết nhưng gia đình ông X không chấp hành, đã phá sạch và trồng cây keo mới. Diện tích đất bị lấn chiếm theo đo đạc của UBND xã C để giải quyết tranh chấp là 2.146m2 thuộc khoảnh 418, lô 13A. Quá trình Toà án thẩm định đo đạc thực tế, bà được biết diện tích ông bà Xuân M1 đang lấn chiếm sử dụng là 1.684,4m2, thuộc lô số 2 và lô số 4 bản đồ giao đất tái định cư của UBND huyện Y. Vì vậy bà yêu cầu ông bà Xuân M1 phải trả lại cho vợ chồng bà toàn bộ diện tích đất lấn chiếm nêu trên và bồi thường số tiền cây cối bị thiệt hại là 8.400.000₫ (tám triệu bốn trăm nghìn đồng). Đất đai và tài sản là tài sản chung của vợ chồng bà nhưng bà và ông Đ thống nhất bà là người trực tiếp thực hiện việc nhận tài sản bồi thường cũng như các quyền, nghĩa vụ khác liên quan đến vụ án. Đối với yêu cầu độc lập của của ông Nguyễn Văn L và ý kiến của UBND xã C, bà đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, đồng bị đơn là ông Nguyễn Văn X và bà Trịnh Thị M đều trình bày:
Diện tích đất mà bà Nguyễn Thị T đang tranh chấp với vợ chồng ông bà có nguồn gốc là đất của Lâm trường Nguyễn Văn T2 bỏ hoang, không ai sử dụng nên vợ chồng ông khai phá từ năm 1984. Từ khi khai phá ông bà sử dụng đất vào việc trồng cây tre, hóp, keo. Khoảng năm 2015, 2016 do nhà nước có chủ trương giao đất cho các hộ di dân tái định cư từ huyện N về, nhà nước thu hồi đất và yêu cầu các hộ dân chặt những cây cối trên đất để bàn giao đất cho các hộ tái định cư. Vì vậy ông bà tiến hành khai thác số cây cối mà ông bà đã trồng từ trước đó. Sau khi nhà nước giao đất cho các hộ di dân xong, số đất còn lại không giao cho ai thì ông bà lại tiếp tục sử dụng vào việc trồng cây keo mới. Khi khai thác thì ông bà Thìn Đ2 đến tranh chấp nhận là đất của ông bà Thìn X1, báo chính quyền đến giải quyết nhưng ông bà không chấp nhận. Vì diện tích đất tranh chấp do ông bà khai phá, nếu nhà nước thu hồi giao cho các hộ dân tái định cư thì ông bà đồng ý, nhưng do không ai sử dụng nên ông bà được quyền tiếp tục sử dụng. Năm 2023 ông bà đã khai thác bán thêm được 01 lứa keo và hiện nay đang trồng cây keo mới đã được hơn 1 năm tuổi. Nay bà T khởi kiện, quan điểm của ông bà là không nhất trí trả lại đất cho ông bà Thìn X1, không bồi thường thiệt hại cây trồng vì đất đai, cây cối đều thuộc quyền sử dụng của gia đình ông bà. Trường hợp diện tích đất tranh chấp nhà nước đã giao cho các hộ dân tái định cư mà họ sử dụng thì ông bà nhất trí bàn giao cho họ theo quy định. Diện tích đất tranh chấp ông bà không biết thuộc lô, khoảnh, tờ bản đồ nào nhưng chính là diện tích đất theo mảnh trích đo mà Toà án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ theo chỉ dẫn của ông bà. Đối với yêu cầu độc lập của của ông Nguyễn Văn L và ý kiến của UBND xã C, ông bà không nhất trí.
Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Duy Đ trình bày:
Ông nhất trí với ý kiến trình bày của vợ ông là bà Nguyễn Thị T, về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất, quá trình tranh chấp, tài sản bị thiệt hại đúng như vợ ông đã trình bày, ông không bổ sung gì thêm. Ông đề nghị Tòa án buộc ông bà Xuân M1 trả lại toàn bộ diện đất đã lấn chiếm và bồi thường thiệt hại do cây cối bị chặt phá theo như yêu cầu của vợ ông. Ông đồng ý để vợ ông trực tiếp thực hiện việc nhận tài sản bồi thường cũng như các quyền, nghĩa vụ khác liên quan đến vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là ông Nguyễn Văn L; những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Mã Thị N, anh Nguyễn Văn S, anh Nguyễn Văn Đ1 do anh Nguyễn Văn Đ1 làm đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Liên quan đến việc tranh chấp đất đai giữa bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn X gia đình ông có ý kiến như sau: gia đình ông thuộc các hộ di dân tái định cư từ huyện N chuyển về xã C, huyện Y sinh sống theo chủ trương của nhà nước. Năm 2014, gia đình ông được UBND huyện Y giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình tái định cư diện tích 16.367m2, thuộc lô đất số 02 bản đồ giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân tại xã C, huyện Y, có biên bản giao đất và sơ đồ thửa đất kèm theo. Sau khi được giao đất, gia đình ông tiến hành trồng rừng(cây keo) để tăng gia sản xuất. Khi nhận đất và sử dụng đất, bố ông là ông Nguyễn Văn L thấy phần chân lô đất được giao có trồng một số cây keo, bồ đề, tre hóp,... bố ông hỏi và được biết đó là cây trồng của gia đình bà Nguyễn Thị T nên bố ông có bảo với ông bà Thìn Đ2 là: Đề nghị ông bà Thìn Đ2 khai thác hết số cây trồng trên đất nhà nước đã giao để gia đình ông sử dụng đất, sau đó không rõ gia đình ông bà Xuân M1 hay gia đình ông bà Thìn Đ2 khai thác hết số cây trên. Sau khi được Tòa án cho xem sơ đồ mảnh trích đo hiện trạng thửa đất tranh chấp mà Tòa án thẩm định, gia đình ông thấy các bên tranh chấp đang sử dụng vào thửa đất của gia đình ông với diện tích là 1.228,7m2. Trên đất, ông bà Xuân M1 đang trồng cây keo được hơn 01(một) năm tuổi. Ý kiến của gia đình ông là: Đề nghị gia đình ông bà Xuân M1 khai thác hết số cây trồng trên đất để trả lại diện tích đất trên để gia đình ông được sử dụng. Về thành viên hộ gia đình: Hộ gia đình ông hiện nay gồm có 06 (sáu) người: bố ông là Nguyễn Văn L là chủ hộ, mẹ ông là bà Mã Thị N, sinh năm 1943, anh trai là Nguyễn Văn S sinh năm 1976, vợ ông là Hoàng Thị Đ3, sinh năm 1999, cháu là Nguyễn Quang H sinh năm 2016 và ông và ông là Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1990. Tuy nhiên những người được quyền sử dụng diện tích đất được giao chỉ có bố mẹ ông và hai anh em ông. Gia đình ông nhất trí với kết quả đo vẽ của Tòa án, từ chối hòa giải.
Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là UBND xã C do bà Khổng Thị T1 – chủ tịch UBND xã trình bày:
Theo kết quả đo đạc thẩm định tại chỗ của Toà án nhân dân huyện Yên Sơn thì có một phần diện tích đất tranh chấp giữa các bên là 455,7m² thuộc lô đất số 4, bản đồ giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình tại xã C. Qua kiểm tra xác định lô đất trên trước đây thuộc đất của Công ty cổ phần L2, sau đó UBND tỉnh T đã có quyết định số 325/QĐ- UBND ngày 12/8/2014 về việc thu hồi đất sản xuất lâm nghiệp để giao cho các hộ di dân thuộc dự án di dân tái định cư thủy điện T3 tại xã C, huyện Y, trong đó có lô đất số 4 nêu trên. Tuy nhiên do thời điểm đó các hộ gia đình ông Nguyễn Văn X, Nguyễn Thị T đang trồng cây chưa khai thác, có tranh chấp nên lô đất số 4 chưa giao cho hộ gia đình nào sử dụng. Hiện nay lô đất trên thuộc quản lý của UBND xã C, huyện Y. Quan điểm của UBND xã C diện tích đất trên là đất quản lý của chính quyền địa phương nên các bên tranh chấp không có quyền sử dụng, vẫn thuộc quyền quản lý của UBND xã. Hiện nay hộ ông Nguyễn Văn X đang trồng cây trên đất, UBND xã C yêu cầu hộ gia đình đang lấn chiếm sử dụng khai thác cây trồng để giao trả lại đất cho địa phương quản lý theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành hoà giải nhưng các bên vẫn giữ nguyên quan điểm, sau đó các đương sự đều nghị từ chối hòa giải. Do đó vụ việc hòa giải không thành.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn phát biểu quan điểm: Toà án đã thụ lý, giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là đúng thẩm quyền, đúng nội dung tranh chấp. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị HĐXX, xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Văn X và bà Trịnh Thị M. Buộc ông X và bà M phải bồi thường thiệt hại về tài sản là giá trị cây trồng trên đất bị chặt phá là 5.000.000đ (năm triệu đồng). Chia ra ông X và bà M mỗi người phải trả cho bà T số tiền là 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc buộc ông bà Xuân M1 phải trả lại diện tích đất lấn chiếm là 1.684,4m², thuộc lô số 2 và lô số 4 bản đồ giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân tại xã C, ký hiệu trên mảnh trích đo là thửa số 1, thể hiện bởi các điểm nối liền 1,2,3,4.......21,22,23,1.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn L. Buộc ông Nguyễn Văn X và bà Trịnh Thị M phải khai thác toàn bộ số cây trồng trên diện tích đất tranh chấp, trả lại cho ông Nguyễn Văn L diện tích đất lấn chiếm là 1.228,7m² thuộc lô số 2 bản đồ giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân tại xã C, ký hiệu trên mảnh trích đo là thửa số S2, thể hiện bởi các điểm nối liền 1,2,24,25.......33,34,35,15,16,17.....22,23,1. Giao Ủy ban nhân dân xã C, huyện Y diện tích đất 455,7m² thuộc lô số 4 bản đồ giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân tại xã C, ký hiệu trên mảnh trích đo là thửa số S1, thể hiện bởi các điểm nối liền: 2,3,4,....13,14,15,35,34,33,32,31,30,29,28,27,26,25,24,2 để UBND xã C quản lý theo quy định.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX tuyên về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
[1] Về quyền khởi kiện và thời hiệu khởi kiện:
Về quyền khởi kiện: bà Nguyễn Thị T xác định bà có quyền sử dụng đất và đang trồng cây trên đất thuộc lô đất số 02 và lô đất số 04 tại thôn H, xã C. Quá trình sử dụng đất bà cho rằng bị ông bà Xuân M1 chặt phá cây cối, lấn chiếm đất đai, quyền lợi của bà bị ảnh hưởng. Do đó bà T có quyền khởi kiện vụ án theo quy định tại điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thời hiệu khởi kiện: các bên đương sự không ai yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện, tranh chấp quyền sử dụng đất không giới hạn về thời hiệu khởi kiện nên vụ án không vi phạm về thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: bà T khởi kiện xác định ông bà Xuân M1 lấn chiếm quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại do cây trồng bị chặt phá, vì vậy quan hệ pháp luật tranh chấp xác định là: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: địa chỉ diện tích đất tranh chấp và địa chỉ cư trú của bị đơn đều thuộc xã H, huyện Y. Vì vậy, thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn theo quy định tại các điều 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] UBND xã C, ông Nguyễn Văn Đ1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn S, Mã Thị N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự trên theo quy định tại điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
* Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, HĐXX nhận định:
Về nguồn gốc, quá trình sử dụng diện tích đất tranh chấp: căn cứ kết quả xác minh tại UBND xã C, Công ty cổ phần L1, Ban di dân Tái định cư huyện Y, kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và các tài liệu chứng cứ khác xác định: diện tích đất tranh chấp theo đo đạc thực tế là 1.684,4m², thuộc lô số 2 (diện tích 1.228,7m²) và lô số 4 (diện tích 455,7m²), bản đồ giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân tại xã C. Toàn bộ diện tích đất tranh chấp trước đây thuộc quyền quản lý của Công ty cổ phần L1 (tiền thân trước năm 1998 là Lâm Trường T, từ năm 1998 đổi tên thành Lâm trường Nguyễn Văn T2; từ năm 2012 đến năm 2019 là Công ty TNHH MTV L1). Ngày 10/9/1993, Lâm trường T4 ký hợp đồng bảo vệ rừng và đất rừng trồng với các ông Nguyễn Duy Đ (chồng bà T), Nguyễn Hải Y, Đào Xuân N1, diện tích đất rừng bảo vệ thuộc các lô 1A, 1B, 5E, khoảnh số 1. Sau đó Lâm trường Tuyên Bình đổi tách thành Lâm trường Nguyễn Văn T2, diện tích đất trên thuộc quản lý của Lâm trường Nguyễn Văn T2. Ngày 06/7/2005, Lâm trường Nguyễn Văn T2 ký hợp đồng khoán trồng rừng sản xuất 264 với ông Nguyễn Duy Đ và ông Nguyễn Văn Y1, diện tích đất rừng khoán chuyển thành khoảnh 418, lô 13 (diện tích đất tranh chấp thuộc một phần lô đất này).
Tại quyết định số 325/QĐ- UBND ngày 12/8/2014 của UBND tỉnh T về việc thu hồi đất sản xuất lâm nghiệp để giao cho các hộ di dân thuộc dự án di dân tái định cư thủy điện T3 tại xã C, huyện Y đã thu hồi một phần diện tích đất của Công ty TNHH MTV L1 để giao đất cho các hộ di dân tái định cư. Trong đó có thu hồi thửa đất số 2, diện tích 126.567m² và thửa đất số 4, diện tích 6.007m², tờ bản đồ trích đo địa chính thu hồi đất tại xã C (là diện tích rừng trước đây ông X đã được giao khoán bảo vệ). Sau khi UBND tỉnh thu hồi đất, UBND huyện Y đã giao đất cho các hộ di dân tái định cư, trong đó hộ ông Nguyễn Văn L được giao lô đất số 2 (diện tích 16.387m²), bản đồ giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân tại xã C (theo biên bản giao đất ngày 17/6/2014). Giáp lô đất số 2 nêu trên là lô đất số 4 (diện tích 6.007m²), do thời điểm đó có tranh chấp về tài sản trên đất nên chính quyền địa phương chưa giao lô số 4 cho hộ gia đình nào sử dụng.
Kết quả thẩm định, đo vẽ chồng ghép bản đồ xác định diện tích đất tranh chấp là 1.684,4m² có một phần diện tích là 1.228,7m² thuộc lô số 2 (đã giao cho ông Nguyễn Văn L) và một phần diện tích là 455,7m² thuộc lô số 4 (diện tích đất chưa giao cho ai, hiện do UBND xã C được giao quản lý).
Về quá trình sử dụng đất: căn cứ lời khai của các đương sự, lời khai của các nhân chứng, kết quả xác minh tại UBND xã C; ý kiến của Công ty cổ phần L1, có cơ sở xác định ông bà Thìn Đ2 sử dụng diện tích đất tranh chấp trên từ khi ký hợp đồng bảo vệ rừng năm 1993 đến tháng 8 năm 2014. Sau khi UBND tỉnh thu hồi đất để giao các hộ dân tái định cư, diện tích trên do chưa giao cho ai nên ông bà Xuân M1 lấn chiếm sử dụng. Quá trình sử dụng đất, thời gia đầu ông bà Thìn Đông trồng cây sắn, sau đó trồng các cây khác như tre hóp, bồ đề, keo..... Đến năm 2015 thì ông bà Xuân M1 khai thác số cây trồng trên đất và trực tiếp sử dụng đất vào việc trồng cây keo, năm 2023 đã được khai thác 1 lần, hiện tại đã trồng cây keo lần 2 được hơn 1 năm tuổi.
Như vậy, mặc dù diện tích đất tranh chấp do hộ bà T và hộ ông X thay nhau sử dụng, nhưng các bên đều xác định nguồn gốc toàn bộ diện tích đất tranh chấp là của Công ty cổ phần L1, hiện tại UBND tỉnh T đã thu hồi, trong đó một phần giao cho hộ ông Nguyễn Văn L, một phần thuộc thửa đất do UBND xã quản lý, chưa giao cho hộ gia đình, cá nhân nào. Vì vậy yêu cầu khởi kiện đòi lại đất của bà Nguyễn Thị T, cũng như ý kiến của ông Nguyễn Văn X cho rằng diện tích đất tranh chấp là của ông X đều không có căn cứ xem xét.
[5] Xét yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu ông bà Xuân M1 phải bồi thường thiệt hại số cây trồng đã bị chặt phá là 8.400.000đ, HĐXX nhận định:
như đã phân tích, đánh giá tại mục [4] nêu trên, đủ cơ sở xác định, diện tích đất trên trước khi bị thu hồi thuộc quyền quản lý của Công ty cổ phần L1, tại đơn đề nghị ngày 14/4/2016 của ông Nguyễn Duy Đ, Công ty TNHH MTV L1 Nguyễn Văn T2 xác nhận nội dung “diện tích đất lâm nghiệp trong đơn đề nghị của ông Nguyễn Duy Đ thuộc công ty quản lý....giao khoán bảo vệ rừng và đất rừng; giao khoán trồng rừng 264 với gia đình ông Nguyễn Duy Đ từ tháng 9/1993 đến tháng 8/2014. Trong quá trình thực hiện hợp đồng gia đình ông Đ đã tự ý lấn chiếm trồng tre, hóp... trên phần diện tích của công ty G..…”, như vậy có cơ sở xác định số cây trồng tre, hóp, bồ đề và một số cây khác trên đất tranh chấp là do ông bà Thìn Đ2 trồng trong quá trình nhận hợp đồng bảo vệ rừng. Thời điểm ông bà Xuân M1 chặt phá số cây trên, công an và chính quyền địa phương có can thiệp nhưng không có tài liệu nào xác định cụ thể số lượng, khối lượng, chủng loại, đặc điểm, giá trị thành tiền đối với số cây đã bị chặt hạ. Vì vậy không có căn cứ để xác định giá trị thiệt hại là 8.400.000₫ như nguyên đơn yêu cầu. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bản thân ông bà Xuân M1 đều thừa nhận số cây chặt năm 2014 gồm có tre, hóp bán cho một người tên là H1 ở phường T được số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng), số tre, hóp này chính là số tre, hóp đã khai thác trên diện tích đất tranh chấp hiện nay. Ngoài ra khi khai thác còn được một số cây keo, cây bồ đề nhỏ khác bị đơn dùng làm củi đốt hiện không còn. Như vậy việc bà T yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản là có cơ sở chấp nhận, giá trị thiệt hại được xác định bằng giá trị mà bị đơn thừa nhận.
[6] Xét yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn L, HĐXX nhận định:
Như đã phân tích tại mục [4], diện tích đất tranh chấp có 01 phần diện tích là 1.228,7m² thuộc lô số 2, bản đồ giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân tại xã C. Lô đất này đã được chính quyền địa phương giao cho ông Nguyễn Văn L tại biên bản giao đất ngày 17/6/2014. Sau khi được giao đất, ông L đã sử dụng lô đất số 02 để trồng rừng theo quy định. Đối với phần diện tích đất tranh chấp ở cuối chân lô số 2, do gia đình ông bà Thìn Đ2 và ông bà Xuân M1 tranh chấp cả về đất và tài sản trên đất nên gia đình ông L chưa sử dụng đến. Đây là tư liệu sản xuất cho các hộ gia đình di dân tái định cư, đã được giao hợp pháp đúng quy định. Vì vậy yêu cầu độc lập của ông L có căn cứ chấp nhận, cần buộc ông bà Xuân M1 phải khai thác số cây trồng trên đất để trả lại cho ông Nguyễn Văn L diện tích đất trên.
[7] Đối với phần diện tích đất thuộc UBND xã C quản lý là 455,7m² thuộc thửa đất số 2. Hiện nay ông bà Xuân M1 đang quản lý sử dụng, cần buộc ông bà Xuân M1 phải khai thác số cây trồng trên đất để giao lại cho UBND xã C tiếp tục quản lý sử dụng đất theo quy định.
[8] Về giá trị đất và tài sản trên đất:
kết quả thẩm định, định giá xác định diện tích đất tranh chấp là đất rừng sản xuất thuộc khu vực 1, vị trí 4, các đương sự thống nhất giá đất theo khung giá nhà nước là 12.000đ/1 m² x 1.684.4m² = 20.212.800 đồng. Cây trồng trên đất hiện tại là cây keo hơn 1 năm tuổi, các đương sự xác định giá trị cây trồng là 30.000.000đ. Không yêu cầu Tòa án định giá tài sản. Khi xảy ra tranh chấp chính quyền địa phương đã lập biên bản yêu cầu các bên giữ nguyên hiện trạng trong thời gian giải quyết tranh chấp, bên nào vi phạm bên đó tự chịu trách nhiệm. Vì vậy ông bà Xuân M1 phải tự khai thác di chuyển số cây trên đất tranh chấp để giao lại đất cho ông Nguyễn Văn L và cho UBND xã quản lý. Trường hợp ông bà Xuân M1 không khai thác, di chuyển thì UBND xã C và ông Nguyễn Văn L được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án cho phá dỡ bỏ mà không phải bồi thường.
[9] Về chi phí thẩm định, định giá tài sản:
tổng chi phí đo đạc, thẩm định tài sản là 5.774.000 đồng. Yêu cầu khởi kiện đòi quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị T không được chấp nhận nên bà T phải chịu chi phí thẩm định, ghi nhận bà T đã nộp đủ số tiền trên.
[10] Về án phí dân sự sơ thẩm:
yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại của bà T được chấp nhận nên bà T không phải chịu án phí đối với yêu cầu này. Yêu cầu đòi lại quyền sử dụng đất không được chấp nhận nên bà T phải chịu khoản tiền án phí đối với phần yêu cầu không được chấp nhận là 300.000đ nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 885.000đ. Trả lại bà T số tiền tạm ứng án phí đã nộp còn lại là 585.000đ. Ông bà Xuân M1 phải chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với số tiền phải bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T và án phí dân sự không có giá ngạch đối với tranh chấp quyền sử dụng đất theo yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn L. Yêu cầu độc lập của ông L được chấp nhận nên ông L không phải chịu án phí. Do ông X và bà M1 đều là người cao tuổi đề nghị được miễn án phí nên được miễn toàn bộ tiền án phí.
[11] Về quyền kháng cáo:
các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, các điều 35, 39, 147, 157, 165, 227, 228, 235, 264, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 4, 5, 26, 166, 170 Luật đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Văn X và bà Trịnh Thị M về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Buộc ông Nguyễn Văn X và bà Trịnh Thị M phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho bà Nguyễn Thị T số tiền là 5.000.000đ (năm triệu đồng). Chia ra ông X và bà M mỗi người phải trả cho bà T số tiền là 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Văn X và bà Trịnh Thị M về việc yêu cầu ông bà Xuân M1 phải trả lại diện tích đất lấn chiếm là 1.684,4m², thuộc lô số 2 và lô số 4 bản đồ giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân tại xã C, huyện Y.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn L đối với ông Nguyễn Văn X và bà Trịnh Thị M về việc Tranh chấp quyền sử đụng đất.
Buộc ông Nguyễn Văn X và bà Trịnh Thị M phải trả lại cho ông Nguyễn Văn L diện tích đất lấn chiếm là 1.228,7m² thuộc lô số 2 bản đồ giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân tại xã C, ký hiệu trên mảnh trích đo là thửa số S2, thể hiện bởi các điểm nối liền: 1, 2, 24, 25.......33, 34, 35, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 1.
Ủy ban nhân dân xã C, huyện Y tiếp tục quản lý diện tích đất 455,7m² thuộc lô số 4, bản đồ giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân tại xã C, ký hiệu trên mảnh trích đo là thửa số S1, thể hiện bởi các điểm nối liền: 2,3,4,....13,14,15,35,34,33,32,31,30,29,28,27,26,25,24,2.
Buộc ông Nguyễn Văn X và bà Trịnh Thị M phải khai thác, di chuyển toàn bộ số cây trồng trên diện tích đất trả lại cho ông Nguyễn Văn L và diện tích đất giao UBND xã C quản lý. Trường hợp ông bà Xuân M1 không tự khai thác thì ông L và UBND xã C có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phá bỏ mà không phải bồi thường.
(Sơ đồ mảnh trích đo hiện trạng thửa đất trả lại ông L và giao UBND xã C quản lý được đính kèm theo bản án và là phần không tách rời bản án).
Ông Nguyễn Văn L có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
- Về chi phí tố tụng: bà Nguyễn Thị T phải chịu số tiền chi phí thẩm định là 5.774.000 đồng (năm triệu bẩy trăm bẩy mươi bốn nghìn đồng). Ghi nhận bà T đã nộp đủ số tiền trên trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về án phí: ông Nguyễn Duy Đ, ông Nguyễn Văn X và bà Trịnh Thị M đều được miễn án phí do là người cao tuổi. Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000₫ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Trả lại bà T số tiền tạm ứng án phí còn lại là 585.000đ (năm trăm tám mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004424 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần nội dung bản án có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06/9/2024). Những người vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
"Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự"./.
|
Nơi nhận :
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Toàn |
Bản án số 115/2024/DS- ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG về tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Số bản án: 115/2024/DS- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
